ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGÔ THỊ PHƯƠNG Tên đề tài:
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ
NÔNG HỘ TẠI XÃ YÊN PHÚC, HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Hiền Thương
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT 1 BQ Bình quân
2 CN - TTCN Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
3 CNH - HĐH Công nghiệp hóa- hiện đại hóa
4 DT Diện tích
5 ĐG Đơn giá
6 GTSX Giá trị sản xuất
7 LĐ Lao động
8 NN Nông nghiệp
9 SL Sản lượng
10 SXNN Sản xuất nông nghiệp
11 TT Thành tiền
12 TC, CĐ, ĐH Trung cấp, cao đẳng, đại học
13 THCS Trung học cơ sở
14 UBND Ủy ban nhân dân
2.3. Phương pháp nghiên cứu 17
2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 17
2.3.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 17
2.4. Hệ thống các chỉ tiêu dùng trong nghiên cứu đề tài 22
2.4.1. Hệ thống chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất kinh doanh của nông hộ 22
2.4.2. Các chỉ tiêu phản ánh đời sống thu chi của hộ 22
2.4.3. Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất và các công thức tính 22
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 24
3.1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên 24 3.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội 26
3.1.2.4. Đánh giá những thuận lợi khó khăn của xã 30
3.2. Thực trạng sản xuất của hộ 31
3.2.1. Các yếu tố sản xuất của hộ 31
3.2.2. Hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ 38
3.3. Tổng hợp thu nhập của hộ 46
3.4.Đời sống của hộ 47
3.5. Đánh giá chung những vấn đề đặt ra trong phát triển kinh tế của hộ 48
3.5.1. Nhận xét và đánh giá 48
3.5.2. Những vấn đề đặt ra cần phải nghiên cứu 49
CHƯƠNG 4. NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ TẠI
ĐỊA BÀN XÃ 51
4.1. Phương hướng chung 51
4.2. Nhóm các giải pháp 51
4.2.1. Nhóm giải pháp về đất đai 51
4.2.2. Nhóm giải pháp về vốn 53
4.2.3. Nhóm giải pháp về phát triển nguồn lực 53
4.2.4. Nhóm giải pháp về khoa học kĩ thuật 54
Bảng 3.16. Chi tiêu bình quân đời sống của hộ 48
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Sơ đồ xã và vị trí ba thôn nghiên cứu 19
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lương thực, thực phẩm là vấn đề muôn thủa của xã hội. Dù thế giới ngày
nay có phát triển đến đâu đi chăng nữa, xã hội loài người muốn tồn tại, các ngành
kinh tế muốn phát triển mọi thành viên trong xã hội phải được cung cấp đầy đủ
lương thực và thực phẩm. Cho đến ngày nay cho thấy những sản phẩm ấy chỉ có thể
do nông nghiệp (nông, lâm, ngư nghiệp) cung cấp. Mặt khác, nông nghiệp tạo ra sản
phẩm là nguồn nguyên liệu hết sức quan trọng của công nghiệp, nhất là công
nghiệp chế biến.
Việt Nam là một quốc gia có bản chất của nền kinh tế là kinh tế nông
nghiệp. Coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu trong quá trình phát triển kinh tế đất
nước. Nông nghiệp tuy giảm dần vai trò đóng góp vào GDP quốc gia, nhưng vẫn là
nguồn sống chính của hơn một nửa dân số đất nước. Kể từ khi chính thức ra nhập
Tổ chức thương mại thế giới (WTO), nền kinh tế nước ta tiếp tục tăng trưởng, đời
sống nhân dân nói chung, nông dân nói riêng không ngừng được cải thiện. Hiện
nay, nông nghiệp vẫn còn đóng góp hơn 20% GDP, nuôi sống hơn 60% dân số. Ngoài
những điểm mạnh mang tính truyền thống như khả năng tự bảo đảm an ninh lương
thực quốc gia và có lợi thế cạnh tranh đối với một số loại cây trồng chính, ngành nông
nghiệp Việt Nam còn nhiều hạn chế hoặc khó khăn cần được nhận thức rõ
1
.
