Thực trạng và một số giải pháp nhằm giảm nghèo cho người dân tại xã Vĩnh Quang, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng. - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
MẠC MA YÊN Tên đề tài: T


Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khuyến nông
Khoa : Kinh tế và PTNT
Khoá học : 2010 - 2014



MẠC MA YÊN Tên đề tài: T
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ
GIẢI PHÁP NHẰM GIẢM NGHÈO
CHO NGƯỜI DÂN TẠI XÃ VĨNH QUANG
HUYỆN BẢO LÂM, TỈNH CAO BẰNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC


Qua quá trình học tập tại trường và sau hơn 4 tháng thực tập tốt nghiệp
tại cơ sở tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp. Qua đây tôi xin bày tỏ lòng
biết ơn chân thành, sâu sắc tới Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên; Ban chủ nhiệm Khoa Kinh tế và PTNT; Các phòng ban cùng
các thầy giáo, cô giáo đã trang bị cho tôi những kiến thức cơ bản, giúp tôi có
những kiến thức mới trong quá trình thực tập tại cơ sở cũng như ngoài xã hội.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo ThS. Tống Thị
Thùy Dung đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình thực tập và hoàn thành bài khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới cán bộ lãnh đạo, cán bộ chuyên môn,
người dân xã Vĩnh Quang, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng đã tạo điều kiện
giúp đỡ để tôi có điều kiện được thực tập và nâng cao sự hiểu biết.
Trong thời gian thực tập khóa luận, bản thân tôi đã cố gắng khắc phục
mọi khó khăn để hoàn thiện khóa luận. Tuy nhiên, với thời gian ngắn và hạn
chế về kiến thức nên chuyên đề của tôi khó tránh khỏi những thiếu sót. Vậy
kính mong các thầy cô và giáo viên hướng dẫn, giúp đỡ, góp ý, tạo điều kiện
để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 09 tháng 06 năm 2014
Sinh viên

Mạc Ma Yên

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

CĐ-ĐH : Cao đẳng - đại học
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
HĐND : Hội đồng nhân dân
ILO : Tổ chức lao động quốc tế
KHKT : Khoa học kỹ thuật


Bảng 4.1. Tình hình dân số xã Vĩnh Quang năm 2013 31

Bảng 4.2. Tình hình sử dụng đất đai của xã Vĩnh Quang từ năm

2011 -
2013. 34

Bảng 4.3: Hiện trạng cơ sở hạ tầng xã năm 2013 39

Bảng 4.4: Tình hình trồng trọt và chăn nuôi của xã Vĩnh Quang từ năm
2011 - 2013 39

Bảng 4.5: Tỷ trọng các ngành kinh tế của xã Vĩnh Quang từ năm 2011 -
2013 40

Bảng 4.6: Tình hình nghèo trên địa bàn xã Vĩnh Quang giai đoạn năm 2011
- 2013. 42

Bảng 4.7. Tổng số hộ nghèo tại các bản của xã Vĩnh Quang năm 2013 43

Bảng 4.8: Đặc điểm chung của các hộ điều tra 44

Bảng 4.9: Tỷ lệ người sống phụ thuộc phân theo thu nhập tại các hộ điều
tra 47

Bảng 4.10: Thực trạng việc làm của các hộ điều tra. 48

Bảng 4.11: Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn của người dân ở các
xóm điều tra. 49

