Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân sách nhà nước (NSNN) là công cụ tài chính chủ yếu của nhà nước để đảm
bảo về mặt vật chất cho bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng nhiệm vụ mà nhà
nước đảm nhận. Trong phạm vi địa phương, ngân sách địa phương (NSĐP) tồn tại như
một tất yếu khách quan, là công cụ để chính quyền địa phương thực hiện các nhiệm vụ
phát triển kinh tế - xã hội của mình.
Trong bối cảnh hiện nay, với việc phát triển kinh tế thị trường trong điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và công nghiệp hóa hiện đại
hóa được đặt ra rất nặng nề. Với nguồn thu ngân sách hạn hẹp, không ổn định, trong khi
nhu cầu chi ngân sách ngày càng lớn, đòi hỏi phải tăng cường quản lý NSNN là nhiệm
vụ lớn của phường Trung Tự trong hiện tại cũng như tương lai. Với hy vọng có thể góp
một phần nhỏ bé vào việc tăng cường quản lý ngân sách nhà nước một cách hiệu quả
hơn em đã chọn đề tài sau cho chuyên đề thực tập của mình:
“Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích tình hình thu chi ngân
sách phường Trung Tự thời kỳ 2003-2007”
Kết cấu đề tài gồm 3 chương chính:
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Chương 2: XÁC ĐỊNH HỆ THỐNG CHỈ TIÊU VÀ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP
THỐNG KÊ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THU CHI NSĐP
Chương 3: VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ PHÂN TÍCH
TÌNH HÌNH THU CHI NSĐP Ở PHƯỜNG TRUNG TỰ (thời kỳ 2003-2007)
Do thời gian và kiến thức có hạn nên đề tài của em không tránh khỏi thiếu sót. Em
rất mong được sự đánh giá và góp ý của các thầy cô giáo để cho đề tài của em hoàn thiện
hơn nữa.
Em xin chân thành cám ơn PGS-TS Nguyễn Công Nhự đã tận tình hướng dẫn
em trong suốt thời gian thực tập cũng như giúp em hoàn thành tốt chuyên đề thực
tập!
1
hoạt động kinh tế xã hội. Các khoản thu chi này được tổng hợp trong một bảng dự toán
thu chi tài chính được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Các khoản thu
mang tính chất bắt buộc của Ngân sách Nhà nước là một bộ phận các nguồn tài chính
chủ yếu được tạo ra thông qua việc phân phối thu nhập được sáng tạo ra trong khu vực
sản xuất kinh doanh và các khoản chi chủ yếu của Ngân sách mang tính chất cấp phát
phục vụ cho đầu tư phát triển và tiêu dùng của xã hội .Như vậy, về hình thức có thể hiểu:
Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước có trong dự toán, đã
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và được thực hiện trong một năm để
đảm bảo việc thực hiện chức năng,nhiệm vụ của nhà nước.
Tuy nhiên, hoạt động của Ngân sách Nhà nước là hoạt động phân phối các nguồn
tài chính của xã hội gắn liền với việc hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung là Ngân
sách nhà nước. Trong quá trình phân phối đó đã làm nảy sinh các quan hệ tài chính giữa
một bên là nhà nuớc và một bên là các chủ thể trong xã hội. Những quan hệ tài chính này
bao gồm:
*Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các doanh nghiệp: Các quan hệ kinh tế này phát
sinh trong quá trình hình thành nguồn thu của Ngân sách dưới hình thức các loại thuế mà
doanh nghiệp phải nộp. Đồng thời, Ngân sách chi hổ trợ cho sự phát triển của doanh
nghiệp dưới hình thức xây dựng cơ sở hạ tầng, hổ trợ vốn…
*Quan hệ kinh tế giữa NSNN và các đơn vị hành chính sự nghiệp: Quan hệ này
phát sinh trong qúa trình phân phối lại các khoản thu nhập bằng việc Ngân sách nhà
nước cấp kinh phí cho các đơn vị quản lý nhà nước. Đồng thời, trong cơ chế kinh tế thị
trường các đơn vị có hoạt động sự nghiệp có các khoản thu phí và lệ phí, nguồn thu này
một phần các đơn vị làm nghĩa vụ tài chính đối với ngân sách, một phần trang trải các
khoản chi tiêu của mình để giảm bớt gánh nặng cho ngân sách.
*Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các tầng lớp dân cư: Quan hệ này được thể hiện
qua việc một bộ phận dân cư thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước bằng việc
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phương tiện vật chất cho cấp chính quyền đó thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình
trên vùng lãnh thổ. Việc hình thành hệ thống chính quyền nhà nước các cấp là một tất
yếu khách quan nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trên mọi vùng lãnh
thổ của đất nước. Chính sự ra đời của hệ thống chính quyền nhà nước nhiều cấp là tiền
đề cần thiết để tổ chức hệ thống NSNN nhiều cấp.
Là một quốc gia thống nhất, dựa trên nguyên tắc phân chia hành chính lãnh thổ
theo các cấp: trung ương, tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương), huyện (và tương
đương), xã (và tương đương). Các đơn vị hành chính lãnh thổ từ tỉnh xuống xã là những
cấu trúc lệ thuộc theo nguyên tắc cấp dưới phục tùng cấp trên, địa phương phục tùng
trung ương. Do vậy, tổ chức hệ thống NSNN cũng đảm bảo tính tập trung thống nhất,
phù hợp với hệ thống hành chính 4 cấp (trung ương, tỉnh, huyện, xã).
Phù hợp với tổ chức bộ máy Nhà nước ta hiện nay, hệ thống NSNN được tổ chức
thành một hệ thống thống nhất như sơ đồ ở Hình 1.1:
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa NSNN với tổ chức bộ máy chính quyền
Bảng 1.1: Các khoản mục thu, chi Ngân sách nhà nước
Nội dung của ngân sách hiện nay
6
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Chính quyền
địa phương
NS
Trung ương
Chính quyền
Trung ương
NS cấp tỉnh
Lãi vốn góp của Nhà nước vào các cơ sở kinh tế;
X
Thu hồi vốn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tế;
X
Thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (cả gốc và lãi)
X
3. Thu sự nghiệp
X
4. Thu từ quỹ dự trữ nhà nước
X
5. Thu sử dụng đất: Thu nhập từ tài sản và đất đai nhà
nước
X
6. Vốn đóng góp của các tổ chức và cá nhân đầu tư xây
dựng các công trình kết cấu hạ tầng
X
7. Đóng góp tự nguyện của các tổ chức và cá nhân trong
và ngoài nước
X
8. Bất động sản Nhà nước được hưởng theo di chúc
X X
9. Thu kết dư ngân sách năm trước.
X X
10. Tiền bán hoặc cho thuê các tài sản Nhà nước trong
các đơn vị hành chính sự nghiệp
X
11. Tiền phạt và tịch thu
X X
12. Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
Hoạt động của Đảng Cộng sản Việt nam.
X X
Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt nam, Tổng
Liên đoàn Lao động Việt nam, Đoàn Thanh niên Cộng
sản, Hội Cựu chiến binh, Liên hiệp Phụ nữ Việt nam và
Hội Nông dân Việt nam
X
Trợ giá theo chính sách của Nhà nước.
X
Các chương trình mục tiêu quốc gia.
X
Hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định của Chính
phủ.
X
Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội.
X
Trợ cấp cho các tổ chức xã hội nghề nghiệp theo quy
định của pháp luật.
X
Trả lãi tiền do Chính phủ vay
X
X
Cho vay chính phủ phục vụ đầu tư phát triển
X
3. Chi trả nợ gốc các khoản vay của Chính phủ
X
4. Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính
50% được dùng để chi cho các chương trình mục tiêu
quốc gia ưu tiên nhưng cũng có thể dùng để làm ngân
sách dự phòng
X
vv.1.1.2 Ngân sách địa phương (NSĐP)
Ngân sách nhà nước gồm Ngân sách trung ương (NSTW) và NSĐP. Ngân sách địa
phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân
(HĐND) và Uỷ ban nhân dân (UBND) theo quy định của Luật tổ chức HĐND và UBND
theo quy định hiện hành. Theo đó, ứng với mỗi cấp chính quyền có HĐND thì có cấp
NSNN tương ứng (Hình 1.2). Trong đó, NSĐP có ba cấp như sau:
- Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách tỉnh)
bao gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách của các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh.