Hộ nông dân được xác định và trở thành đơn vị kinh tế sản xuất kinh doanh
Nhiều năm qua xã Yên Phúc đã có cố
gắng nhất định trong việc tổ chức phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn với
chính sách giao đất sử dụng đến từng hộ nông dân đã tạo ra sự thay đổi căn bản
trong đời sống nhân dân toàn xã. Dưới sự lãnh đạo của các cấp, chính quyền địa
phương và sự hướng dẫn của các chức năng, các tổ chức đoàn thể… cùng sự đoàn
kết, cần cù sang tạo của nhân dân trong xã, đời sống của các hộ nông dân trong xã
đã được cải thiện rõ rệt. Trong quá trình phát triển kinh tế hộ nơi đây cũng đặt ra
nhiều vấn đề cần giải quyết nhằm khai thác tốt hơn các nguồn lực nông nghiệp -
nông thôn, không ngừng nâng cao chất lượng lao động và đời sống của người dân.
Xuất phát từ tình trạng đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài ‘‘Thực trạng
và những giải pháp phát triển kinh tế hộ tại xã Yên Phúc huyện Ý Yên tỉnh
Nam Định”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng và tình hình phát triển kinh tế hộ, từ đó đưa ra các giải
pháp nhằm giải quyết khó khăn tại địa phương.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa những lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế hộ.
- Nắm được thực trạng kinh tế hộ của địa phương, tìm ra những nhân tố ảnh
hưởng đến phát triển kinh tế hộ.
- Đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế hộ tại địa phương.
2
UBND xã Yên Phúc (2013)
3
3. Ý nghĩa của đề tài
- Trong học tập và nghiên cứu
Đặc điểm của hộ:
- Trước hết, hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có
chung huyết thống, tuy nhiên cũng có trường hợp thành viên của hộ không chung
huyết thống (con nuôi, người tình nguyện và được sự đồng ý của các thành viên
trong hộ công nhận cùng chung hoạt động kinh tế lâu dài…)
- Hộ không nhất thiết là một đơn vị kinh tế, có nguồn lao động và phân công
lao động chung: có vốn và chương trình, kế hoạch sản xuất kinh doanh chung, là
đơn vị vừa sản xuất vừa tiêu dùng, có ngân quỹ chung và được phân phối lợi ích
theo thỏa thuận có tính chất gia đình. Hộ không phải là một thành phần kinh tế đồng
nhất, mà hộ có thể thuộc thành phần kinh tế cá thể, tư nhân, tập thể, nhà nước…
- Hộ không đồng nhất với gia đình mặc dù cùng chung huyết thống bởi vì hộ
là một đơn vị kinh tế riêng, còn gia đình có thể không phải là một đơn vị kinh tế (ví
dụ gia đình nhiều thế hệ cùng chung huyết thống, cùng chung một mái nhà nhưng
nguồn sinh sống và ngân quỹ lại độc lập với nhau…).
1.1.2. Hộ nông dân, kinh tế hộ nông dân
1.1.2.1. Hộ nông dân
Với đặc trưng phát triển nông nghiệp trên thế giới hầu hết là dựa vào các cơ sở
sản xuất tư nhân. Nền kinh tế hộ nông dân đã biến đổi và phát triển qua các thời kì
và đóng vai trò to lớn trong quá trình phát triển nông nghiệp. Phát triển nông nghiệp
là quá trình biến đổi tự túc, tự cấp lên sản xuất hàng hóa. Sự phát triển không đồng
3
Đào Thế Tuấn (1997)
5
đều về nông nghiệp, nông thôn giữa các vùng sản xuất và ngay cả trong cùng một
xã là kết quả của sự tác động nhiều yếu tố
“Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”, với mục đích giải phóng sức sản xuất trong
nông nghiệp, nôngthôn, chuyển giao đất đai và các tư liệu sản xuất khác cho hộ nông
4
Nguyễn Sinh Cúc (2001)
5
Frankellis (1993)
6
dân quản lý và sử dụng lâu dài, thì các hộ nông dân đã trở thành những đơn vị tự chủ
trong sản xuất nông nghiệp, tức là thừa nhận hộ gia đình là đơn vị kinh tế cơ sở (gọi
là kinh tế hộ gia đình). Từ đó, các hộ gia đình được tự chủ trong sản xuất kinh doanh,
được toàn quyền trong điều hành sản xuất, sử dụng lao động, mua sắm vật tư kỹ
thuật, hợp tác sản xuất và tiêu thụ sản phẩm do họ làm ra. Như vậy, có thể hiểu kinh
tế hộ gia đình là một tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu của hộ gia đình, trong đó các
thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung
trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác
do pháp luật quy định
6
. Sự tồn tại của kinh tế hộ chủ yếu dựa vào lao động gia đình
để khai thác đất đai và tài nguyên khác nhằm phát triển sản xuất, thoát nghèo bền
vững và vươn lên làm giàu chính đáng.
