Đánh giá thực trạng nghèo thông qua phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều và giải pháp giảm nghèo bền vững tại xã Quế Tân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. - Pdf 29



1

I HC THI NGUYấN
TRNG I HC NễNG LM NGUYN TH VN

Tờn ti:
Đánh giá thực trạng nghèo thông qua phơng pháp
tiếp cận nghèo đa chiều và giải pháp giảm nghèo bền vững
tại xã Quế Tân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

KhóA LUậN tốt nghiệp ĐạI HọC
H o to : Chớnh quy
Chuyờn ngnh : Kinh t Nụng nghip
Khoa : KT - PTNT

KhóA LUậN tốt nghiệp ĐạI HọC
H o to : Chớnh quy
Chuyờn ngnh : Kinh t Nụng nghip
Lp : K42 - KTNN - N02
Khoa : KT - PTNT
Khoỏ hc : 2010-2014
Ging viờn hng dn : Ths. Nguyn Mnh Thng Thỏi Nguyờn, nm 2014 3

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước tiên tôi xin trân trọng
cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh Tế & Phát Triển
Nông Thôn, cảm ơn các thầy cô giáo đã truyền đạt cho tôi những kiến thức
quý báu trong xuốt quá trình học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên.
Tôi đặc biệt xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của Th.s
Nguyễn Mạnh Thắng - Giảng viên khoa Kinh Tế & Phát Triển Nông Thôn
đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập để hoàn thành tốt Khóa luận tốt
nghiệp này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đồng chí cán bộ, Đảng viên,
UBND xã Quế Tân cùng các hộ nông dân xã Quế Tân đã tạo điều kiện thuận
lợi cho tôi hoàn thành công việc trong thời gian thực tập tại địa phương.

thực tiễn và kinh nghiệm hiện có. Một lần nữa tôi xin khẳng định về sự trung
thực của lời cam đoan trên. Thái nguyên, ngày…tháng…năm 2014
Sinh viên Nguyễn Thị Vân
5

DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT

BQ : Bình quân
BVTV : Bảo vệ thực vật


Bảng 2.2: Kích thước sử dụng trong chỉ số nghèo đa chiều 11

Bảng 3.1: Chỉ tiêu số lượng mẫu điều tra. 22

Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai của xã Quế Tân năm 2011 - 2013 25

Bảng 4.2: Tình hình dân số và lao động xã Quế Tân năm 2011 - 2013 27

Bảng 4.3: Kết quả sản xuất các ngành kinh tế ở xã Quế Tân năm 2011 - 2013
30

Bảng 4.4: Tình hình thu nhập bình quân của xã Quế Tân các năm 2011 - 2013
31

Bảng 4.5: Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo trong xã các năm 2011 - 2013: 33

Bảng 4.6: Tình hình nhân khẩu, lao động và dân tộc của các hộ năm 2013 35

Bảng 4.7: Đặc điểm bằng cấp cao nhất của 1 thành viên trong gia đình của các
hộ điều tra năm 2013: 37

Bảng 4.8: Tình hình giáo dục của các hộ điều tra năm 2013 38

Bảng 4.9: Tình hình sức khỏe các hộ điều tra năm 2013 39

Bảng 4.10: Đặc điểm về tiếp cận nguồn vốn của 60 hộ điều tra: 40

Bảng 4.11: Số hộ thuê đất canh tác nông nghiệp năm 2013 41
Bảng 4.12: Đặc điểm về kiểu nhà của các hộ điều tra năm 2013 42


