ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ NGỌC NGUYÊN
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA QUY MÔ CHUỒNG NUÔI
ĐẾN SẢN XUẤT CỦA GÀ ISA BROWN GIAI ĐOẠN HẬU BỊ
NUÔI CHUỒNG KÍN TẠI THÁI NGUYÊNKHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Chăn nuôi - Thú y
Khoa : Chăn nuôi - Thú y
Khóa học : 2010 - 2014
THÁI NGUYÊN – 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y, các thầy giáo, cô giáo đã tận
tình dìu dắt em trong suốt thời gian học tập tại trường.
Đặc biệt em xin được bày tỏ lòng biết ơn trước sự quan tâm, giúp đỡ
của thầy giáo PGS.TS.Trần Thanh Vân đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em
hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin cảm ơn gia đình ông Nguyễn Tiến Quang đã tạo mọi điều kiện
giúp đỡ em trong quá trình thực tập tại trại gà xã Sơn Cẩm, huyện Phú Lương,
tỉnh Thái Nguyên.
Ngoài ra em còn nhận được sự quan tâm, động viên, tạo mọi điều kiện
và giúp đỡ tận tình từ phía gia đình, bạn bè đồng nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn trước mọi sự giúp đỡ quý báu đó !
Thái nguyên, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Vũ Ngọc Nguyên LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình đào tạo trong nhà trường, thực hiện phương
châm “Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn với thực tiễn sản xuất”, thực tập tốt
nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình học tập của tất cả các
trường Đại học nói chung và trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng.
Giai đoạn thực tập chiếm một vị trí hết sức quan trọng đối với mỗi sinh
viên trước khi ra trường. Đây là khoảng thời gian để sinh viên củng cố và hệ
thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh viên làm quen với
thực tiễn sản xuất, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được phương
DANH MỤC CÁC BIỂU
Biểu đồ 4.1. Chi phí trực tiếp cho một gà hậu bị Isa brown…………………….…40
Biểu đồ 4.2. Hiệu quả kinh tế trên một gà hậu bị Isa brown…………………… 41
MỤC LỤC
PHẦN 1. CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1
1.1. Điều tra cơ bản 1
1.1.1. Điều kiện tự nhiên 1
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 2
1.1.3. Tình hình sản xuất 3
1.1.4. Đánh giá chung 5
1.2. Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất 6
1.2.1. Nội dung phục vụ sản xuất 6
1.2.2. Phương pháp tiến hành 7
2.3.4. Nội dung nghiên cứu 27
2.3.5. Phương pháp nghiên cứu 27
2.3.6. Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi 28
2.3.7. Phương pháp xử lý số liệu 30
2.4. Kết quả và thảo luận 30
2.4.1. Theo dõi tiểu khí hậu chuồng nuôi 30
2.4.2. Tỷ lệ nuôi sống 31
2.4.3. Khối lượng gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 33
2.4.4. Tỷ lệ đồng đều và kỹ thuật điều chỉnh 35
2.4.5. Khả năng sử dụng thức ăn của gà thí nghiệm 36
2.4.6. Tình hình nhiễm một số bệnh ở gà thí nghiệm 38
2.4.7. Chi phí trực tiếp cho 1 gà hậu bị 40
2.5. KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 42
2.5.1. Kết luận 42
2.5.2. Tồn tại 42
1.1.1.4. Điều kiện khí hậu thủy văn
Xã Sơn Cẩm mang những nét chung của khí hậu vùng đông bắc Việt
Nam, thuộc miền khí hậu cận nhiệt đới ẩm, có mùa đông phi nhiệt đới lạnh
giá, ít mưa, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều. Khí hậu của thành phố Thái Nguyên
chia làm 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông và nằm trong vùng ấm của tỉnh, có lượng
mưa trung bình khá lớn.
2
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
1.1.2.1. Tình hình dân cư quanh trại
* Về dân cư
Theo số liệu của ủy ban nhân dân xã thì dân số của xã trong năm 2012
là 13.207 với 3.259 hộ được chia làm 19 xóm, gồm 8 dân tộc anh em sinh
sống là: Kinh, Sán Dìu, Hoa, Tày, Sán Chí,…Trong đó dân tộc thiểu số chiếm
40 % dân số toàn xã.
