“Một số giải pháp phát triển các dịch vụ ngân hàng tại VPBank - Pdf 29

Chuyên đề tốt nghiệp
Mục lục
Lời mở đầu............................................................................................. 2
Chương 1: Tổng quan về ngân hàng và các dịch vụ ngân hàng..........4
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng..............................4
1.2 Các dịch vụ ngân hàng....................................................................9
1.2.1 Các dịch vụ truyền thống........................................................9
1.2.2 Các dịch vụ ngân hàng mới phát triển gần đây
.................................................................................
12
1.3 Vai trò của ngân hàng trong nền kinh tế hiện đại
21
Chương 2: Phát triển dịch vụ ngân hàng tại VPBank ......................23
2.1 Sự hình thành và phát triển của VPBank
23
2.2 Phát triển các dịch vụ ngân hàng ở VPBank
26
2.2.1 Sự phát triển các dịch vụ ngân hàng ở VPBank
..........................................................................................................
27
2.2.2 Các dịch vụ hiện có ở VPBank
.....................................................................................................
33
Phan Quang Huy – Ngân hàng 44B 1
Chuyên đề tốt nghiệp
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng ở
VPBank trong thời gian tới...............................................54
3.1 Đẩy mạnh việc xây dựng và quảng bá hình ảnh ngân hàng
54
3.2 Thành lập bộ phận Quản trị quan hệ khách hàng – CRM
55

thương hiệu ngày càng vững mạnh, tình hình tài chính lành mạnh và chất
lượng hoạt động được kiểm soát tốt. Kết thúc năm tài chính 2005, tỷ lể chia cổ
Phan Quang Huy – Ngân hàng 44B 3
Chuyên đề tốt nghiệp
tức của VPBank đạt 20%. Có thể nói VPBank đang hoàn thiện trên từng bước
tiến của mình.
Tuy đã đạt được những thành công đáng khích lệ nhưng để vươn tới vị
trí ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam thì VPBank còn rất nhiều việc phải
làm đặc biệt là trong thời gian sắp tới, khi Việt Nam chính thức gia nhập
WTO, mở cửa hoàn toàn thị trường tài chính cho các ngân hàng nước ngoài…
Sau 15 tuần thực tập tại VPBank, với mục đích tìm hiểu các hoạt động
thực tế và các dịch vụ của một ngân hàng em đã hoàn thành chuyên đề thực
tập tốt nghiệp với đề tài: “Một số giải pháp phát triển các dịch vụ ngân hàng
tại VPBank”. Trong quá trình thưc hiện đề tài em đã được sự giúp đỡ, hướng
dẫn tận tình của:
• Tiến sĩ Phan Thị Thu Hà – Khoa Ngân hàng tài chính ĐH KTQD
• Ban giám đốc và tập thể cán bộ, nhân viên ngân hàng VPBank
chi nhánh Thăng Long
Em xin chân thành cảm ơn !
Phan Quang Huy
Phan Quang Huy – Ngân hàng 44B 4
Chuyên đề tốt nghiệp
Chương 1
Tổng quan về ngân hàng và các dịch vụ ngân hàng
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của
nền kinh tế. Ngân hàng bao gồm nhiều loại tùy thuộc vào sự phát triển của nền
kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương
mại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về qui mô tài sản, thị phần và số lượng các
ngân hàng.