Có thể nhận diện kinh tế hộ gia đình qua các đặc điểm chủ yếu sau:
- Kinh tế hộ gia đình được hình thành theo một cách thức tổ chức riêng trong
phạm vi gia đình. Các thành viên trong hộ cùng có chung sở hữu các tài sản cũng
như kết quả kinh doanh của họ.
- Kinh tế hộ gia đình tồn tại chủ yếu ở nông thôn, hoạt động trong lĩnh vực
nông, lâm, thủy sản. Một bộ phận khác có hoạt động phi nông
tới và chịu sự tác động của tất cả các thành phần kinh tế khác. Sự hình thành và phát
triển kinh tế hộ ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của mọi
tầng lớp dân cư trong xã hội.
Trong các học thuyết, các quan điểm của mình, các nhà kinh tế, các nhà chính
trị đã phần nào nêu lên những chứng kiến của mình về vai trò của kinh tế hộ. Trong
bất kỳ thời đại nào, bất kỳ thời điểm lịch sử nào kinh tế hộ nông dân vẫn luôn đóng
vai trò quan trọng.
- Cung cấp lương thực, thực phẩm chủ yếu phục vụ cho đời sống và nhu cầu
của con người
- Hình thành đơn vị tích tụ vốn của xã hội
Kinh tế hộ nông dân với đặc điểm là đơn vị sản xuất cơ sở và tự chủ đã đóng
vai trò là đơn vị tích tụ vốn của xã hội, cùng với các đơn vị trong các thành phần
kinh tế khác đã tạo nên một tổng thể các nguồn vốn phục vụ cho nhu cầu về vốn của
toàn xã hội.
Nguồn vốn mà các hộ nông dân tích tụ được là cơ sở cho việc chuyển từ kinh
tế tự túc tự cấp sang kinh tế hàng hóa với hiệu quả cao mang lại. Kết quả ấy sẽ tạo
điều kiện cho việc chuyển dịch cơ cấu ngành nghề trong nông nghiệp, góp phần tích
cực vào sự nghiệp CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn.
- Tạo công ăn việc làm cho người lao động
Trong quá trình sản xuất, kinh tế hộ nông dân cần sử dụng nhiều lao động với
số ngày công rất cao. Tuy nhiên với mỗi dạng hộ khác nhau, ở mỗi thời điểm và
thời kỳ phát triển của hộ khác nhau mà có nhu cầu về lao động không giống nhau:
8
Sử dụng lao động gia đình: hộ nông dân sử dụng chủ yếu lao động trong gia
đình là nguồn chủ yếu cung cấp cho nhu cầu của hộ. Đa số lao động trong hộ đều
làm việc cho sự phát triển và mục tiêu sản xuất cũng như quá trình sản xuất của hộ.
Sử dụng lao động gia đình ngoài độ tuổi lao động: đây là tình trạng khá phổ
9
Với vai trò của kinh tế hộ nếu trên, chúng ta có thể khẳng định kinh tế hộ
nông dân sẽ tồn tại và luôn là một thành phần kinh tế quan trọng của mọi quốc gia,
sự phát triển của nó không những làm cho đời sống của người dân ngày càng một nâng
cao, các nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp ngày càng được khai thác đầy đủ mà
còn có tác dụng to lớn thúc đẩy sự phát triển các thành, các ngành kinh tế khác.
1.1.4. Phân loại kinh tế hộ
Trong sản xuất nông nghiệp kinh tế hộ gia đình là loại hình kinh tế được phát
triển từ thấp đến cao, từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa. Vì vậy, căn cứ vào
mức độ phát triển kinh tế hộ ta có thể chia ra các nhóm sau:
- Nhóm kinh tế hộ sinh tồn: Là dạng phát triển thấp nhất của kinh tế hộ, các hộ
nhóm này chỉ sản xuất một số loại cây trồng vật nuôi chủ yếu nhằm duy trì cuộc sống
của gia đình họ. Họ hầu như không có hoặc có rất ít vốn, công cụ sản xuất thì thô sơ, lạc hậu
dẫn đến năng suất lao động thấp và họ tiến hành sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm.