Đời sống văn hóa tinh thần của người dân những năm gần đây được
nâng cao rõ rệt, hầu hết các hộ gia đình đều có phương tiện nghe nhìn như: đài,
ti vi, sách báo. Đây là điều kiện để nhân dân trong xã nắm bắt kịp thời được các
chủ trương của Đảng và Nhà Nước, các thông tin khoa học kỹ thuật để phục vụ
đời sống hàng ngày.
* Về y tế
Trạm y tế xã luôn làm tốt các công tác dự phòng, các trương trình y tế
Quốc Gia, duy trì và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, chăm sóc sức
khỏe cho nhân dân, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các dịch bệnh có
nguy cơ xảy ra trên địa bàn. Năm 2012, trạm xã đã khám và điều trị cho nhân
dân được 11.000/7.000 lượt người, duy trì công tác tiêm chủng và cho trẻ em
uống Vitamin đạt 100 %. Tỷ lệ người sử dụng nước sạch đạt 73 %. Xã cũng
tổ chức khám sức khỏe cho các đối tương chính sách, tổ chức tập huấn
VSATTP và khám định kỳ cho các đối tượng kinh doanh.
* Về giáo dục
Xã có nhiều cơ quan trường học đóng trên địa bàn xã như: trường Mầm
sản xuất. Ngoài ra, còn có một số cây khác được trồng khá nhiều như: khoai
lang, lạc, ngô, đậu tương,… và một số rau màu khác được trồng xen giữa các
vụ lúa nhưng chủ yếu là trồng vào mùa đông.
Để nâng cao năng suất cây trồng, xã không ngừng đầu tư cải thiện hệ
thống thủy lợi. Năm 2013, xã đã tu sửa tuyến mương của 2 hợp tác xã và các
trạm bơm, hồ đập chứa nước phục vụ sản xuất, Người dân đã biết áp dụng các
biện pháp kỹ thuật mới vào sản xuất, mạnh dạn đưa các giống mới vào sản xuất.
- Cây ăn quả: Diện tích trồng cây ăn quả khá lớn, song diện tích vườn tạp
là chủ yếu, cây trồng thiếu tập trung lại chưa thâm canh, nên năng suất thấp.
4
Sản phẩm chủ yếu mang tính tự cung tự cấp, chưa mang tính hàng hóa.
Cây ăn quả chủ yếu là: na, nhãn, vải,…
- Cây lâm nghiệp: Với đặc điểm của vùng trung du miền núi, do đó
diện tích đất đồi núi khá cao. Xã đã có chính sách giao đất, giao rừng cho các
hộ nông dân nên diện tích đất lâm nghiệp đã được nâng cao (năm 2013 đã
trồng mới và trồng lại được 43,5 ha rừng). Xã đã hướng dẫn hoạt động và
khai thác gỗ trên địa bàn theo quy định. Trong năm 2013, hiện tượng chặt phá
trái phép đã giảm. Xã đã làm tốt công tác phòng cháy chữa cháy, trong năm
không xảy ra cháy rừng
1.1.3.2. Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi
Ngành chăn nuôi của xã chủ yếu là chăn nuôi hộ gia đình, tận dụng các
phụ phẩm của ngành trồng trọt là chủ yếu. Tuy nhiên trong những năm gần
đây nhiều hộ gia đình đã mạnh dạn đầu tư vốn, kỹ thuật, con giống mới có
năng suất cao, trang thiết bị hiện đại vào chăn nuôi nên sản phẩm của ngành
chăn nuôi từng bước được nâng cao và đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ của thị
trường cụ thể như sau:
- Chăn nuôi trâu bò
Tổng đàn trâu bò của xã năm 2013 khoảng 245 con, trong đó chủ yếu là
trâu. Hình thức chăn nuôi trâu bò chủ yếu là tận dụng bãi thả tự nhiên và sản
phẩm phụ của ngành trồng trọt, nên thức ăn cung cấp cho trâu bò chưa thật
1.1.4.1. Thuận lợi
Xã Sơn Cẩm là xã phía Nam của huyện Phú Lương có đường quốc lộ 3
chạy qua. Xã có nhiều tài nguyên thiên nhiên, gồm các loại nguyên liệu nông
lâm sản, quặng, than,
Xã tiếp giáp với một vùng trung tâm đào tạo và khoa học lớn của vùng
núi đó là thành phố Thái Nguyên và các trung tâm công nghiệp Sông Công
cách thành phố khoảng 30 km về phía Hà Nội.