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đối với địa phương, NSĐP là công cụ tài chính của các cấp chính quyền tương ứng
và phục vụ thực hiện các nhiệm vụ kinh tế- xã hội của các cấp chính quyền đã được
phân công quản lý.
Vai trò của NSĐP thể hiện trên các mặt cụ thể như sau:
- Đảm bảo các nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu xây dựng kinh tế và các hoạt động
văn hoá, chính trị, xã hội trong địa phương.
- Đảm bảo huy động, quản lý, giám sát một phần vốn của NSTW hoạt động trên
địa bàn địa phương.
- Điều hoà vốn về NSTW trong những trường hợp cần thiết để cân đối hệ thống
ngân sách.
Trong hệ thống NSNN và trong mối quan hệ với NSTW, NSĐP vừa có vị trí độc
lập, vừa có vị trí phụ thuộc. Vai trò phụ thuộc của NSĐP thể hiện ở chỗ: Nguồn thu của
NSĐP thường là nguồn thu "loại 2", bao gồm các khoản thuế được phân cấp, phí và lệ
phí địa phương. Về chi, bên cạnh các nhiệm vụ chi cho bộ máy quản lý địa phương và
cho các dịch vụ công cộng của địa phương, NSĐP còn phải đảm nhận các nhiệm vụ chi
quan trọng về giáo dục, y tế và đảm bảo xã hội.
Nhà nước ta thực hiện xây dựng hệ thống NSNN trên nguyên tắc: vừa đảm bảo vai
trò chủ đạo của NSTW, ngân sách cấp trên, vừa phải phát huy tính năng động sáng tạo
trong quản lý, điều hành ngân sách của các cấp chính quyền địa phương và cơ sở. Vì
vậy, NSĐP có vị trí độc lập tương đối trong hệ thống NSNN, thể hiện ở chỗ: các cấp
chính quyền có quyền lập, chấp hành và quyết toán ngân sách của mình trên cơ sở các
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chính sách, chế độ đã ban hành; Chính quyền địa phương được phép ban hành quy định
về một số khoản thu (phí và lệ phí, huy động đóng góp ...) và một số chính sách phát
triển kinh tế- xã hội trên địa bàn trong phạm vi được phân cấp, đồng thời phát huy tính
chủ động sáng tạo trong việc khai thác các thế mạnh của địa phương để tăng nguồn thu,
đảm bảo chi, thực hiện cân đối ngân sách.
và thuế môn bài và trước bạ, và thuế thu nhập cá nhân. Các khoản thu phân chia giữa
trung ương và địa phương bao gồm thuế xuất nhập khẩu, thuế lợi tức và thuế doanh thu.
Các khoản thu phân chia được phân chia giữa chính quyền các tỉnh, là nơi tiến hành thu,
và chính quyền trung ương. Mức phân chia được xác định bằng % tổng số thu dự kiến, là
số tiền mà mỗi tỉnh cần có để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu theo kế hoạch đã được phê
chuẩn, sau khi đã hạch toán số thu địa phương dự kiến.
Nếu tổng số thu phân chia thực tế thu được lớn hơn số thu phân chia dự kiến thì
mỗi tỉnh, trước hết, vẫn phải chuyển vào kho bạc trung ương tỷ lệ % đã thống nhất của
số thu lớn hơn này. Sau đó, tỉnh sẽ giữ lại tỷ lệ % đã thống nhất của số thu lớn hơn này
mà trong thực tế là lớn hơn số cần có để trang trải các khoản chi tiêu đã được duyệt. Các
tỉnh được tuỳ ý sử dụng số thu vượt mức này. ở một số tỉnh, nếu tổng số thu phân chia
dự kiến không đủ để bù đắp thiếu hụt giữa số thu địa phương dự kiến và số chi theo kế
hoạch của tỉnh đã được phê duyệt thì tỉnh được phép giữ lại 100 % số thu phân chia và
chính phủ trung ương sẽ tiến hành cấp phát bổ sung ngân sách để bù đắp số thiếu hụt
này.