- Nhóm kinh tế hộ tự túc: Nhóm này sản xuất ra lương thực thực phẩm cung
cấp cho nhu cầu gia đình hang ngày, sản xuất còn manh mún, lạc hậu, không chịu
tìm tòi học hỏi, luôn bằng lòng với bản thân nên hiệu quả kinh tế của nhóm hộ này
rất thấp.
- Nhóm hộ sản xuất nhỏ: Trong quá trình sản xuất có một bộ phận nông dân
làm ăn khá giả, ngoài phần sản xuất để cung cấp cho bản thân gia đình còn có phần
dư thừa để bán ra ngoài thị trường. Đây là nhóm hộ phần nào biết làm ăn, chịu khó
học hỏi nhưng vẫn chưa thực sự mạnh dạn đầu tư để làm ăn.
- Nhóm hộ kinh tế sản xuất hàng hóa lớn: Đây chính là những loại hộ sản xuất
hàng hóa nên các hộ thuộc nhóm này đã biết đầu tư phát triển loại hình kinh tế
mang đặc trưng của mô hình kinh tế trang trại.
7
Đây là những nhóm hộ thuần nông, ngoài ra còn có tham gia vào các ngành nghề
dịch vụ khác. Kế thừa những cái ông cha để lại như các ngành nghề truyền thống để
nâng cao thu nhập cho gia đình và tận dụng lao động lúc nông nhàn ở nông thôn.
Đây là nhóm nhân tố có liên quan đến thị trường và các nguồn lực chủ yếu có
ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế nói chung và phát triển kinh tế
hộ nông dân nói riêng.
- Trình độ học vấn và kỹ năng lao động:
Người lao động phải có trình độ học vấn và kỹ năng lao động để tiếp thu
những tiến bộ khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất tiên tiến. Trong sản xuất
phải giỏi chuyên môn, kỹ thuật, trình độ quản lý mới mạnh dạn áp dụng thành tựu
khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm đem lại lợi nhuận cao. Điều này rất quan
trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả trong sản xuất kinh doanh của hộ, ngoài ra
phải có tố chất của một người dám làm kinh doanh.
- Vốn:
Trong sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng, vốn là điều kiện
đảm bảo cho các hộ nông dân về tư liệu sản xuất, vật tư nguyên liệu cũng như thuê
11
nhân công để tiến hành sản xuất. Vốn là điều kiện không thể thiếu, là yếu tố cơ bản
của quá trình sản xuất và lưu thông sản phẩm.
- Công cụ sản xuất:
Trong quá trình sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng, công cụ
lao động có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các biện pháp kỹ thuật sản xuất.
Muốn sản xuất có hiệu quả, năng suất cao cần phải sử dụng hệ thống công cụ phù hợp.
Ngày nay với kỹ thuật canh tác tiên tiến, công cụ sản xuất nông nghiệp đã không
ngừng được cải tiến và đem lại hiệu quả cao cho các hộ nông dân trong sản xuất. Năng
suất cây trồng, vật nuôi không ngừng tăng lên, chất lượng sản phẩm tốt hơn, do đó
công cụ sản xuất có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả và hiệu quả trong sản xuất của các
nông hộ.
- Cơ sở hạ tầng:
Cơ sở hạ tầng chủ yếu trong nông nghiệp nông thôn bao gồm: đường giao
họ giàu lên rất nhanh. Nhờ có công nghệ mà các yếu tố sản xuất như lao động, đất
đai, sinh vật, máy móc và thời tiết khí hậu kinh tế kết hợp với nhau để tạo ra sản
phẩm nông nghiệp. Như vậy, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản
xuất nông nghiệp có tác dụng thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, thậm chí những
tiến bộ khoa học kỹ thuật làm thay đổi hẳn bằng sản xuất hàng hóa.
1.1.5.4. Nhóm nhân tố thuộc quản lý vĩ mô của Nhà nước
Nhóm nhân tố này bao gồm chính sách, chủ chương của Đảng và Nhà nước như:
chính sách thuế, chính sách ruộng đất, chính sách bảo hộ, trợ giá nông sản phẩm, miễn
thuế cho các sản phẩm mới, chính sách cho vay vốn, giải quyết việc làm, chính sách đối
với đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới… Các chính sách này có ảnh hưởng lớn đến
phát triển kinh tế nông hộ và là công cụ đắc lực để Nhà nước can thiệp có hiệu quả vào
sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện cho các hộ nông dân phát triển kinh tế.
