Còi xương trẻ em - Pdf 29

Bệnh còi xương do thiếu vitamin D
BỆNH CÒI XƯƠNG DO THIẾU VITAMIN D
Mục tiêu
1. Kể được các nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ của bệnh.
2. Nêu được tầm quan trọng và dịch tễ học của bệnh.
3. Phát hiện được các triệu chứng của bệnh còi xương về lâm sàng và cận lâm sàng.
4. Thực hiện và tuyên truyền giáo dục được các biện pháp phòng, chống bệnh còi xương
1. Chuyển hoá vitamin D và vai trò sinh lý của nó trong cơ thể
1.1. Nguồn cung cấp vitamin D: cơ thể nhận vitamin D từ 2 nguồn
- Thức ăn: có vitamin D như gan, lòng đỏ trứng gà, sữa. Hàm lượng vitamin D trong sữa mẹ và
sữa bò đều rất thấp (0-10 đv/100ml). Nguồn vitamin D từ động vật dễ hấp thu hơn từ thực vật.
- Tổng hợp vitamin D ở da dưới tác dụng bức xạ của tia cực tím trong ánh sáng mặt trời: đây là
nguồn cung cấp vitamin D chủ yếu cho cơ thể. Mỗi ngày cơ thể có thể tổng hợp được từ 50-100
đv vitamin D, nghĩa là đủ thoả mãn nhu cầu sinh lý của cơ thể. Vì vậy trẻ em bị còi xương là do
không được tắm nắng hoặc do ăn uống không đầy đủ.
1.2. Chuyển hoá và vai trò sinh lý của vitamin D trong cơ thể: sau khi được hấp thụ ở ruột hoặc
đựơc tổng hợp ở da, vitamin D được đưa tới gan nhờ protein vận chuyển vitamin D (vitamin D
binding protein-DBP). Ở đó nó được men 25-hydroxylase của tế bào gan biến thành 25 hydroxy
vitamin D (25-OH-D). Chất chuyển hoá này sau đó lại được men 1,α-hydroxylase ở liên bào ống
thận biến thành 1,25-dihydroxyvitamin D (1,25-(OH)
2
-D). Đây là chất chuyển hoá cuối cùng của
vitamin D và có tác dụng sinh học làm
- Tăng hấp thu Ca ở ruột qua cơ chế tăng tổng hợp protein gắn Ca (Calcium binding protein-
CaBP).
- Huy động canxi ở xương vào máu.
- Đồng thời tăng tái hấp thụ CaPO4 ở ống thận (dưới tác động của hormone tuyến cận giáp:
parathormone).
Sự điều hoà sinh tổng hợp 1,25-(OH)
2
-D phụ thuộc vào nồng độ Calci-Phospho và hormon tuyến

