ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN NGÔ THỊ LINH NHÂM
Tên đề tài:
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THU NHẬP CỦA
HỘ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ BÁ XUYÊN, THỊ XÃ SÔNG CÔNG
TỈNH THÁI NGUYÊN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành
Hệ đào tạo
Khoa
Khóa học
Giảng viên hướng dẫn: Kinh tế nông nghiệp
: Chính quy
: Kinh tế & Phát triển nông thôn
: 2010 – 2014
: ThS. Đặng Thị Thái
Ngô Thị Linh Nhâm DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT Từ, cụm từ viết tắt Nghĩa
BQ Bình quân
ĐVT Đơn vị tính
Kg Kilogam
LĐ Lao động
UBND Ủy ban nhân dân
KHKT Khoa học kĩ thuật
NTM Nông thôn mới
1.1.3. Vai trò của kinh tế hộ nông dân 5
1.1.4. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế hộ
nông dân 6
1.1.5. Khái niệm về thu nhập 8
1.2. Cơ sở thực tiễn 8
1.2.1. Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ ở các nước trên thế giới 8
1.2.2. Tình hình phát triển kinh tế hộ ở Việt Nam 15
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1. Đối tượng nghiên cứu 20
2.2. Phạm vi nghiên cứu 20
2.2.1. Phạm vi về thời gian 20
2.2.2. Phạm vi về không gian 20
2.2.3. Nội dung nghiên cứu 20
2.3. Câu hỏi nghiên cứu 20
2.4. Phương pháp nghiên cứu 20
3.3.1. Tuổi và số lượng lao động 36
3.3.2. Tình hình đất đai của các hộ được điều tra 37
3.3.3. Trình độ của các chủ hộ điều tra 39
3.3.4. Đầu tư chi phí cho sản xuất của các hộ điều tra 40
3.3.5. Kết quả sản xuất kinh doanh của nhóm hộ điều tra 45
3.4. Mối quan hệ giữa thu nhập và các nhân tố tác động đến phát triển kinh tế
hộ 48
Chương 4 PHƯƠNG HƯỚNG – MỤC TIÊU – GIẢI PHÁP 53
4.1. Phương hướng – Mục tiêu 53
4.1.1. Phương hướng 53
4.1.2. Mục tiêu 53
4.2. Các giải pháp cho địa phương 54
4.3. Các giải pháp cho hộ nông dân 55
4.3.1. Về nguồn nhân lực 55
4.3.2. Giải pháp về hoạt động tạo thu nhập 56
Bảng 3.10. Chi phí chăn nuôi lợn trung bình/hộ năm 2013 42
Bảng 3.11. Tổng hợp chi phí/ hộ năm 2013 43
Bảng 3.12. Kết quả sản xuất lúa trên 1 hộ năm 2013 45
Bảng 3.13. Bảng tổng hợp kết quả chăn nuôi năm 2013 46
Bảng 3.14. Thu nhập của các hộ điều tra theo nhóm 47
Bảng 3.15. Kết quả hồi quy 49
Bảng 3.16. ANOVA 50
Bảng 3.17. Hệ số co dãn (hồi quy) giữa tổng thu với các yếu tố cơ bản tác
động đến thu nhập của hộ năm 2013 50 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Biểu đồ khảo sát thu nhập của hộ………… ……………34
Biểu đồ 3.2. Cơ cấu chi phí các nhóm hộ theo ngành…………………44
Biểu đồ 3.3. Cơ cấu thu nhập các nhóm hộ theo ngành…………… 47
sống ở nông thôn. Đây là vấn đề cần được quan tâm giải quyết để thực hiện
tính công bằng trong phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ
nghĩa.
Kinh tế hộ có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế, nhất là
trong nông nghiệp. Ở Việt Nam, kinh tế hộ lại càng có ý nghĩa to lớn, bởi vì
nước ta bước vào nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hoạt động theo cơ
chế thị trường trên nền tảng hơn 70% dân số đang sinh sống ở nông thôn.
Xuất phát điểm để tạo cơ sở vật chất tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa
lại đi từ nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, quản lý theo kế
hoạch hóa tập trung, bao cấp. Do đó thách thức đặt ra hiện nay là nâng cao
thu nhập cho người dân, phát triển kinh tế hộ, góp phần nâng cao chất lượng
2
cuộc sống của vùng nông thôn và giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo giữa nông
thôn và thành thị.