1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 3

1.3.2. Ý nghĩa thực tế 3

PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1. Cơ sở lý luận 4

2.1.1. Những vấn đề cơ bản về nghèo và giảm nghèo 4

2.1.2. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 8

2.2. Cơ sở thực tiễn 9

2.2.1. Hoạt động xóa đói giảm nghèo trên thế giới 9

2.2.2. Vấn đề xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam 13

PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 24

3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 24

3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 24

3.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu 24

3.3.1. Nội dung nghiên cứu 24

PHẦN 5. KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 67

5.1. Kết luận 67

5.2. Kiến nghị 67

5.2.1. Đối với Đảng và Nhà nước 67

5.2.2. Đối với cấp huyện 68

5.2.3. Đối với xã Vĩnh Quang, các đoàn thể, các tổ chức cộng đồng 68

5.2.4. Đối với hộ nông dân nghèo 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đối với tất cả các nước trên thế giới, nghèo luôn là vấn đề được xã hội
quan tâm. Ở các nước phát triển, dù có mức sống cao song vẫn luôn tồn tại
tình trạng phân hóa giàu nghèo. Còn ở những nước đang phát triển với thu
nhập trung bình và thấp, trong đó bao gồm Việt Nam, thì một bộ phận không
nhỏ dân cư vẫn sống ở mức nghèo khổ, đặc biệt còn có những người sống
trong hoàn cảnh rất khó khăn vẫn phải chịu tình trạng thiếu đói, cơm không
đủ ăn, áo không đủ mặc, trong khi đây là nhu cầu thiết yếu của con người.
Mức độ nghèo cũng có sự chênh lệch khác nhau giữa các vùng miền

Do vậy, XĐGN của xã Vĩnh Quang là một yêu cầu cấp thiết, đòi hỏi
địa phương cũng như Trung ương phải sớm tìm ra những giải pháp hỗ trợ
người dân phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập tiến tới “thoát nghèo”.
Xuất phát từ những lý do trên và qua quá trình học tập tại trường với sự
giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn Tống Thị Thùy Dung tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp nhằm giảm nghèo cho người
dân tại xã Vĩnh Quang, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng” đi vào nghiên cứu
thực trạng nghèo ở xã Vĩnh Quang, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng thuộc khu
vực miền núi phía Bắc Việt Nam trong những năm gần đây như một ví dụ
điển hình cho nghèo ở vùng núi nói chung, từ đó đánh giá những ưu điểm và
nhược điểm của các chính sách XĐGN cho vùng núi của Nhà nước để đưa ra
những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả, phát huy tác dụng của các chính
sách có ý nghĩa thiết thực này.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu và đánh giá thực trạng giảm nghèo tại xã Vĩnh Quang để từ đó
đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm từng bước đưa xã thoát nghèo một cách
bền vững.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng nghèo ở xã Vĩnh Quang, huyện Bảo Lâm, tỉnh
Cao Bằng.
- Nghiên cứu những nguyên nhân và nhân tố chính gây nên nghèo
trong xã Vĩnh Quang.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu giảm nghèo cho xã Vĩnh Quang
trong những năm tiếp theo. 3
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Những vấn đề cơ bản về nghèo và giảm nghèo
Nói đến nghèo có rất nhiều khía cạnh. Chúng ta cần trả lời được những
câu hỏi, khái niệm về nghèo cơ bản sau:
2.1.1.1 Một số khái niệm
Quan niệm thế nào là nghèo? Ai là người nghèo? Họ đang sống ở đâu?
Họ nghèo vì nguyên nhân gì? Làm thế nào để giảm nghèo? để trả lời các câu
hỏi trên cần hiểu rõ bản chất và nội hàm của nghèo. Trước tiên phải khẳng
định là không có sự thống nhất tuyệt đối về nghèo, do bản thân quan niệm về
nghèo đã thay đổi nhanh chóng qua 3 thập kỷ qua. Nếu như đầu những năm
70, nghèo chỉ được coi là nghèo về tiêu dùng, với tư tưởng cốt lõi là căn bản
nhất để một người bị coi là nghèo, đó là sự “Thiếu hụt” so với một mức sống
nhất định mà sự thiếu hụt này được xác định theo các chuẩn mực xã hội và
phụ thuộc vào không gian và thời gian.
Tuy nhiên quan niệm về nghèo hay nhận dạng về nghèo của từng quốc
gia hay từng vùng, từng nhóm dân cư, nhìn chung không có sự khác biệt đáng
kể, tiêu chí chung nhất để xác định nghèo vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu để
thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người. Sự khác nhau chung nhất là thỏa
mãn ở mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh
tế - xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia.
Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về nghèo do hội nghị chống đói
nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok -
Thái Lan vào tháng 9 năm 1993: “ Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân
cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà
những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế – xã hội, phong
tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận,[5].
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen -
Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như
sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập dưới 1 đô la (USD) mỗi