1.4. Bố cục của đề tài 3

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4

2.1. Cơ sở lý luận 4

2.1.1. Khái niệm nghèo 4

2.1.2. Chuẩn mực xác định nghèo đói 5

2.1.3. Khái niệm nghèo đa chiều 8

2.1.4. Chuẩn nghèo đa chiều 10

2.1.5. Các quan niện về giảm nghèo bền vững 13

2.1.6. Các khía cạnh của đói nghèo 15

2.2. Cơ sở thực tiễn 17

2.2.1. Đặc điểm nghèo đói ở nước ta 17

CHƯƠNG 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 20

3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 20



4.2.1. Tình hình nghèo đói của xã Quế Tân 33

4.2.2. Tình hình nghèo của các hộ điều tra 34

4.2.3. Đánh giá nghèo thông qua tiếp cận đơn chiều 47

4.2.5. So sánh tỷ lệ hộ nghèo của phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều với
nghèo đơn chiều 49

4.2.6. Phân loại các nhóm đối tượng nghèo đa chiều và nguyên nhân nghèo
50

4.2.7. Phân tích SWOT đối với quá trình giảm nghèo bền vững 54

4.2.8. Giải pháp giảm nghèo bền vững tại xã Quế Tân, huyện Quế Võ, tỉnh
Bắc Ninh 56

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61

1. Kết luận 61

2. Kiến nghị 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
1


nguy cơ tái nghèo cao. Do vậy, cần có một chương trình thoát nghèo một cách 2

nghiêm túc và khoa học. Chúng ta không nên nhìn nghèo chỉ với một khía cạnh
đó là theo thu nhập, không xem nghèo là một hiện tượng đơn lẻ mà là hiện tượng
đa khía cạnh, phức tạp, chồng chéo bao gồm nhiều yếu tố khác nhau. Phương
pháp đo lường nghèo đổi từ đơn chiều (theo thu nhập) sang đa chiều để tăng độ
bao phủ chính sách tới các đối tượng. Trong thời kì đổi mới, hội nhập kinh tế thế
giới, nền kinh tế Bắc Ninh, nền kinh tế huyện Quế Võ, cũng như nền kinh tế xã
Quế Tân có những chuyển đổi rất mạnh theo hướng CNH - HĐH. Vấn đề cấp
thiết cần được đề ra là nghiên cứu, phân tích, đánh giá nghèo một cách đúng đắn,
từ đó đưa ra các phương pháp để phát huy các thế mạnh và hạn chế các thế yếu,
nhằm đưa xã Quế Tân thoát nghèo bền vững có hiệu quả. Hiện nay, các nghiên
cứu về nghèo đa chiều hầu như chưa có. Vì vậy, để hệ thống hóa cũng như đánh
giá được thực trạng nghèo theo hướng đa chiều là rất cần thiết.
Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng
nghèo thông qua phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều và giải pháp giảm
nghèo bền vững tại xã Quế Tân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh”.
1.2. Mục tiêu của đề tài nghiên cứu
* Mục tiêu chung:
Trên cơ sở đánh giá thực trạng nghèo tại địa bàn xã Quế Tân, thông
qua tiếp cận nghèo đa chiều đưa ra phân tích, đánh giá nghèo một cách chính
xác. Từ đó rút ra các giải pháp cụ thể nhằm giảm nghèo bền vững tại xã Quế
Tân. Góp phần cho việc giảm nghèo, thoát nghèo và tránh tái nghèo.
* Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá được thực trạng nghèo của xã Quế Tân thông qua phương
pháp tiếp cận nghèo đơn chiều và đa chiều.
- Phân tích được các nhân tố ảnh hưởng tới nghèo trong địa bàn xã Quế Tân.

xã. Từ đó, nắm bắt được nhu cầu, mong muốn của các hộ và đề ra các giải
pháp giải quyết các nhu cầu trước mắt của người dân. Góp phần thúc đẩy kinh
tế, văn hóa, giáo dục của địa phương, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời
sống người dân trên địa bàn xã.
1.4. Bố cục của đề tài
Chương 1: Đặt vấn đề
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Kết luận và kiến nghị
4

CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Khái niệm nghèo
Việt Nam thừa nhận quan điểm về đói nghèo của Hội nghị chống đói
nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Kok -
Thái Lan vào tháng 9/1993. Khái niệm đói nghèo được thể hiện như sau:
“Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư không được hưởng và
thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà các nhu cầu này đã được
xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập
quán của từng địa phương” (Nguyễn Thị Bình và cs, 2006) [1].
Nói một cách cụ thể hơn, nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư có
mức sống ở mức tối thiểu, không thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người.
Nhu cầu cơ bản ở đây chính là cái thiết yếu, cái tối thiểu để duy trì sự tồn tại
của con người. Nhu cầu ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp, v.v…