Với những điều kiện này, xã có thể gửi cán bộ kỹ thuật đi đào tạo tại
các trường trung tâm dạy nghề để về phục vụ cho xã. Ngoài ra với kết cấu hạ
tầng ngày càng hoàn thiện, gắn với vùng kinh tế trọng điểm phía bắc với các
tỉnh vùng núi phía Bắc nên thu hút nhiều dự án đầu tư trong và ngoài nước
tạo điều kiện cho nền kinh tế của xã phát triển, cũng như việc tiếp cận khoa
học kỹ thuật của xã thuận lợi hơn
6
1.1.4.2. Khó khăn
Hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển chưa đồng bộ, nhiều nơi còn ở tình
trạng yếu kém, hạn chế khả năng thu hút đầu tư vào địa bàn hoặc không
khuyến khích đầu tư trong dân.
Sản xuất nông nghiệp trong xã vẫn là chủ yếu, năng suất lao động xã
hội thấp, khả năng tích lũy không đáng kể.
- Không có khu vực vành đai, vùng đệm, nên công tác phòng bệnh còn
gặp nhiều khó khăn.
- Đất đai bạc màu, nghèo chất dinh dưỡng và khí hậu của một số tháng
trong năm không thuận lợi nên việc sản xuất còn gặp nhiều khó khăn.
- Các cơ sở tiểu thủ công nghiệp được hình thành từ lâu nên thiết bị
công nghệ quá cũ và lạc hậu, sản phẩm còn hạn chế. Các mỏ than khai thác từ
lâu, hầu như đã cạn kiệt, khó khai thác.
- Xã còn thiếu nhiều lao động có tay nghề cao, các nhà quản lý kinh
doanh có chuyên môn giỏi, có trình độ đáp ứng những thách thức gay gắt của
nền kinh tế thị trường.
Cùng với việc thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học, chúng tôi đã tiến
hành nuôi gà theo quy trình cụ thể như sau:
- Ứng dụng kỹ thuật chăn nuôi gà thịt
- Công tác chuẩn bị trước khi nuôi gà
Trước khi cho gà vào chuồng nuôi 5 ngày chúng tôi tiến hành công tác
vệ sinh, sát trung chuồng nuôi. Chuồng nuôi được quét dọn sạch sẽ, cọ rửa
bằng vòi cao áp và phun thuốc sát trùng Benkocid 30%, với nồng độ 50
ml/20lít nước, 1 lít dung dịch phun cho 4 m
2
. Sau khi vệ sinh sát trùng chuồng
nuôi được khoá kín lại, kéo bạt và hệ thống rèm kín.
Tất cả các dụng cụ sử dụng trong chăn nuôi như: Máng ăn, máng uống,
chụp sưởi, quay úm, bình pha thuốc,… đều được cọ rửa sạch sẽ và phun thuốc
sát trùng trước khi đưa vào chuồng nuôi.
Đệm lót sử dụng là trấu khô, sạch được phun sát trùng trước khi đưa gà
vào một ngày, độ dày của đệm lót tuỳ thuộc vào điều kiện thời tiết.
Chuồng nuôi trước khi đem gà con vào quây úm phải đảm bảo các
thông số kỹ thuật sau: Sạch sẽ, khô ráo, thoáng mát về mùa hè và ấm áp về
mùa đông. Toàn bộ chuồng nuôi phải có rèm che có thể di động được, có hệ
thống đèn chiếu sáng và đèn sưởi, có hệ thống quạt để chống nóng.
8
* Công tác chăm sóc nuôi dưỡng
Tùy theo từng giai đoạn phát triển của gà và tùy từng loại gà mà ta áp
dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng phù hợp.