những căn cứ để đo mức độ phát triển chung của một số nước so với nước
khác. Chỉ số thu nhập có tính chất tương đối và có hạn chế nhất định, không
phải chỉ số trung bình cao về thu nhập quốc dân (GDP) là hết nghèo. Thực tế
trên thế giới không thiếu gì những quốc gia tư bản chủ nghĩa có trình độ phát
triển cao, có chỉ số thu nhập bình quân đầu người rất cao song cũng chính ở đó
đang diễn ra cảnh đói nghèo và mất công bằng xã hội gay gắt. Cho đến nay tiêu 6
chuẩn thu nhập quốc dân bình quân đầu người đang được sử dụng ngày càng phổ
biến để đánh giá trình độ phát triển của một quốc gia. XĐGN là tìm ra con đường
cho sự phát triển tốt nhất, là làm tăng lên không ngừng mức sống và chất lượng
cuộc sống của dân cư theo mục tiêu công bằng xã hội.
Để phân tích nước nghèo, nước giàu, ngân hàng thế giới đưa ra kiến
nghị thang nghèo đói như sau: [10].
- Đối với các nước nghèo: Các cá nhân bị coi là nghèo khi mà có thu
nhập dưới 0,5 USD/ngày.
- Đối với các nước đang phát triển là 1 USD/ngày.
- Các nước thuộc Châu Mỹ La Tinh và Caribe là 2 USD/ngày.
- Các nước Đông Âu là 4 USD/ngày.
- Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày.
Ở Việt Nam, Bộ LĐTB&XH là cơ quan thường trực trong việc thực
hiện XĐGN. Cơ quan này đã đưa ra mức xác định khác nhau về nghèo đói tùy
theo từng thời kỳ phát triển của đất nước. Từ năm 1993 đến nay chuẩn nghèo
đã được điều chỉnh qua 5 giai đoạn, cụ thể cho từng giai đoạn như sau: [6].
- Lần 1 (giai đoạn 1993 - 1995):
Hộ đói: Bình quân thu nhập đầu người quy gạo/ tháng dưới 13kg đối
với khu vực thành thị, dưới 8kg đối với khu vực nông thôn.
Hộ nghèo: Bình quân thu nhập đầu người quy gạo/ tháng dưới 20kg đối
với khu vực thành thị, dưới 15kg đối với khu vực nông thôn.

09/2011/QĐ-TTg),[6].
Vùng nông thôn: 400.000 đồng/người/tháng trở xuống.
Vùng thành thị: 500.000 đồng/người/tháng trở xuống.
Với cách đánh giá chuẩn mực nghèo đói theo thu nhập như trên tuy đã
có tiến bộ và định mức thu nhập được quy thành giá trị, dễ so sánh nhưng vẫn
còn một số hạn chế là: Không phản ánh được chi tiêu, tổng hợp mức sống của
người nghèo (như tình trạng nhà cửa, tiện nghi sinh hoạt, y tế, giáo dục và
mức hưởng thụ các dịch vụ cơ bản khác); không phản ánh được sự mất cân
đối giữa chuẩn mực so với đời sống thực của người nghèo.
Ở mỗi vùng, mỗi địa phương cũng có thể quy định chuẩn nghèo khác
nhau tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của địa phương mình tại thời
điểm nhất định. Ở xã Vĩnh Quang nói riêng và cả huyện Bảo Lâm cũng như
tỉnh Cao Bằng nói chung đều lấy chuẩn nghèo theo quy định chung của Bộ
lao động – Thương binh và xã hội đã quy định. 8
2.1.2. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
2.1.2.1. Các chỉ tiêu phản ánh thực trạng nghèo đói
 Số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo trong toàn xã
 Thu nhập của hộ
Bao gồm toàn bộ giá trị sản phẩm và các nguồn thu tính được của hộ,
được sử dụng để chi cho đời sống và tích luỹ. Để phản ánh chính xác được
mức độ đói nghèo và thực trạng đời sống của hộ, tôi nghiên cứu chỉ tiêu thu
nhập bình quân trên đầu người theo tháng.
 Hệ thống các chỉ số
- Chỉ số phát triển con người: Human Development Index (HDI), bao gồm:
Tuổi thọ bình quân được phản ánh bằng số năm sống.
Trình độ giáo dục được đo bằng cách kết hợp giữa tỷ lệ người lớn biết
chữ và tỷ lệ người đi học đúng độ tuổi.