Tóm lại: Những quan niệm về nghèo đói do các cách tiếp cận khác nhau nên
có những ý kiến khác nhau, nghèo là một khái niệm tương đối và có tính biến đổi.
Các chỉ số xác định giới hạn nghèo không phải là cứng nhắc và bất biến. Nó biến
đổi tùy theo sự chênh lệch, sự khác biệt giữa các vùng, miền, quốc gia.
2.1.2. Chuẩn mực xác định nghèo đói
* Chuẩn mực xác định nghèo đói trên thế giới:
Để đánh giá nghèo đói Liên hợp quốc (UNDP) dùng cách tính dựa trên
cơ sở phân phối thu nhập cho từng cá nhân hoặc hộ gia đình nhận được trong
thời gian nhất định. Nó không quan tâm đến nguồn mang lại thu nhập hay môi
trường sống của dân cư mà chia đều cho mọi thành phần dân cư. Phương
pháp tính là: Đem chia dân số của 1 nước, 1 châu lục hoặc toàn cầu ra làm 5
nhóm, mỗi nhóm có 20% dân số bao gồm: rất giàu, giàu, trung bình, nghèo,
rất nghèo. Theo cách tính này vào những năm 1990 thì 20% dân số giàu nhất 6

chiếm 82,7% thu nhập toàn thế giới, trong khi 20% người nghèo nhất chỉ
chiếm 1,4% thu nhập toàn thế giới.
Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ
giàu nghèo của các quốc gia dựa vào thu nhập quốc dân bình quân tính theo
đầu người trong một năm với cách tính đó là: Phương pháp Atlas tức là tính
theo tỷ giá hối đoái và tính theo USD.
Theo phương pháp Atlas, năm 1990 người ta chia mức bình quân của
các nước trên toàn thế giới làm 6 loại:
+ Trên 25.000USD/người/năm là nước cực giàu.
+ Từ 20.000 dến dưới 25.000UDS/người/năm là nước giàu.
+ Từ 10.000 đến dưới 20.000USD/người/năm là nước khá giàu.
+ Từ 2.500 đến dưới 10.000USD/người/năm là nước trung bình.
+ Từ 500 đến dưới 2.500USD/người/năm là nước nghèo.

(Mức thu nhập
quy ra gạo)
Đói (KV nông thôn) Dưới 8 KG
Đói (KV thành thị) Dưới 13 KG
Nghèo (KV nông thôn) Dưới 15 KG
Nghèo (KV thành thị) Dưới 20 KG
1996 - 2000
(Mức thu nhập
quy ra gạo tương
đương với số
tiền)
Đói (tính cho mọi KV) Dưới 13 KG ( 45.000 đồng)

Nghèo (KV nông thôn,
miền núi, hải đảo)
Dưới 15 KG (55.000 đồng)
Nghèo (KV nông thôn,
đồng bằng trung du)
Dưới 20 KG (70.000 đồng)
Nghèo (KV thành thị) Dưới 25 KG (90.000 đồng)
2001 - 2005
(Mức thu nhập
tính bằng tiền)
Nghèo (KV nông thôn,
miền núi hải đảo)
Dưới 80.000 đồng
Nghèo (KV nông thôn,
đồng bằng trung du)
Dưới 100.000 đồng
Nghèo (KV thành thị) Dưới 150.000 đồng

Nghèo đa chiều (multidimensional poverty): Đã ra đời trong đó xác
định rõ nghèo không hẳn chỉ là đói ăn, thiếu uống hoặc thiếu các điều kiện
sống, sinh hoạt khác mà nghèo đói còn được gây ra bởi các rào cản về xã hội
và các tác nhân khác ngăn chặn những cá nhân hoặc cộng đồng tiếp cận với
các dịch vụ về: sức khỏe, giáo dục và mức sống. Như vậy, sự nghèo khó
không chỉ đơn thuần là một cá thể mà nó bao gồm các yếu tố kìm hãm cá thể
đó không tiếp cận được các nguồn lực hoặc không biết và không thể tìm ra
các giải pháp cho bản thân để thoát ra khỏi tình trạng hiện có [13].
Chưa có định nghĩa thống nhất về khái niệm nghèo đa chiều, nhưng nó có
đặc tính cơ bản là: không nhìn nghèo với con mắt một chiều mà nhiều chiều;
không xem nghèo là một hiện tượng đơn lẻ mà là hiện tượng đa khía cạnh, phức
tạp, chồng chéo, bao gồm nhiều yếu tố khác nhau. Nghèo đa chiều là sự thiếu
hụt tổng hợp của hai hay nhiều loại vốn khác nhau của một người hoặc nhóm
người: vốn sức khoẻ, vốn tâm lý, vốn thông tin, vốn con người, vốn tài chính,
vốn vật chất, vốn tự nhiên…. Ta sẽ đi tìm hiểu về từng loại vốn để thấy được tầm
quan trọng của chúng và có các biện pháp giảm nghèo thích hợp [13].
* Vốn tự nhiên (natural capital): NN chính là hoạt động chủ yếu
trong nông thôn. Vì vậy, vốn tự nhiên là tài sản vô cùng quan trọng. Bao gồm 9