Tóm lại: Từ các yếu tố phát triển kinh tế hộ nông dân, có thể khẳng định: Hộ
nông dân sản xuất tự túc tự cấp muốn phát triển kinh tế cần phải phá vỡ kết cấu kinh
tế khép kín của hộ để chuyển sang sản xuất với quy mô lớn và chính sách kinh tế là
tiền đề, là môi trường để đầu tư, đưa tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất để kinh tế hộ
nông dân hoạt động có hiệu quả.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Thực trạng phát triển kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam hiện nay
1.2.1.1. Những thành tựu nổi bật
Sau 25 năm được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ, sự phát triển kinh tế hộ
gia đình đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, trong đó nổi bật là:
Thứ nhất: Lĩnh vực hoạt động của các hộ nông thôn ngày càng đa dạng, nhờ
đó cơ cấu thu nhập của hộ cũng có sự thay đổi theo hướng bền vững hơn. Ngoài
những ngành nghề truyền thống như trồng lúa và các loại cây ăn trái, cây công
13
nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia cầm các hộ đã chủ động chuyển đổi ngành nghề,
11
.
1.2.1.2. Những hạn chế trong phát triển kinh tế hộ nước ta
Thứ nhất, quy mô sản xuất nhìn chung còn manh mún, nhỏ lẻ. Hiện cả nước có
hơn 15 triệu hộ gia đình nông dân đang kinh doanh trên hơn 9 triệu ha đất nông
8
http://www.vietnamplus.vn/Home/700-ho-nong-dan-Gia-Lai-thu-nhap-tu-500-trieu-dong/20124/137828.vnplus.
9
http://www.hoinongdan.org.vn/index.php/van-ban-hoi/bao-cao.
10
“Kinh tế hộ gia đình trong sản xuất nông nghiệp hàng hóa”, http://thongtinphapluat.vn.
11
http://www.hoinongdan.org.vn/index.php/van-ban-hoi/bao-cao.
14
nghiệp, được chia ra khoảng 70 triệu thửa. Tính ra, mỗi hộ chỉ được 0,6 ha nhưng
phải cày cấy trên 4-5 thửa ruộng. Diện tích ruộng nhỏ, lại đan xen giữa các hộ khiến
việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng hết sức khó khăn. Tình hình
của các hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp cũng không khả quan hơn. Mặt bằng
kinh doanh của các hộ này chỉ khoảng 120 m
2
/hộ (trong đó chủ yếu là đất đai sẵn có
của họ), với số vốn kinh doanh bình quân/hộ cũng chỉ khoảng 80 triệu đồng, lao
động sử dụng bình quân 2,1 người/hộ (trong đó 98% số hộ sử dụng dưới 5 lao động
và 56% số hộ chỉ sử dụng 1 lao động).
12
http://www.doko.vn/danh-gia-hieu-qua-cua-chinh-sach-khuyen-khich-tieu-thu-nong-san-hang-
hoa-thong-qua-hop-dong 330837
15
và miền núi phía Bắc do điều kiện thời tiết khí hậu rất khắc nghiệt đã làm giảm mùa
vụ và năng suất cây trồng vật nuôi. Cụ thể, tại các địa phương đó hiện chỉ có 16,4%
diện tích đất ruộng chủ động được nước tưới, nhiều diện tích đất trồng lúa do thiếu
nước nên chỉ sản xuất được một vụ
14
.
Có thể thấy, lối canh tác lạc hậu là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn
đến tình trạng trên. Chính những hạn chế trong áp dụng khoa học kỹ thuật, nhất là
công nghệ hiện đại vào sản xuất đã làm cho các hộ bị lệ thuộc vào tự nhiên, do đó
để tạo được sự phát triển bền vững trong phát triển là rất khó. Cho đến nay, vẫn còn
rất nhiều nông dân tiến hành sản xuất bằng phương pháp thủ công, từ khâu làm đất,
gieo mạ, cấy, gặt, đến vận chuyển và chế biến Điều đó không chỉ ảnh hưởng tới
tính thời vụ mà còn làm tăng tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch, làm cho sản lượng đã
thấp càng thấp hơn. Cũng do đặc điểm sản xuất nhỏ, gắn chặt với tự nhiên nên để
tăng thêm sản lượng, hầu hết các hộ gia đình đều dựa vào việc bóc lột tài nguyên
đến cạn kiệt, sử dụng quá nhiều các loại phân bón hóa học, thuốc trừ sâu đã làm
cho môi trường bị hủy hoại nhanh và ngày càng trầm trọng. Điều đó không chỉ ảnh
hưởng đến sức khỏe và thu nhập của thế hệ hiện tại mà còn ảnh hưởng lâu dài đến
cả các thế hệ mai sau.