2.2.1.1. Tình hình nghèo đói trên thế giới
Đói nghèo là vấn đề đang đặt ra cho tất cả các quốc gia trên thế giới, nó
trở thành vấn nạn trên toàn cầu. Trong lịch sử đã có nhiều nạn đói chết hàng
triệu người dân Châu Á, Châu Phi. Thực trạng đói nghèo trên thế giới đang
diễn ra theo chiều hướng rất đáng báo động. Theo một nghiên cứu của WB,
nguy cơ đối với người nghèo đang tiếp tục gia tăng trên quy mô toàn cầu, và
tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm trong năm 2009 đã đẩy thêm 53 triệu người
nữa rơi vào tình trạng nghèo đói, thêm vào con số 130-155 triệu người của năm
2008, khi giá nhiên liệu và thực phẩm tăng cao [12].
Ngày 15/5/2012, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đưa ra nghiên cứu năm
2012 về thị trường lao động, nhấn mạnh từ nhiều năm qua, tình trạng nghèo khổ gia
tăng không còn là vấn đề của riêng các nước đang phát triển mà đã trở thành vấn đề
đáng lo ngại ở các nước phát triển. Từ khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu bùng nổ, tỷ
lệ nghèo khổ đã giảm mạnh ở 75% các nước đang phát triển, nhưng lại đang tăng
lên ở 25 nước trong 36 nước phát triển [12].
Đói nghèo đã trở thành thách thức lớn, đe dọa đến sự sống còn, ổn định
và phát triển của thế giới và nhân loại. Sở dĩ như vậy bởi vì thế giới là một
chỉnh thể thống nhất, và mỗi quốc gia là một chủ thể trong chính thể thống
nhất ấy. Toàn cầu hóa đã trở thành cầu nối liên kết các quốc gia lại với nhau,
các quốc gia có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, sự ổn định và phát
triển của một quốc gia có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến sự ổn định và
phát triển của các quốc gia khác. Nghèo đói đe dọa đến sự sống của loài 10
người bởi “đói nghèo đã trở thành một vấn đề toàn cầu có ý nghĩa chính trị
đặc biệt quan trọng, nó là nhân tố có khả năng gây bùng nổ những bất ổn
chính trị, xã hội và nếu trầm trọng hơn có thể dẫn tới bạo động và chiến
tranh” không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà là cả thế giới. Bởi, những
bất công và nghèo đói thực sự đã trở thành những mâu thuẫn gay gắt trong