1.2.2 Chi NSĐP
Chính quyền trung ương và tỉnh sẽ cùng nhau xác định dự toán thu và chi. Ngân
sách Nhà nước bao gồm tất cả các khoản chi ở cấp trung ương (chi tiết các khoản chi ở
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bảng 1.1) và thông qua ngân sách tỉnh, tổng hợp các khoản chi đã được phê duyệt cho
các tỉnh, huyện và xã. Một phần đáng kể số thu thuế nhà nước được thu ở tỉnh và tỉnh
được giữ lại theo tỉ lệ qui định để trang trải cho các dịch vụ đã được Quốc hội thông qua.
Bộ Tài chính lập báo cáo cho tiêu vào cuối năm để báo cáo số chi thực tế từ ngân sách
dự toán. Một số tỉnh huy động được thêm nguồn thu thông qua việc có khả năng thu
vượt số thu địa phương và thu phân chia và thông qua một số loại thuế và phí đã được
trung ương đồng ý. Chính quyền địa phương đã được phép huy động một số nguồn thu
từ phí, lệ phí và phí giao thông. Chẳng hạn như phí trường học và bệnh viện, phí sử dụng
Trong cơ chế thị trường, yêu cầu đổi mới hoạt động của ngân sách nhà nước đòi
hỏi phải xây dưng mô hình quản lý ngân sách thích hợp và phù hợp với thông lệ quốc tế,
mô hình này cho phép xác định cơ cấu ngân sách với nội dung các khoản thu và chi để
đảm bảo sự cân đối của ngân sách nhà nước.
Cụ thể đối với ngân sách địa phương quản lý ngân sách được xây dựng dựa trên
mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng:
- Thu ngân sách từ thuế, phí, lệ phí và một số khoản thu không mang tính chất thuế
như: thu lợi tức cổ phần nhà nước, thu từ cho thuê và bán tài sản thuộc sở hữu nhà
nước…là những khoản thu thường xuyên và được hình thành theo nguyên tắc không
hoàn trả. Các khoản thu này còn được gọi là các khoản thu trong cân đối ngân sách được
sử dụng ưu tiên cho các khoản chi tiêu dùng thường xuyên, phần còn lại sẽ dành cho chi
đầu tư phát triển.
- Thu từ bổ sung từ ngân sách cấp trên. Nguồn thu này dùng để bù đắp số thiếu hụt
của ngân sách địa phương do chênh lệch giữa tổng số chi và tổng số thu trong cân đối
ngân sách để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế.
Cơ chế cân đối ngân sách này tạo ra thế chủ động rất lớn cho chính quyền địa
phương cho phép giải quyết trước hết các nhu cầu cấp bách để ổn định đời sống và trật
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tự xã hội, hơn nữa nó cũng vạch ra một ranh giới rõ ràng về phạm vi tiêu dùng nằm
trong giới hạn các khoản thu nhập do nền kinh tế tạo ra. Các khoản thu bù đắp thiếu hụt
chỉ phục vụ cho chi đầu tư phát triển nhằm đảm bảo khả năng trả nợ của chính phủ.
1.3 Thực trạng ngân sách nhà nước hiện nay
1.3.1 Thực trạng ngân sách nhà nước thời gian qua
Thứ nhất, ngân sách nhà nước nói riêng, tài chính công nói chung ngày càng trở
thành công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
- Công tác quản lý ngân sách nhà nước góp phần làm cho tiềm lực tài chính quốc
gia phát triển liên tục, đạt được sự ổn định tương đối vững chắc.
chủ động đàm phán để giảm, giãn hoặc hoãn nợ, khai thông quan hệ với các tổ chức tiền
tệ thế giới và các nước, nhờ đó đã giảm được trên 50% số nợ. Tổ chức thành công nhiều
hội nghị tài trợ nhằm thu hút vốn dài hạn, mức ưu đãi để đầu tư hạ tầng, hỗ trợ cho các
doanh nghiệp phát triển, hỗ trợ xóa đói giảm nghèo. Tổ chức có kết quả việc kiểm soát
vay thương mại thông qua quản lý hạn mức vay hằng năm. Nhờ đó, tổng mức dư nợ
quốc gia và dư nợ chính phủ vẫn nằm trong giới hạn an toàn, không gây ảnh hưởng xấu
đến các hoạt động kinh tế - xã hội và NSNN.
Thứ ba, cơ chế “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra'' trong quản lý ngân sách
nhà nước đã và đang từng bước được triển khai thực hiện.