và X-quang ở xương.
2. Dịch tễ học
- Còi xương là một bệnh phổ biến ở trẻ em dưới 3 tuổi, đặc biệt là các trẻ từ 3 tháng đến 18
tháng, vì đây là lứa tuổi mà hệ xương đang phát triển mạnh, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể
lực và sức khoẻ của trẻ. Vì vậy việc phòng chống bệnh còi xương là một vấn đề ưu tiên của sức
khoẻ cộng đồng.
- Nước ta tuy là 1 nước nhiệt đới, có nhiều ánh sáng mặt trời nhưng còi xương vẫn là 1 bệnh phổ
biến. Theo thống kê của Viện Bảo vệ Sức khoẻ trẻ em thì tỷ lệ mắc bệnh trung bình là 9,4%,
trong đó trẻ dưới 3 tuổi chiếm 34-35%.
- Giới: không có sự khác biệt về giới.
Bệnh thường gặp ở những vùng kinh tế thấp, gia đình đông con, nhà cửa ẩm thấp, thiếu ánh sáng
mặt trời.
- Địa dư: thành phố nơi đông dân cư, nhà ở cao tầng, nơi nhiều khói bụi công nghiệp. Ở nước ta,
trẻ em các tỉnh phía Bắc bị mắc bệnh nhiều hơn các tỉnh phía Nam.
3. Nguyên nhân của bệnh còi xương thiếu vitamin D
3.1. Chủ yếu do thiếu ánh sáng mặt trời
- Nhà ở chật chội tối tăm.
- Do tập quán sai lầm, không cho trẻ ra ngoài trời, thậm chí ở trong buồng tối nhất là trong những
tháng đầu sau sinh nên trẻ bị còi xương sớm.
- Mặc quá nhiều quần áo.
- Ở những vùng nhiều sương mù, mùa đông ít ánh sáng mặt trời trẻ mắc bệnh còi xương nhiều.
3.2. Do ăn uống
- Vitamin D trong sữa mẹ và cả sữa bò đều rất ít, nhưng trẻ được nuôi bằng sữa bò dễ bị còi
xương hơn trẻ bú sữa mẹ. Vì tỷ lệ Ca/P trong sữa mẹ sinh lý và dễ hấp thu hơn trong sữa bò, nên
nhu cầu vitamin D ở trẻ bú sữa mẹ thấp hơn.
- Trẻ ăn nhiều chất bột sớm cũng dễ bị còi xương vì trong bột có nhiều acide phytinic, chất này
kết hợp với Ca thành muối calciphitinat không hoà tan làm cho sự hấp thu Ca ở ruột bị giảm.
3.3. Yếu tố thuận lợi
- Tuổi: bệnh hay gặp ở trẻ em dưới 1 tuổi là tuổi mà hệ xương phát triển mạnh nhất.
- Trẻ đẻ non, đẻ yếu dễ bị còi xương vì cơ thể không tích lũy đủ muối khoáng và vitamin D trong

- Ca
++
máu giảm vùa phải, 3-4 mEq/l ở giai đoạn đầu của bệnh, do kém hấp thu và ở giai đoạn
cuối, do kém tái hấp thu ở ống thận. Ở giai đoạn 2, nhờ phản ứng của tuyến cận giáp, Ca được
huy động từ xương vào máu, nên Ca
++
máu bình thường hoặc chỉ giảm nhẹ. Đối với trẻ < 6 tháng,
hoạt động của tuyến cận giáp chưa tốt nên triệu chứng hạ Ca
++
máu duy trì suốt thời gian tiến
triển của bệnh.
- Phosphore máu thường chỉ giảm ở giai đoạn cuối của bệnh, khi chức năng tái hấp thu của ống
thận giảm. Mức độ giảm từ 1,5-3,5mg% (bình thường 4,5mg%).
- Phosphatase kiềm tăng song song với mức độ giảm của vitamin D, đó cũng là triệu chứng báo
động giống như hạ Ca
++
máu. Mức độ tăng có thể từ 20-30 đv Bodansky trong các thể nhẹ, đến
50-60 trong các thể nặng. Trở về bình thường nhanh chóng sau điều trị vitamin D
- X quang xương: chụp cổ tay hoặc cổ chân: đầu xương to bè và bị khoét hình đáy chén, vùng sụn
bị dãn rộng ở giai đoạn tiến triẻn của bệnh, hoặc hình đường viền rõ nét ở giai đoạn phục hồi.
Các điểm cốt hoá ở bàn tay, bàn chân chậm so với tuổi, lồng ngực có hình nút chai “champagne”.
4.2. Bệnh còi xương sớm ở trẻ < 6 tháng: Gặp nhiều ở nước ta. Nguyên nhân do mẹ kiêng
không cho trẻ ra ngoài sáng nên thiếu vitamin D, chế độ ăn của mẹ sau sinh lại kiêng khem thiếu
các chất giàu Ca. Các triệu chứng đầu tiên xuất hiện từ tuần thứ 2.
4.2.1. Tình trạng hạ Ca
++
máu: luôn có và là triệu chứng báo động. Trẻ tăng kích thích thần kinh

- Dễ bị kích thích, ngủ không yên giấc, hay giật mình.
- Khi thở có tiếng rít do mềm sụn thanh quản.