- Giai đoạn úm gà con: Khi chuyển từ khu ấp trứng về chuồng nuôi
chúng tôi tiến hành cho gà con vào quây và cho gà uống nước ngay. Nước
uống cho gà phải sạch và pha B.complex + vitamin C + đường glucoza 5%
cho gà uống hết lượt sau 2-3h mới cho gà ăn bằng máng.
Giai đoạn này yếu tố nhiệt độ trong quây là 33 - 35
* Chế độ chiếu sáng
Chế độ chiếu sáng cùng với chế độ ăn có tác dụng kích thích hay kìm
hãm sự phát dục của gà sớm hay muộn hơn quy định. Điều cần ghi nhớ để áp
dụng cho đàn gà sinh sản đó là: Không tăng lượng thời gian chiếu sáng và
cường độ chiếu sáng trong giai đoạn hậu bị, không được giảm thời gian và
cường độ chiếu sáng trong giai đoạn đẻ trứng. Với chuồng nuôi ở trại là
chuồng kín, việc khống chế thời gian chiếu sáng là rất dễ.
1.2.3.2. Công tác thú y
* Công tác phòng bệnh cho đàn gà
Trong chăn nuôi, công tác đề phòng dịch bệnh rất quan trọng, là yếu tố
quyết định đến hiệu quả kinh tế chăn nuôi và an ninh kinh tế nông nghiệp. Do
vậy, trong quá trình chăn nuôi, chúng tôi cùng với cán bộ kỹ thuật, gia đình chủ
trại thường xuyên quét dọn vệ sinh, khơi thông cống rãnh, phát quang bụi rậm,
phun thuốc sát trùng định kỳ, tẩy uế, khử trùng máng ăn, máng uống. Trước khi
vào chuồng cho gà ăn phải thay bằng quần áo lao động đã được giặt sạch, đi
ủng, đeo khẩu trang để bảo vệ sức khỏe người lao động và phòng bệnh cho gia
cầm. Gà nuôi ở trại được sử dụng thuốc phòng bệnh theo lịch trình.
Tiêm phòng vắc-xin cho đàn gia cầm để có miễn dịch chủ động bảo đảm
an toàn trước dịch bệnh. Trước ngày sử dụng vắc-xin không pha thuốc kháng
sinh vào nước uống trong vòng 8 - 12h, pha vắc-xin vào lọ dùng để nhỏ trực
tiếp vào miệng, mắt, mũi hoặc pha loãng ở dạng dung dịch để tiêm. Tính toán
liều vắc-xin phải đủ để mỗi con nhận được một liều. Dụng cụ pha phải đảm bảo
từ 20-25
0
.
Chúng tôi sử dụng vắc-xin phòng bệnh cho đàn gà theo lịch như sau:
Bảng 1.1. Lịch tiêm vắc-xin phòng bệnh cho gà
Ngày
tuổi
Sưng phù đầu Coryza
Coryza (Haemovac) 1dose
+ Gentamycin 8 mg/1kg TT
Tiêm bắp
42
Newcastle ND (Killed) 1 dose Tiêm dưới da
Newcastle + Viêm PQTN
ND +IB (Clone30 + Ma5) Nhỏ mắt
56
Viêm TKQTN
ILT Injections Laryngral
Disease
Nhỏ mũi
Cúm gia cầm H
5
N
1
hoặc H
5
N
2
Tiêm dưới da
98
Newcastle + Viêm PQTN ND + IB Nhỏ mắt
Sưng phù đầu Coryza Coryza Tiêm bắp
- Điều trị: Khi đàn gà bị nhiễm chúng tôi tiến hành điều trị như sau:
+ Dùng Rigecoccin: liều trị 1 g/4 lít nước uống.
+ B.complex với liều 1 g/2 lít nước
Cho gà uống liên tục trong 3 - 4 ngày thì thấy gà hoạt động và ăn uống
bình thường, không thấy máu trong phân nữa trở lại dùng thuốc phòng Cầu
trùng theo như lịch trình 2/3 (liều phòng).