Thứ tư, cơ cấu ngành nghề còn lạc hậu. Số liệu tổng điều tra nông thôn, nông
nghiệp và thủy sản năm 2011 cho thấy, hiện cả nước còn 62% tổng số hộ gia đình
nông thôn vẫn sinh sống bằng nghề nông; và nông, lâm nghiệp, thủy sản vẫn là
nguồn thu nhập chủ yếu của 57,8% tổng số hộ, trong đó 12 tỉnh có tỷ lệ này trên
sản xuất chủ yếu của người dân trên địa bàn tỉnh. Nó đã góp phần nâng cao đời sống
của người dân, đóng góp vào GDP của tỉnh và của cả nước.
Cây trồng chủ yếu của tỉnh là các cây lương thực (lúa, ngô, khoai); cây công
nghiệp ngắn ngày (đỗ tương, lạc). Ngành chăn nuôi của tỉnh Nam Định tập trung
vào các loại gia súc lớn như trâu, bò, và các loại gia cầm.
Trong thời gian tới, tỉnh có dự án phát triển hơn nữa về kinh tế hộ như: đầu
tư vốn cho người dân sản xuất, tập huấn cho người dân về kỹ thuật sản xuất, ứng
dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào thực tế nhằm góp phần tăng năng
suất cây trồng, vật nuôi và thu nhập của người dân cũng tăng lên, đời sống của
người dân cũng đi vào ổn định và dần được nâng cao. 16
http://www.namdinh.gov.vn/Home/Tintrongtinh/2011/2707/Bao-cao-tom-tat-tinh-hinh-ket-qua-
thuc-hien-nhiem-vu.aspx. 17
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: là kinh tế hộ nông dân trên địa bàn xã Yên Phúc
huyện Ý Yên tỉnh Nam Định.
- Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn xã Yên Phúc huyện Ý
Yên tỉnh Nam Định.
nghiệp và cây lâu năm, đặc biệt là cây lúa nước. Hàng năm luôn chịu ảnh hưởng của
các cơn bão, gây ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân trên địa
bàn xã. Theo số liệu thống kê của Tổng cục khí tượng thủy văn, trung bình mỗi năm
có 2 cơn bão đổ bộ vào và thường xuyên xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 11. Nhiều
nhất vào tháng 6 đến tháng 9 gây thiệt hại về người và của. Các hộ nông dân trên
địa bàn xã chủ yếu là hoạt động sản xuất nông nghiệp, dân có truyền thống cần cù
sang tạo chăm chỉ lao động. Mục đích của các hộ nông dân hiện nay là sản xuất cái
gì và sản xuất như thế nào để đạt được giá trị và hiệu quả kinh tế cao nhất trên một
đơn vị diện tích và sử dụng được nhiều lao động gia đình. Vì thế đời sống của người
dân mới ngày càng được cải thiện.
Tuy nhiên các hộ nông dân trên địa bàn xã chưa thực sự tận dụng tối đa lợi thế
của vùng trong sản xuất nông nghiệp để phát triển kinh tế hộ. Trên địa bàn xã số hộ
nghèo vẫn còn chiếm tỷ lệ cao (chiếm 13,35%). Vì vậy, tôi lựa chọn xã Yên Phúc
làm địa điểm nghiên cứu cho đề tài của mình nhằm giúp địa phương hệ thống hóa
cơ sở lý luận, thực tiễn, tổng kết lại thực trạng, đánh giá những khó khăn, thuận lợi
và giúp người dân có những kế hoạch khả thi nhằm nâng cao đời sống.
Bảng 2.1. Diện tích và số hộ của các xóm trong xã Yên Phúc
STT Xóm Diện tích (ha) Số hộ (hộ)
1 Đồng Lạc
82,34 375
2 Hùng Vương 70,82 300
3 Vĩnh Ninh 63,45 250
4 An Quang 2 60,35 146
5 Yên Bình 60,85 140
6 Nguyễn 60,76 147
7 An Thành 60,35 150
8 An Quang 1 55,94 135
9 Trung 54,75 130
10 Lê Lợi 50,01 147
11 Trúc 49,33 120