- Trẻ có tình trạng hạ Ca
++
máu, có thể nặng gây ngừng thở từng cơn, hoặc nhẹ gây cơn khóc “dạ
đề”, hay ọc sữa, nấc cụt sau bú và đi phân són.
5. Chẩn đoán còi xương tại cộng đồng
trong điều kiện thực địa kết luận còi xương khi có ít nhất 2 trong số các triệu chứng sau đây:
chuỗi hạt sườn, to đầu chi, mềm hộp sọ, biến dạng đặc biệt ở lồng ngực (lồng ngực hình ức gà,
chuỗi hạt sườn, rãnh Harrisson) kèm theo giảm trương lực cơ.
6. Điều trị
6.1. Nguyên tắc điều trị: hướng dẫn và tuyên truyền cho bà mẹ
- Cải thiện dinh dưỡng: cho thực phẩm giàu vitamin D như dầu cá (3 thìa trà dầu cá cung cấp
3000 UI vitamin D), bơ, gan, lòng đỏ trứng, sữa có bổ sung vitamin D.
- Điều trị tiêu chảy và tiêu chảy phân mỡ.
- Bảo đảm tiếp xúc đủ với ánh sáng mặt trời.
6.2. Điều trị đặc hiệu
6.2.1. Còi xương cổ điển: liều điều trị vitamin D 5000đv/ngày uống liên tục trong 2-3 tuần.
Liều điều trị được chỉ định dựa vào hình ảnh X quang xương cổ tay hoặc cổ chân, đầu xương bị
khoét hình đáy chén. Sau 2-3 tuần điều trị chụp kiểm tra lại:
- Nếu có hình ảnh đường viền của giai đoạn phục hồi, chuyển sang liều phòng bệnh: 400 đv/ngày
.
- Nếu còn hình ảnh khoét xương: tiếp tục liều điều trị thêm vài ngày.
- Kết hợp thêm chế độ ăn giàu chất đạm và đủ các chất, không cần thêm thuốc có Ca
6.2.2. Còi xương sớm: cho cả vitamin D và Ca
- Vitamin D: 1500-2000 đv/ngày (3-4 tuần, sau đó chuyển sang liều phòng bệnh 400đv/ngày liên
tục cho đến tuổi biết đi không cần kiểm tra xương như trong thể cổ điển.
- Đối với trẻ bú mẹ: nên kiểm tra Ca
++
máu của mẹ và khuyên mẹ không kiêng cữ trong chế độ
ăn. Nếu Ca
++

- Đối với trẻ sinh non, sinh đôi, sinh ba: trong tháng đầu tiên cho liều cao hơn: 1000đv/ngày.
- Đối với phụ nữ mang thai, nếu ít có điều kiện tiếp xúc thường xuyên với ánh nắng mặt trời có
thể cho uống mỗi ngày 1000 đv từ tháng thứ 6 của thai kỳ cho đến khi sinh.
Tài liệu tham khảo
1. Đào Ngọc Diễn, Lê Nam Trà (2002), “Đánh giá hiệu quả điều trị còi xương dinh dưỡng bằng
vitamin D liều thấp”, Hội nghị khoa học dinh dưỡng - Viện Dinh dưỡng Quốc gia.
2. Tạ Thị Ánh Hoa (1997), “Bệnh còi xương do thiếu vitamin D” - Bài giảng Nhi khoa tập I-
NXB Đà Nẵng . Trang 173-190.
3. Tạ Thị Ánh Hoa (1983), “Bệnh còi xương sớm ở trẻ nhũ nhi được 6 tháng tuổi” - Hội nghị Nhi
khoa thế giới lần thứ 17 – Manila
4. Nguyễn Thu Nhạn (1997), “Bệnh còi xương”, Cẩm nang điều trị Nhi khoa, NXB Y học, trang
95-96.
5. Ngô Thị Kim Nhung (1998), “Bệnh còi xương do thiếu vitamin D” - Bài giảng Nhi khoa ,
chương trình đào tạo bác sĩ tuyến cơ sở - NXB Đà Nẵng . Trang 145-151.
80


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status