Xã Bá Xuyên là một trong những xã của Thị xã Sông Công đang trong
tiến trình thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn
mới giai đoạn 2010 - 2020. Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông
thôn mới thực sự là cơ hội để phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Để biến cơ hội ấy thành hiện thực, cần có cách nhìn, cách tiếp cận đúng đắn,
nhất là phát triển sản xuất nâng cao thu nhập cho người dân.
Xuất phát từ thực tiễn đó, em đã lựa chọn đề tài: “Phân tích các nhân tố
tác động đến thu nhập của hộ trên địa bàn xã Bá Xuyên, Thị xã Sông Công,
tỉnh Thái Nguyên”. Nhằm vận dụng các kiến thức đã học vào trong thực tiễn
và tìm hiểu, đưa ra các giải pháp để phát triển các tiềm năng sẵn có, khắc
phục những khó khăn để nâng cao thu nhập cho hộ.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Đề tài phân tích các yếu tố tác động tới thu nhập của các hộ nông dân
trên địa bàn xã Bá Xuyên, thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Từ đó đề xuất
4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1. Khái niệm về hộ
Hộ đã có từ rất lâu đời, cho đến nay nó vẫn tồn tại và phát triển. Có rất
nhiều khái niệm khác nhau về hộ:
Martin (1988) cho rằng: Hộ là đơn vị cơ bản liên quan đến sản xuất, tái
sản xuất, tiêu dùng và các hoạt động khác.
Theo Liên Hợp Quốc: “ Hộ là những người cùng chung sống dưới một
mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”.
Theo từ điển chuyên ngành kinh tế và từ điển ngôn ngữ: “Hộ là tất cả
những người cùng chung sống trong một mái nhà. Nhóm người đó bao gồm
những người cùng chung huyết tộc và những người làm công”.
Tại hội thảo quốc tế lần thứ hai về quản lý nông trại tại Hà Lan (1980)
các đại biểu nhất trí cho rằng: “ Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan
đến sản xuất, tiêu dùng, xem như là một đơn vị kinh tế”. [1]
Hộ là một đơn vị tự nhiên tạo nguồn lao động. [2]
Hộ là một đơn vị đảm bảo quá trình tái sản xuất nguồn lao động thông
qua việc tổ chức nguồn thu nhập chung. [2]
Hộ nhất thiết là đơn vị kinh tế (chủ thể kinh tế), có nguồn lao động và
phân công lao động chung, có vốn và chương trình, kế hoạch sản xuất kinh
doanh chung, là đơn vị vừa sản xuất vừa tiêu dùng, có ngân quỹ chung và
được phân phối lợi ích theo thỏa thuận có tính chất gia đình. Họ không phải là
một thành phần kinh tế đồng nhất, mà hộ có thể thuộc thành phần kinh tế cá
thể, tập thể, Nhà nước…
5
1.1.4. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế hộ
nông dân
1.1.4.1. Nhân tố về điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và sự
phát triển của kinh tế hộ nông dân. Những hộ nông dân có vị trí thuận lợi như
gần đường giao thông, gần cơ sở chế biến, gần nơi tiêu thụ sản phẩm sẽ có
lợi thế lớn để phát triển kinh tế.
- Các hộ nông dân chủ yếu sản xuất nông nghiệp. Đất đai là yếu tố quan
trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ và là yếu tố không thể thay thế.
Do đó quy mô đất đai, địa hình, tính chất thổ nhưỡng có ảnh hưởng trực tiếp
tới từng loại nông sản, tới số lượng và chất lượng sản phẩm.
- Khí hậu, thời tiết có ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp.
Điều kiện thời tiết, khí hậu, lượng mưa, độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng có mối
quan hệ chặt chẽ đến sự hình thành và sử dụng các loại đất. Thực tế cho thấy
ở những nơi có điều kiện thời tiết, khí hậu thuận lợi sẽ hạn chế được nhiều rủi
ro hơn.
- Môi trường sinh thái cũng ảnh hưởng đến quá trình phát triển của hộ
nông dân. Nếu môi trường thuận lợi, phù hợp với cây trồng, vật nuôi thì sẽ
phát huy được ưu thế của cây trồng vật nuôi đó, làm cho năng suất tăng cao.