đất đai và nguồn nước tưới tiêu. Thiếu vốn tự nhiên có nghĩa là thiếu hoặc
không có đất hoặc có nhưng đất đai cằn cỗi, không thể canh tác được. Thiếu
vốn tự nhiên tức là thiếu tư liệu sản xuất và kìm hãm sự phát triển kinh tế
(Trần Tiến Danh, Nguyễn Ngọc Danh, 12/2012) [2].
* Vốn vật chất (physical capital): Vốn vật chất của hộ được chia làm
3 nhóm là tài sản sản xuất, tài sản tiêu dùng và một số chỉ số khác như điều
kiện nhà ở, điện nước sạch và nhà vệ sinh. Diện tích nhà ở, giá trị nhà ở và
kiểu nhà là các biến đại diện cho điều kiện nhà ở. Sự hiện diện của vườn

là thiếu hụt đi nền tảng để thích ứng được với cuộc sống của xã hội (Trần Tiến
Danh, Nguyễn Ngọc Danh, 12/2012) [2].
* Vốn tâm lý (psychological capital):

Tâm lý cũng là một loại vốn. Điều
này có vẻ mới lạ. Chúng ta thường nghĩ vốn là tiền bạc, là vật chất, là đất đai.
Nhưng không nghĩ rằng tâm lý là một loại vốn. Chính những chuyên gia của
Ngân hàng Thế giới như Alsop và Đồng sự (2005) cũng công nhận tâm lý đóng
vai trò rất quan trọng trong “khả năng nhận biết thay đổi”. Thiếu hụt tâm lý,
dẫn tới đánh mất sự tự tin, khả năng dám tham gia, dám thay đổi những cái lạc
hậu hay khả năng chuyển đổi những sự lựa chọn của mình thành hiện thực
(Trần Tiến Danh, Nguyễn Ngọc Danh, 12/2012) [2].
* Vốn thông tin (capital information): Cũng như vốn tâm lý, thông tin
thường không được xem là một tài sản. Nhưng đó là một sai lầm. Thông tin là
sức mạnh. Nó càng quan trọng hơn trong thời đại công nghệ thông tin, nơi mà
thông tin được bán như các hàng hoá khác. Vốn thông tin ở một người, nhóm
người chính là ở khả năng được nghe, biết thông tin từ các kênh truyền thông
như radio, loa phát thanh của xã, huyện, tờ thông tin, ti vi, mạng internet,
v.v, Có được thông tin chính là có được khả năng để hiểu và tham gia vào
chương trình, dự án

(Trần Tiến Danh, Nguyễn Ngọc Danh, 12/2012) [2].
2.1.4. Chuẩn nghèo đa chiều
Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index - MPI) được tổ
chức Sáng kiến phát triển con người và nghèo đói của Đại học Oxford (OPHI)
cùng UNDP sử dụng trong Báo cáo Phát triển Con người (Human
Development Report), công bố vào ngày 02/11/2011. Chỉ số MPI được xây
dựng dựa trên phương pháp luận của Alkire và Foster (2007) bao gồm ba
chiều đo lường là sức khỏe, giáo dục và mức sống với 10 chỉ báo với các
trọng số khác nhau [10].