các nhà nước trong khu vực về tăng trưởng phát triển XĐGN. Từ đó mỗi quốc
gia phải xác định mức tăng trưởng hợp lý nhằm tạo điều kiện duy trì sự tăng
trưởng và cải thiện đời sống, phải tạo ra được sức mạnh đủ sức phát triển trên
cơ sở hạ tầng vật chất nhằm giúp người nghèo có khả năng tiếp cận thị
trường, hòa nhập với đời sống cộng đồng.
Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo của một số nước:
Vấn đề nghèo đói và xóa đói giảm nghèo đang trở thành chủ đề quan
tâm của toàn nhân loại. Việc hạn chế và từng bước xóa bỏ nghèo đói là nhiệm
vụ quan trọng và nặng nề của nhiều tổ chức quốc tế và nhiều quốc gia. Trong
một vài thập kỷ gần đây, công tác xóa đói giảm nghèo trên thế giới và một số
quốc gia đã đạt được một số kết qủa nhất định. Các kết quả này được tổng kết
và đúc rút thành kinh nghiệm để cho các nước khác tham khảo và học tập.
Kinh nghiệm của Trung Quốc:
Trung Quốc là một nước có số dân đông nhất thế giới và cũng là nước
có số dân nghèo chiếm tỷ lệ cao. Tỷ lệ nghèo khổ chiếm 20% dân số, trong đó
80 triệu người quá nghèo khổ chiến 80% dân số (số liệu của FAO, 1990).
Bước vào thời kỳ cải cách kinh tế, nông thôn Trung Quốc đã có sự thay đổi
lớn, tuyệt đại đa số nông dân đã giải quyết được vấn đề no cơm ấm áo, tỷ lệ
nghèo khổ giảm đáng kể do Trung Quốc sớm quan tâm và thực hiện rất có
hiệu quả chương trình “Xóa đói giảm nghèo” ở trên phạm vi cả nước, nhất là
khu vực nông thôn. Kinh nghiệm thành công của Trung Quốc trong công cuộc
xóa đói giảm nghèo cho thấy tầm quan trọng của việc kết hợp tăng trưởng
kinh tế gắn với những biện pháp giải quyết việc làm ở nông thôn, mở rộng hệ
thống dạy nghề, tăng kỹ thuật mới, giảm nhẹ điều kiện việc làm, cải thiện đời
sống, phát triển công nghiệp nông thôn nhằm thay đổi cơ cấu kinh tế, cải tạo
nền kinh tế thuần nông với phương châm “Ly nông bất ly hương”. Đối với
các vùng nghèo, chính phủ có các chương trình riêng như:
Giúp đỡ các huyện nghèo khó theo phương châm lấy phát triển kinh tế
là chính với các công tác sau: Kết hợp khai thác tổng hợp nông nghiệp, đầu tư
xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển ngành nghề địa phương, phòng chống cơ

cả người Nhật Bản là rất hay làm việc, biết tiết kiệm và căn cơ. Chỉ hơn 20
năm sau chiến tranh, từ đống tro tàn đổ nát, Nhật Bản đã vươn lên thành
cường quốc về kinh tế, đời sống nhân dân tăng cao, tình trạng đói nghèo đã
giảm xuống thấp. Hiện nay 90% dân số Nhật Bản là tầng lớp trung lưu. Có 13
được thành quả như vậy là do Nhật Bản đã đưa ra kế hoạch và chính sách rất
đúng đắn và thực hiện tích cực, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao
đời sống nhân dân, XĐGN bền vững.
Nhật Bản đã áp dụng các giải pháp sau:
+ Thực hiện quá trình dân chủ hóa sau chiến tranh, nhằm tạo lập một
nền kinh tế thị trường, bao gồm nhiều chủ thể có sự bình đẳng tương đối trong
sản xuất kinh doanh, thực hiện dân chủ hóa lao động.
+ Xóa bỏ cơ sở gây ra sự phân hóa giàu nghèo, tạo lập mặt bằng bình
đẳng hơn cho xã hội đối với tài sản và đất đai nhanh chóng thực hiện mục tiêu
“Ruộng đất cho người cày”.
+ Thực hiện chính sách cùng hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế.
+ Thực hiện chính sách thuế thu nhập để điều tiết giảm bớt chênh lệch
về thu nhập.
+ Thực hiện chính sách vùng, khu vực: Khuyến khích phát huy lợi thế
so sánh giữa các vùng … Hỗ trợ khu vực nông thôn nông nghiệp thông qua
chính sách bảo bộ đối với sản xuất nông nghiệp.
+ Thực hiện chính sách về phúc lợi xã hội: Thông qua hệ thống bảo
hiểm rộng lớn trên các lĩnh vực: Tương trợ công cộng, dịch vụ, phúc lợi bảo
hiểm xã hội (chăm sóc sức khỏe, trợ cấp con cái, hưu trí, bảo hiểm thất
nghiệp và tai nạn lao động), y tế công cộng, trợ cấp và giúp đỡ của nhà nước
cho các nạn nhân chiến tranh. Các khoản chi cho bảo hiểm xã hội ở Nhật Bản
không nhỏ, năm 1989 con số này đã chiếm 14% thu nhập quốc dân và từ đó
đến nay các khoản chi này không ngừng tăng lên. Đây chính là biện pháp có