Từ khi quy chế dân chủ ở cơ sở được Chính phủ ban hành, ngân sách của các cấp
chính quyền địa phương, ngân sách của các đơn vị dự toán các cấp đã được công bố
công khai. Một số lĩnh vực: chi đầu tư xây dựng cơ bản, sự nghiệp giáo dục - đào tạo, sự
nghiệp y tế, sự nghiệp khoa học - công nghệ và môi trường, sự nghiệp kinh tế và các sự
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nghiệp khác, chi quản lý hành chính và chi chương trình mục tiêu... đã được công khai
chi tiết.
1.3.2 Những vấn đề đặt ra đối với ngân sách nhà nước
Thứ nhất, chống thất thu NSNN. Thu ngân sách có nhiều nội dung, song có 2 nội
dung quan trọng nhất, đồng thời cũng dễ bị thất thu nhất là: thuế và các khoản thu mang
tính chất thuế, thu từ kinh tế nhà nước. Đây là vấn đề rất lớn, luôn nổi cộm trong quản lý
ngân sách nhà nước. Để xử lý vấn đề này hiện nay có thể có một số phương pháp sau:
Một là, Nhà nước cần có chính sách, biện pháp vĩ mô tích cực nhằm khuyến khích
mọi người dân, các tổ chức khai thác triệt để các tiềm lực phát triển mở rộng sản xuất
kinh doanh. Cần có sự đổi mới nhiều hơn nữa hệ thống các công cụ tài chính để kích
thích nhân dân phát triển sản xuất kinh doanh.
Hai là, chống thất thu thuế đang là vấn đề nóng bỏng hiện nay. Để chống thất thu
thuế cần xử lý một số vấn đề chủ yếu sau:
hiện tượng tiêu cực trong chi từ NSNN.
- Triệt để triển khai thực hiện Quyết định 192/2001/QĐ-TTg ngày 17-12-2001 và
Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 31-12-2002 đối với tất cả các cơ quan hành chính
nhà nước và các đơn vị sự nghiệp có thu.
- Chi đầu tư phát triển là lĩnh vực lớn, phức tạp, đồng thời cũng là nơi dễ thất thoát
lớn nhất các nguồn vốn đầu tư từ NSNN. Trong nền kinh tế thị trường, hiệu quả đầu tư
được quyết định bởi thị trường. Nói một cách khác, đầu ra là yếu tố quyết định hiệu quả
đầu tư. Nhằm tránh lãng phí trong đầu tư như thực tế xảy ra vừa qua do đầu tư dàn trải,
đầu tư mang tính chất bình quân, khi thẩm định hiệu quả đầu tư của các dự án, tiêu chí
có tính quyết định cần xem xét kỹ là thị trường (đầu ra) của dự án. Chỉ đầu tư cho những
dự án có thị trường chắc chắn, khả thi.
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thứ ba, tiếp tục đổi mới phân cấp quản lý ngân sách nhà nước giữa các cấp chính
quyền.
Trong hoạt động thực tiễn ở nước ta, muốn đạt được mục đích đó, cần giải quyết
hai vấn đề:
Một là, năng lực của cơ quan chính quyền nhà nước mỗi cấp ở địa phương, đặc biệt
là cơ quan quyền lực nhà nước, thực sự đủ sức thực hiện nhiệm vụ đã được phân cấp
trong quản lý ngân sách nhà nước.
Hai là, tính đồng bộ về mặt thể chế trong việc quy định sự phối hợp giữa các cơ
quan nhà nước trong cùng một cấp chính quyền để quản lý ngân sách nhà nước.
Thứ tư, nâng cao năng lực và hiệu lực hoạt động của các cơ quan có nhiệm vụ
kiểm tra, giám sát kết quả quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước.
Cấp phát vốn của ngân sách nhà nước phải gắn liền với công tác ''hậu kiểm''. Công
việc này do các cơ quan chức năng (kiểm toán nhà nước, thanh tra tài chính, cơ quan tài
chính) thực hiện. Bên cạnh đó, một hoạt động hậu kiểm vô cùng quan trọng và mang
tính quyết định sẽ do cơ quan quyền lực nhà nước tại mỗi cấp (Quốc hội, HĐND các
pháp quan trọng hàng đầu là quan tâm đào tạo kiến thức quản lý ngân sách nhà nước cho
các đại biểu HĐND, nhằm giúp họ có thể phát huy thực quyền của mình trong quá trình
thảo luận và quyết định các vấn đề có liên quan đến ngân sách nhà nước.