1.1.4.2. Nhân tố về nguồn lực của hộ
- Trình độ học vấn và khả năng lao động: người lao động phải có trình
độ học vấn và khả năng lao động tốt để có thể tiếp thu, học hỏi và áp dụng
những tiến bộ khoa học kỹ thuật. Trong sản xuất thực tế phải giỏi chuyên
môn, kỹ thuật.
7
- Vốn: vốn là điều kiện đảm bảo cho các hộ đầu tư về tư liệu sản xuất,
nguyên liệu cũng như thuê thêm nhân công để tiến hành sản xuất. Vốn là yếu
tố không thể thiếu được khi tiến hành sản xuất hay kinh doanh. Mức độ đầu tư
vốn vào sản xuất cũng có thể ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng sản phẩm.
- Từ các hoạt động dịch vụ
- Từ các hoạt động, sản xuất khác
Thu nhập có vai trò: là nguồn lực để chi tiêu cho mọi nhu cầu cần thiết
trong đời sống hàng ngày của mỗi hộ, mỗi người như: lương thực thực phẩm,
y tế, giáo dục, giải trí… Thu nhập là yếu tố quyết định trong việc nâng cao
đời sống vật chất của mỗi hộ.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ ở các nước trên thế giới
- Hàn Quốc
Hàn Quốc là một quốc gia Đông Á, có diện tích tự nhiên 100,14 km
2
trong đó khoảng 70% là vùng núi; dân số 50,062 triệu với mật độ 488 người/
km
2
. Từ một nước nghèo sau chiến tranh Nam - Bắc Triều Tiên những năm
50 của thế kỷ trước, Hàn Quốc nay trở thành một con rồng Châu Á và đã
đứng trong nhóm các nước phát triển G20. Thu nhập bình quân đầu người
năm 2009 là 17.700 USD, năm 2010 khoảng 20.000 USD.
Thế giới biết đến Hàn Quốc không chỉ về thành công trong phát triển
kinh tế nói chung, mà còn biết đến một đất nước có kỳ tích về phát triển nông
thôn. Chỉ trong 26 năm Hàn Quốc đã thành công trong xây dựng nông thôn
mới. Về mặt thời gian, kỳ tích này của Hàn Quốc đã vượt xa những thành
công về phát triển nông thôn của các nước phát triển khác như Nhật 73 năm;
Mỹ 96 năm; Anh 116 năm.
9
Có thể nói rằng, thành công của Hàn Quốc trong phát triển nông thôn
gắn liền với thành công của phong trào Seamaul. Trong tiếng Hàn, Saemaul là
sự kết hợp của "Sae" có nghĩa là "mới" và "maul" có nghĩa là ngôi làng.
được đưa vào sản xuất tăng năng suất và chất lượng nông sản.
Ngoài ra, Chính phủ Hàn Quốc còn áp dụng chính sách miễn thuế các
mặt hàng như: xăng dầu, máy móc nông nghiệp, giá điện rẻ cho chế biến nông
sản. Ngân hàng Nông nghiệp cho doanh nghiệp vay vốn đầu tư về nông thôn
với lãi suất giảm 2% so với đầu tư vào ngành nghề khác. Nhờ đó, sức cạnh
tranh của nông sản Hàn Quốc được nâng lên, thu nhập của người dân tăng lên
đáng kể. Kết quả tới năm 1974 thu nhập người dân ở nông thôn đã cao hơn ở
thành thị. Năm 1977 hầu hết các xã đã có thể độc lập về kinh tế. Thu nhập của
nông dân Hàn Quốc từ đó vẫn tăng lên đều đặn. Mức độ chênh lệch về thu
nhập của nông dân và thị dân luôn được duy trì với khoảng cách nhỏ, năm
2010 thu nhập của nông dân bằng khoảng 85% thu nhập thành thị.
- Nhật Bản
Không chỉ thành công trong lĩnh vực công nghiệp hóa mà Nhật Bản
còn rất thành công trong phát triển nông nghiệp nông thôn để tạo ra một “sân
sau” vững chắc, an toàn, ổn định cho công nghiệp hóa. Về phát triển nông
nghiệp nông thôn có thể nêu lên những kinh nghiệm sau đây:
- Thực hiện chính sách duy trì đơn vị sản xuất nông nghiệp chính vẫn là
các hộ gia đình nhỏ, mang đậm tính chất của nền văn hóa lúa nước.