Tài sản
(Nguồn: Báo cáo Phát triển Con người, 2011)
Mỗi chỉ số trong một chiều hướng là bằng nhau tương ứng với mỗi
trọng số trong chiều khác nhau.
Công thức tính chỉ số MPI: MPI = H x A
H: Tỷ lệ % những người nghèo đa chiều trong một cộng đồng (tỷ lệ nghèo
đói đa chiều).
A: Cường độ trung bình thiếu hụt các chỉ số của những người nghèo đa
chiều (%). Biểu thị tỷ lệ các chỉ số trong đó bị thiếu hụt. A càng lớn thì tỷ lệ thiếu
hụt các chỉ số càng cao.
Các chỉ số mười sau đây được sử dụng để tính chỉ số MPI:
* Giáo dục (mỗi chỉ số có trọng số bằng nhau ở 1/6):
1. Năm học: Bị thiếu 1/6 trọng số nếu không có thành viên nào trong hộ
gia đình đã hoàn thành cấp độ tiểu học.
2. Trẻ em đi học: Bị thiếu 1/6 trọng số nếu trong gia đình có độ tuổi đi
học ở trẻ em không được đi học đến lớp 9.
* Sức khỏe (mỗi chỉ số có trọng số bằng nhau ở 1/6): 12
3. Tỷ lệ tử vong trẻ em: Bị thiếu 1/6 trọng số nếu có trẻ em đã chết
trong gia đình.
4. Dinh dưỡng: Bị thiếu1/6 trọng số nếu trong gia đình có trẻ em
hoặc người lớn mắc các bệnh hiểm nghèo hoặc trong gia đình có trẻ em bị
suy dinh dưỡng.
* Mức sống (mỗi chỉ số có trọng số bằng nhau ở 1/18):
5. Điện: Bị thiếu 1/18 trọng số nếu hộ gia đình không có điện.
6. Nhà vệ sinh: Bị thiếu 1/18 trọng số nếu nhà vệ sinh của hộ gia
đình chưa được cải thiện hoặc cải thiện nhưng không đảm bảo. Nhà vệ sinh
đảm bảo theo quy định của Bộ Y tế (QĐ 08/2005/QD-BYT), bao gồm các

không sở hữu một chiếc xe hơi hoặc xe tải nào. Là những hộ rất nghèo nàn về
tài sản tiêu dùng, tài sản của hộ rất thô sơ và kém chất lượng, nhu cầu sinh
hoạt rất thấp và vô cùng thiếu thốn.
Tổng thiếu hụt của tất cả các chỉ số trong nghèo đa chiều là 100%, một
người được coi là nghèo đa chiều nếu họ bị thiếu trong ít nhất 33,33% của các
chỉ số có trọng số.

Cường độ nghèo đa chiều biểu thị tỷ lệ của các chỉ số trong
đó họ bị thiếu hụt [10].
Chỉ số nghèo đa chiều bao quát được trực tiếp hơn sự túng thiếu, tổn
thất trong các tác động đến sức khỏe, giáo dục và mức sống thiết yếu như
nước sạch, vệ sinh, điện, năng lượng…. Ở một số nước các nguồn này được
cung cấp miễn phí hoặc với một giá rất thấp trong khi một số nơi chúng trở
nên vượt quá mức so với thu nhập của người lao động [10].
Các nhà nghiên cứu của OPHI (Oxford Poverty and Human Development
Initiative) đã thống kê số liệu từ 104 nước với dân số khoảng 5,2 tỷ người
(chiếm 78% tổng dân số toàn cầu), có khoảng 1,7 tỷ người đang sống trong tình
trạng nghèo khổ đa chiều (chiếm khoảng 1/3 tổng dân số). Con số này vượt quá
1,3 tỷ người cùng ở các nước này nếu tính theo ngưỡng 1,25USD/ngày - phương
pháp được chấp nhận phổ biến đo lường nghèo cùng cực [12].
2.1.5. Các quan niện về giảm nghèo bền vững
Nghèo bền vững (sustainable poverty): Khi đã có thế xác định được
các vấn đề của nghèo khó hay của “những người sống trong nghèo khó” thì
các Quốc gia, trong nỗ lực XĐGN của mình thường áp dụng các giải pháp
cho các nhóm đối tượng cụ thể sau đây: 14
Nhóm thứ nhất: Những người có trong tay nhiều tài nguyên hơn, chấp
nhận các mạo hiểm, bóc lột tài nguyên và lờ đi các rủi ro để đạt được lợi nhuận
15
bão thì mô hình này sẽ dần dần bị phá sản bởi một lý do rất đơn giản. Do các
nước khác tiến quá nhanh nên nếu bạn tiến chậm hoặc không tiến thì bạn sẽ
giống như đi thụt lùi và trở nên tụt hậu [11].
Cần phải có một giải pháp dung hòa để đảm bảo đất nước ta vẫn tiến
lên theo hướng bền vững hơn, nhưng tài nguyên không bị cạn kiệt nhanh
chóng và khái niệm bền vững sẽ có thể được hiểu như là đích đến của quá
trình thoát nghèo. Khi một cộng đồng hay một cá thể nào đó thoát khỏi tình
trạng nghèo khó thì sự thoát nghèo đó phải thực sự bền vững thông qua việc
nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc của thị trường trong bất cứ
hoàn cảnh nào, thoát nghèo 1 cách bền vững, khó có thể tái nghèo trở lại. Các
hộ thoát nghèo phải vươn lên ở mức khá, tỷ lệ hộ cận nghèo giảm, khoảng
cách giàu nghèo được thu hẹp. Có như vậy các nỗ lực thoát nghèo mới thực
sự hữu ích và người dân sẽ không bị quay trở lại ranh giới nghèo một cách dễ
dàng khi thiên tai, dịch bệnh xảy ra.
2.1.6. Các khía cạnh của đói nghèo
* Về thu nhập: Đa số những người nghèo thường có cuộc sống khó
khăn cực khổ, mức thu nhập thấp, điều này do tính chất công việc đem lại.
Người nghèo thường làm những công việc đơn giản, lao động chân tay nhiều,
công việc cực nhọc nhưng thu nhập lại thấp. Hơn thế nữa, công việc thường
bấp bênh, không ổn định, công việc phụ thuộc vào thời vụ và có tính rủi ro
cao, liên quan đến thời tiết (chẳng hạn mưa, lũ lụt, hạn hán, v.v…). Các nghề
thuộc về nông, lâm, ngư nghiệp là những ví dụ cho vấn đề này. Do thu nhập
thấp, việc chi tiêu trong cuộc sống gia đình trở nên hạn chế. Hầu hết, các nhu
cầu cơ bản tối thiểu của con người như ăn, mặc, ở chỉ được đáp ứng với mức
độ rất thấp, thậm trí là không đủ. Điều này đã kéo theo hàng loạt các vấn đề
khác như làm giảm sức khỏe, do đó làm giảm năng xuất lao động, giảm thu
nhập. Cứ như thế, nó đã tạo nên vòng luẩn quẩn của đói nghèo, mà người