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chương 2
XÁC ĐỊNH HỆ THỐNG CHỈ TIÊU VÀ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP
THỐNG KÊ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THU CHI NSĐP
2.1 Xác định hệ thống chỉ tiêu phân tích tình hình thu chi NSĐP
Thống kê được coi là một trong những công cụ quản lý vĩ mô quan trọng, có vai trò
cung cấp các thông tin thống kê trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời phục
vụ các cơ quan nhà nước trong việc đánh giá, dự báo tình hình hoạch định chiến lược,
chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội ngắn hạn và dài hạn. Đồng thời,
các con số thống kê cũng là những cơ sở quan trọng nhất để kiểm điểm, đánh giá tình
hình thực hiện các kế hoạch, chiến lược, chính sách đó.
Chỉ tiêu thống kê phản ánh mặt lượng gắn liền với mặt chất của hiện tượng số lớn
trong điều kiện thời gian không gian cụ thể. Chỉ tiêu thống kê khái quát tất cả các đặc
điểm, tính chất từng đơn vị cá biệt. Vì vậy nó phản ánh những mối quan hệ chung của
một nhóm số lớn các đơn vị hoặc hiện tượng. Các chỉ tiêu thống kê luôn tồn tại trong
điều kiện không gian thời gian cụ thể.
Kết cấu của chỉ tiêu thống kê bao gồm 2 mặt:
- Mặt nội dung của chỉ tiêu có tên gọi, điều kiện thời gian và không gian
- Mặt trị số phản ánh qui mô hoặc cường độ của hiện tượng với các loại thang đo
khác nhau.
2.1.1 Yêu cầu xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá tình hình thu chi ngân sách nhà nước nói
chung và ngân sách địa phương nói riêng không chỉ đơn thuần là nêu ra có những chỉ
tiêu nào trong hệ thống, mà còn phải đảm bảo có thể thu thập được nguồn thông tin để
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Đảm bảo tính hiệu quả: Hệ thống chỉ tiêu thu chi ngân sách phải phản ánh được
đầy đủ các khía cạnh của thu chi ngân sách, số lượng các chỉ tiêu đưa ra không thừa,
không thiếu nhằm tiết kiệm chi phí phân tích và đánh giá.
- Đảm bảo tính thống nhất: Các chỉ tiêu tính toán phải thống nhất về nội dung,
phương pháp, phạm vi tính toán, phải phù hợp với quy định trong nước và quốc tế, do đó
đảm bảo tính so sánh được. Để xây dựng hệ thống chỉ tiêu cần phải tiến hành lựa chọn
các chỉ tiêu thu và các chỉ tiêu chi để so sánh với nhau. Các chỉ tiêu cần đảm bảo nguyên
tắc này thì các kết quả thu được mới có ý nghĩa kinh tế.
- Đảm bảo tính khả thi: Hệ thống chỉ tiêu được xây dựng trên cơ sở các nguồn thu,
các khoản chi của ngân sách đồng thời cho phép giải quyết tốt các mâu thuẫn giữa nhu
cầu thu thập thông tin với khả năng cung cấp thông tin và tính toán các chỉ tiêu đề ra,
đồng thời phải tránh việc đưa ra các chỉ tiêu không thực hiện được.
2.1.3 Xác định hệ thống chỉ tiêu phân tích tình hình thu chi NSĐP
2.1.3.1 Nhóm chỉ tiêu về thu ngân sách địa phương
- Tổng thu ngân sách địa phương
Tổng thu ngân sách địa phương bao gồm các nhóm sau
*) Tổng các khoản thu NSĐP hưởng 100%
Bao gồm các khoản sau:
a) Thuế nhà, đất;
b) Thuế tài nguyên, không kể thuế tài nguyên thu từ dầu, khí;
c) Thuế môn bài;
d) Thuế chuyển quyền sử dụng đất;
e) Tiền sử dụng đất;
g) Tiền cho thuê đất;
h) Tiền cho thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;