+ Điều kiện thứ nhất để thực hiện chính sách này là phải tăng năng suất
lao động của nền nông nghiệp tiểu nông. Muốn vậy nông nghiệp phải sản xuất
theo chiều sâu, phải áp dụng hàng loạt biện pháp thâm canh trong nông
nghiệp. Ngay cả khi tăng trưởng nông nghiệp đã đạt tới điểm ranh giới, tức là
càng đầu tư thâm canh, lợi nhuận càng giảm, thì Nhật Bản đã chuyển hướng
11
“lấy nông nghiệp thuộc địa nội công nghiệp chính quốc”. Đó là việc thâm
canh để tăng sản lượng ở hai thuộc địa Triều Tiên và Đài Loan.
+ Điều kiện thứ hai để duy trì đơn vị sản xuất nông nghiệp chính là các
hộ gia đình nhỏ, đó là việc duy trì giá lương thực cao. Ngay cả khi bị dồn vào
chân tường: thảm bại trong chiến tranh thế giới lần thứ II, khi Nhật Bản
nhỏ ở Đài Loan đã trải qua thời kỳ hơn 50 năm phát triển thành công, một
thời kỳ phát triển liên tục song ở mỗi giai đoạn phát triển chung của Đài Loan
thì nông nghiệp lại có một vai trò riêng của mình. Sự phát triển của nông
nghiệp đã đặt nền tảng cho “thần kỳ kinh tế” của Đài Loan. Có thể chia các
giai đoạn phát triển nông nghiệp như sau.
Giai đoạn 1945 - 1953
Do hậu quả tàn phá của Chiến tranh Thế giới thứ hai, các cơ sở nông
nghiệp ở Đài Loan đã bị thiệt hại nghiêm trọng và nhìn chung đều trong tình
trạng tan hoang. Sau đó, hàng triệu người lính và gia đình của họ đã được đưa
từ Trung Quốc đến Đài Loan và chính quyền cố gắng phục hồi các cơ sở thủy
nông để gia tăng mức sản xuất nông phẩm. Ở thời điểm đó, vấn đề này được
coi là cực kỳ khẩn cấp và các chương trình nông nghiệp lần lượt ra đời và có
hiệu lực, đó là “Hệ thống hàng đổi hàng: gạo - phân bón”; “Qui định phân
phối phân bón”; “Luật quản lý thực phẩm”; “Luật giảm tiền thuế 37,5%”;
“Luật bán đất công”. Nhờ những biện pháp này, sản xuất nông nghiệp được
phục hồi lên tới mức cao nhất của thời kỳ trước chiến tranh.
Giai đoạn 1954 - 1966
Khi đã tạo lập hiệu quả nền tảng cho phát triển nông nghiệp, chính
quyền Đài Loan đã đưa ra kế hoạch phát triển nền kinh tế quốc dân 4 năm lần
thứ nhất, với chủ trương “Nuôi dưỡng công nghiệp thông qua nông nghiệp -
phát triển nông nghiệp bằng công nghiệp”.
13
Chính quyền, một mặt đưa ra những biện pháp khuyến khích nâng cao
mức sản xuất nông nghiệp tổng thể thông qua các chương trình như “Chương
trình nuôi heo hợp nhất”, “Chương trình vụ mùa và vật nuôi hợp nhất”, “Dự
án cung cấp tài chính nông nghiệp” và “Qui định mở rộng nông nghiệp”; mặt
khác để tăng chuyển giao các quỹ vốn từ lĩnh vực nông nghiệp sang các lĩnh
vực phi nông nghiệp, chính quyền trung ương giới thiệu “Các loại thuế đất
nông nghiệp” và “Thu mua bắt buộc lúa gạo ” năm 1954 làm công cụ theo
Mặc dù sản xuất nông nghiệp của Đài Loan gia tăng với tỷ lệ hàng năm
là 2%, những đóng góp từ nông nghiệp cho tổng sản phẩm quốc dân (GNP)
của quốc đảo này giảm từ 6,3% năm 1984, xuống 4,2% năm 1990. Trong
cùng thời kỳ, người có việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp giảm từ 17,6%
xuống 12,9% trong tổng số lao động của Đài Loan.