Bệnh CRD
- Nguyên nhân: Do Mycoplasma gallisepticum gây ra. Bệnh thường
xảy ra ở đàn gà 3 tuần tuổi và gà trưởng thành. Bệnh phát triển mạnh vào thời
điểm mưa phùn, ẩm độ cao.
- Triệu chứng: Các triệu chứng qua quan sát gà bệnh thấy: Một số con
thở khò khè, tiếng ran sâu, há mồm ra để thở, gà hay cạo mỏ xuống nền
chuồng ủ rũ, có con chảy nước mắt, nước mũi.
- Nguyên nhân: Bệnh do Mycoplasma gallicepticum gây ra.
- Điều trị: Sau khi quan sát thấy các triệu chứng như trên chúng tôi
chẩn đoán gà bị mắc bênh CRD và tiến hành điều trị như sau:
Cho toàn đàn uống kháng sinh, kết hợp B.complex bắt riêng những gà
có biểu hiện bệnh nặng sang chuồng khác để cách ly và tiến hành điều trị.
+ Anti - CRD với liều: 2 g/lít nước uống đồng thời cho uống
B.complex với liều 1 g/2lít nước uống, cho gà uống liên tục trong 5 ngày.
Sau 4 ngày điều trị gà trở lại bình thường, không còn các triệu chứng trên.
Sau 5 tháng thực tập tại trại, tôi đã tham gia và hoàn thành được một số
tác phục vụ sản xuất phục vụ sản xuất đã đề ra. Kết quả công tác phục vụ sản
xuất được thể hiện tổng quát qua bảng kết quả sau:
12
Bảng 1.2. Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Nội dung công việc
Số lượng
(con)
Kết quả
trong thời gian thực tập tôi luôn cố gắng học hỏi, rèn luyện để nâng cao năng
lực chuyên môn, tay nghề:
+ Phòng bệnh bằng vaccine cho đàn gà thịt, gà hậu bị 7, 14, 21 và 42
ngày tuổi.
+ Chăm sóc nuôi dưỡng và điều trị bệnh cho đàn gà đẻ, gà hậu bị, gà
thịt.
+ Phun thuốc sát trùng vệ sinh chuông trại chăn nuôi.
+ Nuôi đàn gà hậu bị.
1.3. Kết luận và đề nghị
13
1.3.1. Kết luận
1.3.1.1. Bài học kinh nhiệm
Qua thời gian thực tập ở nông hộ thuộc xã Sơn Cẩm, huyện Phú Lương,
được sự giúp đỡ tận tình của lãnh đạo xã, của cán bộ kỹ thuật trại, cũng như
của chủ trại, đặc biệt là sự quan tâm hướng dẫn tận tình của thầy giáo hướng
dẫn PGS.TS. Trần Thanh Vân em đã bước đầu tiếp xúc với thực tế sản xuất,
đã trưởng thành nhiều về chuyên môn, cũng như biết cách tổ chức một trang
trại gà. Điều quan trọng nhất là em đã rút ra được bài học kinh nghiệm bổ ích
về chuyên môn từ thực tiễn sản xuất như:
- Áp dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất.
- Nắm được quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng, quy trình phòng
bệnh cho đàn gà.
- Biết cách chẩn đoán và nắm được biện pháp điều trị một số bệnh
thông thường.
- Tay nghề thực tế được nâng cao rõ rệt.
Ngoài ra trong thời gian thực tập, do được tiếp xúc với thực tế sản xuất
đã giúp em có niềm tin vào bản thân, rèn luyện tác phong làm việc, trau dồi
cũng kiến thức,… Đây là một việc rất cần thiết đối với bản thân em cũng như
tất cả các bạn sinh viên trước khi tốt nghiệp ra trường.
1.3.2. Đề nghị
một nước nuôi nhiều gà, đứng hàng thứ 27 - 34 trên thế giới và nhóm đầu khu
vực Ðông Nam Á.