độ học vấn tăng và sự đa dạng hóa các hoạt động phi nông nghiệp, cơ hội làm
việc ở công trường, nhà máy cũng đóng góp tích cực cho công tác xóa đói
giảm nghèo ở Việt Nam .
Không chỉ Ngân hàng thế giới mà nhiều nước và tổ chức quốc tế khác
cũng đánh giá cao, coi Việt Nam là "một điểm sáng thành công" trong xóa đói
giảm nghèo. Mới đây, tại Italia, Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO)
đã tổ chức "Công nhận thành tích nổi bật trong đấu tranh xóa đói giảm nghèo"
cho 38 quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Đồng thời, Việt Nam
cũng nằm trong nhóm 18 quốc gia được trao bằng khen chứng nhận việc sớm
đạt được Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ 1 (MDG 1) - hướng tới mục tiêu
giảm một nửa số người bị đói vào năm 2015. 15
Có thể khẳng định rằng, Chiến lược toàn diện về tăng trưởng, xóa đói
giảm nghèo tại Việt Nam là đúng đắn, hợp lòng dân, phù hợp với xu hướng
chung của thế giới. Mặc dù kinh tế đất nước còn không ít khó khăn nhưng
Đảng, Nhà nước luôn coi công tác giảm nghèo là một trong những mục tiêu
quan trọng. An sinh xã hội và giảm nghèo luôn là một trong những lĩnh vực
ưu tiên hàng đầu trong hoạt động của Chính phủ những năm qua. Những
thành tựu có được trong xóa đói giảm nghèo là nhờ nỗ lực chung của toàn
Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của các doanh
nghiệp, các cơ quan, đoàn thể, tổ chức xã hội và các cá nhân.
Tỷ lệ đói nghèo ở nước ta đã giảm một cách tích cực. Tính đến năm
2012, đã có 500 nghìn lượt hộ nghèo được hỗ trợ về nhà ở, 542 triệu lượt
người được hỗ trợ bảo hiểm xã hội. Điều kiện sống của người nghèo được cải
thiện. Tỷ lệ hộ nghèo và các huyện nghèo giảm nhanh, hoàn thành vượt mục
tiêu Quốc hội đề ra từ 14,2% (năm 2010) xuống còn 9,6% (năm 2012). Thông
qua thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II, tỷ lệ hộ nghèo ở các xã, thôn,
bản đặc biệt khó khăn giảm từ 47% (năm 2006) xuống còn 28,8% (năm