Giai đoạn từ 1991 trở đi
Để đối phó với những thách thức như tự do hoá mậu dịch, giữ gìn tự
nhiên và bảo vệ môi trường, chính quyền Đài Loan thực thi chương trình
“Điều chỉnh thống nhất” năm 1991, nhấn mạnh tầm quan trọng ngày càng
tăng của việc phối hợp đồng bộ các yếu tố bao gồm nguồn nhân lực, đất đai,
thị trường, kỹ thuật, phương pháp tổ chức, phúc lợi xã hội và bảo tồn tự
nhiên. “Sách trắng về chính sách nông nghiệp” năm 1995 công bố chính sách
cam kết dài hạn các yếu tố sản xuất, bảo vệ môi trường và duy trì mức sống
của người dân Đài Loan. Đến năm 1997, chương trình “Phát triển nông
nghiệp xuyên thế kỷ” bắt đầu phát huy hiệu lực. Nhờ đó nông nghiệp tăng
trưởng liên tục, nhưng đóng góp cho GDP của nông nghiệp vẫn tiếp tục giảm.
Năm 2000, đóng góp của nông nghiệp trong GDP chỉ còn 2,1%. Đây là một
xu hướng tích cực. Như vậy có thể thấy, ngành nông nghiệp Đài Loan đã
hoàn thành sự chuyển đổi của nó, từ một yếu tố quan trọng trong tổng sản
15
phẩm quốc dân, thành một yếu tố mang tính phi kinh tế với vai trò tạo ra
những khoảng không gian của thiên nhiên và làm xanh môi trường, tiếp tục
bảo tồn tự nhiên và các thắng cảnh.
1.2.2. Tình hình phát triển kinh tế hộ ở Việt Nam
Thời kì trước cách mạng 1945
Trong thời kì phong kiến, từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX, các hình
thức chủ yếu trong nông nghiệp là các điền trang, thái ấp, đồn điền với quy
mô tương đối lớn. Hầu hết sản xuất lúa và lương thực theo phương thức nô
dịch, lĩnh canh. Từ giữa thế kỷ XIX trở đi, sau khi bị thực dân Pháp xâm
ruộng và trở thành các hộ sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, do bình quân
ruộng đất một đầu người thấp, trình độ canh tác còn lạc hậu và manh mún nên
kinh tế hộ nông dân vẫn còn là sản xuất nhỏ, tự cấp, tự túc.
+ Giai đoạn 1958 - 1960: Trong kế hoạch 3 năm cải tạo xã hội chủ
nghĩa và phát triển kinh tế, nông nghiệp về cơ bản đã hoàn thành hợp tác hóa
với các hình thức hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bậc thấp, quy mô xóm,
thôn và hợp tác xã tín dụng, hợp tác xã cung tiêu… Đồng thời bắt đầu xây
dựng thêm các nông trường quốc doanh ở trung du miền núi và ven biển. Như
vậy, từ cuối năm 1960, trong nông nghiệp nước ta chủ yếu có loại hình kinh tế
hợp tác quy mô nhỏ và các nông trường quốc doanh, song trang thiết bị còn
lạc hậu, cách thức sản xuất còn quảng canh, tái sản xuất giản đơn. Lực lượng
kinh tế nhỏ cá thể còn lại không nhiều, đa số là trung nông, một số là phú
nông.
+ Giai đoạn 1961 - 1975: Miền Bắc tiến hành thắng lợi 3 kế hoạch 5
năm, kinh tế hợp tác xã lớn mạnh cả về số lượng và quy mô. Đến năm 19756
đã có 97% số hộ vào hợp tác xã, cơ bản đưa các hợp tác xã lên quy mô thôn.
Loại hình kinh tế nông trường quốc doanh cũng liên tục phát triển, tính đến
17
năm 1975, miền bắc có 365 nông, lâm trường, trạm trại nghiên cứu thực
nghiệm…
* Ở miền Nam: Các loại hình kinh tế nông nghiệp miền Nam hình
thành và phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa với cá hình thức chủ yếu là
kinh tế trang trại hàng hóa gắn với thị trường tư bản chủ nghĩa, kinh tế đồn
điền và đinh điền của các nhà tư bản người Việt Nam và người nước ngoài.
Thời kỳ 1976 - 1986
Tiến hành cuộc vận động tổ chức lại sản xuất trong nông nghiệp, cải
tiến một bước quản lý từ cơ sở theo hướng tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ
nghĩa theo tinh thần Chỉ thị 208 CT/TW ngày 16/9/1974 của Ban Bí Thư và
Nghị quyết 61/CP ngày 5/4/1976 của Hội đồng Bộ trưởng. Tuy nhiên, các