Trong những năm gần đây với mục tiêu thực hiện công nghiệp - hóa
hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn theo chủ trương của Ðảng và Nhà Nước,
ngành chăn nuôi đã có được sự đầu tư về khoa học kỹ thuật, vốn, đưa giống
mới có năng suất, chất lượng hiệu quả cao vào sản xuất góp phần vào thay đổi
bộ mặt kinh tế nông thôn. Với những chính sách thuận lợi và phù hợp của nhà
nước, nên ngành chăn nuôi gà đã và đang phát triển mạnh mẽ với rất nhiều
trại nuôi gà với nhiều quy mô.
Giống gà Isa brown được nhập về nước ta từ Pháp, năm 1998, cũng
đang được phát triển với nhiều quy mô trang trại lớn. Đây là giống gà cho năng
suất trứng cao, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi. Tuy nhiên,
quy mô đàn ảnh hưởng như thế nào đến sức sản xuất trứng của gà thương phẩm
Isa brown chưa được nghiên cứu nhiều, vì vậy em đã thực hiện đề tài: “Nghiên
15
cứu ảnh hưởng của quy mô chuồng nuôi đến sức sản xuất của gà Isa brown
giai đoạn hậu bị nuôi chuồng kín tại Thái Nguyên”
2.1.1. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá khả năng sản xuất của gà Isa brown giai đoạn hậu bị.
- Ảnh hưởng của tiểu khí hậu chuồng nuôi tới khả năng sản xuất của gà
Isa brown giai đoạn hậu bị.
2.1.2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Kết quả của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo trong các nghiên cứu
tiếp theo.
- Cơ sở khoa học để khuyến cáo người dân cách nuôi dưỡng và chăm
sóc gà có hiệu quả.
2.2. Tổng quan tài liệu
2.2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1.1. Đặc điểm sinh học về gia cầm
* Sinh trưởng
lên về khối lượng, số lượng và các chiều của các tế bào mô cơ (theo
Nguyễn Thu Quyên, 2008 [13]).
Theo Trần đình Miên và cộng sự, (1992) [10] phát hiện ra quy luật ưu
tiên các chất dinh dưỡng đối với sự phát triển của các cơ quan tiêu hóa, tổ
chức cơ, tổ chức mỡ, sau khi thừa các chất dinh dưỡng mới cho tích lũy mỡ.
Sinh trưởng là quá trình sinh lý phức tạp kéo dài từ lúc trứng được thụ
tinh đến khi con vật trưởng thành. Việc đánh giá chính xác toàn bộ quá trình
sinh trưởng là một công việc khó khăn phức tạp. Ngày nay các nhà chọn
giống vật nuôi có khuynh hướng sử dụng các phương pháp đơn giản và thực
tế. Đó là, xác định khả năng sinh trưởng theo ba hướng: chiều cao, thể tích và
khối lượng.
Khối lượng cơ thể : Về mặt sinh học sinh trưởng được coi như là quá trình
tổng hợp tích lũy dần các chất mà chủ yếu là protein. Do vậy, có thể lấy việc tăng
khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng của gia súc, gia cầm.
Khối lượng cơ thể gia cầm là một tính trạng di truyền số lượng. Tính trạng
này có hệ số di truyền khá cao và phụ thuộc nhiều vào đặc điểm của giống, loài.
Còn theo Brandsch và Bilchel, (1972) [16] thì hệ số di truyền là 40 – 60 %.
17
Ngoài ra, tính trạng khối lượng cơ thể còn liên quan và phụ thuộc vào
tính biệt, tuổi, hướng sản xuất, đồng thời biến đổi mạnh dưới tác động của
ngoại cảnh, môi trường.
Khối lượng cơ thể còn tương quan với khối lượng trứng cũng như kích
thước tất cả các phần của cơ thể ở 8 tuần tuổi. Giữa khối lượng cơ thể và sức
đẻ có mối tương quan âm.
- Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng:
Theo Trần Đình Miên và cộng sự, (1975) [10] tốc độ sinh trưởng là
cường độ tăng của các chiều của cơ thể trong khoảng thời gian nhất định.
Trong chăn nuôi gia cầm người ta thường sử dụng hai chỉ số để mô tả tốc độ
sinh trưởng: sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối.
Sinh trưởng tuyệt đối là sự tăng lên về khối lượng kích thước và thể