thách thức và khó khăn trước mắt mà nhà nước ta cần phải quan tâm.
Ở một đất nước thu nhập còn thấp, khoảng gần 70% dân số là nông
dân, thiên tai, dịch bệnh tàn phá quanh năm và những bất trắc trong phát
triển kinh tế…, tất cả những thiệt thòi, xui rủi hầu như đều tìm đến những
thân phận nghèo khổ, thiếu khả năng chống đỡ. Nghèo lại càng nghèo
thêm, cái hố phân cách giàu nghèo ngày càng sâu.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện Chương trình
giảm nghèo bền vững vẫn còn những hạn chế, cần tập trung khắc phục: Tỷ
lệ giảm nghèo nhanh nhưng chưa bền vững, khoảng cách giàu - nghèo
giữa các vùng, nhóm dân cư chưa được thu hẹp, nhất là khu vực miền núi
phía Bắc và Tây Nguyên. Tại một số nơi, tỷ lệ nghèo vẫn còn trên 50%,
cá biệt còn trên 60-70%; tỷ trọng hộ nghèo dân tộc thiểu số chiếm gần
50% tổng số hộ nghèo trong cả nước, thu nhập bình quân của hộ dân tộc
thiểu số chỉ bằng 1/6 mức thu nhập bình quân của các nước.
Nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là do nhiều cơ chế, chính
sách được ban hành còn chồng chéo dẫn đến việc thực hiện phân bổ, hiệu
quả sử dụng các nguồn lực chưa cao; nhiều địa phương còn trông chờ, ỷ
lại vào Nhà nước mà chưa tự lực vươn lên thoát nghèo. Bên cạnh đó, một 17
số cơ chế, chính sách hiện còn bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn nhưng
việc sửa đổi, bổ sung còn chậm; công tác tuyên truyền, vận động nâng cao
nhận thức về giảm nghèo chưa được tổ chức thường xuyên.
Mục tiêu đến cuối năm 2013, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm 2%/năm
(từ 9,6% xuống còn 7,6%); riêng tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo giảm
bình quân 5%/năm (từ 43,89% năm 2012 xuống còn 38,89% năm 2013);
đến cuối năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm xuống còn dưới 5% theo
chuẩn nghèo hiện hành; tỷ lệ nghèo các huyện còn dưới 30%. Mới đây, tại
Hội nghị thực hiện công tác giảm nghèo, chương trình giảm nghèo, Phó

nghèo nhất từ 12,5 lần năm 2002 lên 13,5 lần năm 2004.
Việt Nam đã vượt mức phấn đấu đến năm 2011 sẽ đạt mức thu nhập 1.050 -
1.100 USD trước 1 năm và đánh dấu một “Cuộc chia tay” với các nước nghèo.
Nhưng ngẫm ra mới thấy con số thu nhập “bình quân” ngày càng mất ý nghĩa và
không thực chất đối với hàng chục triệu người nghèo Việt Nam. Đơn giản vì hai
cực của sự phân hóa giàu - nghèo ngày càng bị kéo dãn ra.
Mặc dù trong những năm qua số hộ nghèo trong cả nước đã giảm
mạnh, song trên thực tế công cuộc XĐGN còn vô cùng gian nan. Nguy cơ tái
nghèo có thể tăng do tác động của kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc
tế. Sắp tới, để thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm giai đoạn 2007 – 2011và
nghị quyết đại hội lần thứ V, XĐGN của Đảng, chính phủ tiếp tục tạo lập
động lực để phát triển mạnh mẽ kinh tế – xã hội, đồng thời chủ động chỉ đạo
thực hiện công tác XĐGN với sự đồng tâm hiệp lực của các ngành, các cấp,
của cả cộng đồng, của các tổ chức kinh tế – xã hội và của chính người nghèo.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cũng đã đề xuất Chính phủ
nghiên cứu điều chỉnh, bổ sung một số cơ chế, chính sách cụ thể cho các hộ
mới thoát nghèo được hưởng các chính sách như đối với hộ nghèo 2-3 năm;
hỗ trợ mức đóng 100% bảo hiểm y tế đối với người thuộc hộ cận nghèo đang
sinh sống tại vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn, đang sinh sống ở các tỉnh
vùng núi phía Bắc và Tây Nguyên; hỗ trợ 5% chi phí đồng chi trả cho người
thuộc hộ nghèo khám chữa bệnh bằng thẻ bảo hiểm y tế
Chúng ta tin rằng, với quyết tâm của cả hệ thống chính trị và người
dân, công tác xóa đói giảm nghèo sẽ tiếp tục đạt được những thành tựu lớn
hơn, khắc phục những tồn tại, khó khăn trước mắt.[6]
2.2.2.2. Nguyên nhân nghèo ở Việt Nam

Trích đoạn Giải phỏp nhằm XĐGN tại xó Vĩnh Quang Giải phỏp chung Đối với hộ nụng dõn nghốo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status