tới bản thân cũng như gia đình của họ trong tương lai. Nhưng do thu nhập
quá thấp, không đủ trang trải học phí, viện phí đành phải chấp nhận để con
cái thôi học, người bệnh không được khám chữa chạy kịp thời và đúng mức.
Ở người nghèo, nguy cơ dễ bị tổn thương là nhân tố luôn đi kèm với
sự khó khăn về vật chất lẫn con người. Nguy cơ đó là họ phải đối mặt với
nhiều loại rủi do, bị đánh đập, thiên tai, bị thôi học, bị thôi việc. Nói cách
khác, những rủi do mà người nghèo phải đối mặt do tình trạng nghèo hèn
của họ chính là nguyên nhân khiến họ dễ bị tổn thương. Khi có rủi do như 17
mất mùa, gia đình có người ốm đau, phải chạy chữa một khoản tiền lớn hay
bị thất nghiệp, v.v… họ dễ rơi vào tình trạng khủng hoảng làm đảo lộn cuộc
sống gia đình phải mất một thời gian sau mới có thể khắc phục được. Nguy
cơ dễ bị tổn thương đã tạo nên 1 tâm lý chung của người nghèo là sự đối mặt
với rủi do. Vì vậy, người nghèo luôn né tránh với những vấn đề mang tính
rủi ro cao, kể cả khi điều đó có thể đem lại nhiều lợi ích cho họ nếu thành
công (ví dụ như khi đầu tư vào giống lúa mới, áp dụng KH – CN vào sản
xuất NN, v.v…), chính vì điều này làm cho người nghèo tách biệt với xã hội,
bị cô lập với guồng quay của thị trường và làm cho cuộc sống của họ càng
trở nên bần cùng hơn (Nguyễn Vũ Phúc) [3].
* Không có tiếng nói và quyền lực
Người nghèo thường bị đối xử không công bằng, bị gạt ra ngoài lề của
xã hội, do vậy họ thường không có tiếng nói quyết định trong các công việc
chung của cộng đồng cũng như các công việc liên quan đến chính bản thân.
Thường có tâm lý sống phụ thuộc, nơm nớp lo sợ mọi thứ, trở nên tự ty
không kiểm soát được cuộc sống của mình. Đó chính là nguyên nhân không
có tiếng nói và quyền lực đem lại. Không có tiếng nói còn thể hiện ở những
người phụ nữ bị đối xử bất bình đẳng trong chính gia đình (Nguyễn Vũ
Phúc) [3].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status