két tốt để cất giữ tiền bạc, của cải của mình. Do nhu cầu cất trữ tiền của các
lãnh chúa, các nhà buôn… rất lớn, nhiều người làm nghề đổi tiền cung cấp
luôn cả dịch vụ cất trữ hộ. Thực hiện cất trữ hộ tài sản làm tăng thu nhập, tăng
sự đa dạng các loại tiền, tăng qui mô tài sản của những người kinh doanh tiền
tệ. Việc cất trữ hộ tài sản này là điều kiện để những người làm nghề đổi tiền có
thể làm trung gian thanh toán. Thanh toán qua trung gian làm nảy sinh nhu cầu
thanh toán không dùng tiền mặt và đến lượt nó những ưu điểm của thanh toán
không dùng tiền mặt đã thu hút các thương gia gửi tiền nhiều hơn. Như vậy
trong điều kiện đồng tiền kim loại được sử dụng trong lưu thông, các chủ cửa
hàng vàng bạc vừa đổi tiền, thanh toán hộ, vừa đúc tiền và cho vay nặng lãi.
Các chủ cửa hàng này gọi là những người kinh doanh tiền tệ hay nhà buôn
tiền.
Ban đầu, những nhà buôn tiền còn dùng vốn tự có của mình để cho vay
nhưng điều đó không kéo dài. Sau một thời gian hoạt động, họ nhận thấy rằng
thường xuyên có những người gửi tiền vào và có người lấy tiền ra nhưng tất cả
Phan Quang Huy – Ngân hàng 44B
Chuyên đề tốt nghiệp
những người gửi tiền không lấy tiền ra cùng một lúc. Điều này đã tạo ra một
số lượng tiền dư thường xuyên trong két. Lợi dụng tính chất vô danh của tiền,
nhà buôn tiền đã sử dụng tạm thời số dư tiền này để cho vay và thu lãi. Hoạt
động này làm thay đổi cơ bản hoạt động của nhà buôn tiền từ cho vay nặng lãi
sang cho vay dựa trên tiền gửi của khách hàng – Ngân hàng. Hoạt động cho
vay dựa trên số dư tiền gửi của khách đã tạo ra lợi nhuận lớn cho ngân hàng
nên các ngân hàng đều tìm cách mở rộng thu hút các nguồn tiền gửi vào ngân
hàng mình bằng cách trả lãi cho người gửi tiền…
Ngày nay, ngân hàng đã trở thành một tổ chức quan trọng trong nền
kinh tế. Các dịch vụ ngân hàng không còn bó hẹp trong phạm vi cất giữ hộ của
cải, trung gian thanh toán, nhận tiền gửi và cho vay nữa, hoạt động của các
ngân hàng đã đa dạng hơn rất nhiều và đang dần dần mở rộng sang các lĩnh
vực như cung cấp dịch vụ bất động sản, môi giới chứng khoán, tham gia các

Tuy nhiên, ngân hàng thương mại đã phát triển hơn các ngân hàng thợ vàng ở
một điểm cơ bản đó là: ngân hàng thương mại chủ yếu cho các nhà buôn vay
dưới hình thức chiết khấu thương phiếu. Đây là các khoản cho vay ngắn hạn
dựa trên quá trình luân chuyển của hàng hóa với lãi suất phải thấp hơn lợi
nhuận được tạo ra do sử dụng tiền vay.
Sau một thời gian hoạt động, sự sụp đổ của nhiều ngân hàng thương mại
đã gây tổn thất lớn cho những người gửi tiền. Trong tình hình đó, các ngân
hàng tiền gửi đã xuất hiện. Ngân hàng này không cho vay, chỉ thực hiện giữ
hộ, thanh toán hộ để lấy phí. Đồng thời tại mỗi nước, trong những điều kiện
lịch sử cụ thể đã hình thành nhiều loại ngân hàng khác như ngân hàng tiết
kiệm, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng trung ương… tạo nên
hệ thống ngân hàng. Trong hệ thống đó, ngân hàng trung ương làm chức năng
xây dựng và quản lí chính sách tiền tệ quốc gia còn các ngân hàng khác dù có
Phan Quang Huy – Ngân hàng 44B
Chuyên đề tốt nghiệp
một số nghiệp vụ khác nhau nhưng đều có đặc điểm chung là thực hiện chức
năng của một trung gian tài chính thực hiện kinh doanh tiền tệ.
Cùng với sự phát triển kinh tế và công nghệ, hoạt động ngân hàng đã có
những bước tiến vượt bậc. Sự phát triển này thể hiện ở việc đa dạng hóa các
loại hình ngân hàng và các hoạt động ngân hàng. Từ các ngân hàng tư nhân,
quá trình tích tụ và tập trung vốn trong các ngân hàng đã dẫn đến hình thành
ngân hàng cổ phần. Quá trình gia tăng vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt
động ngân hàng đã tạo ra các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước …
Đến nay, các ngân hàng thương mại từ chỗ chỉ cho vay ngắn hạn là chủ
yếu đã mở rộng cho vay trung và dài hạn, cho vay để đầu tư vào bất động sản.
Nhiều ngân hàng mở rộng sang cho vay tiêu dùng, cho thuê tài chính, kinh
doanh chứng khoán… Các hình thức huy động cũng ngày càng phong phú.
Các loai tiền gửi khác được đưa ra nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của khách
hàng. Công nghệ ngân hàng đang góp phần làm thay đổi các hoạt động của
ngân hàng làm cho các hoạt động này càng ngày càng đơn giản, dễ tiếp cận

trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi ngoại
tệ- một nhà ngân hàng đứng ra mua, bán một loại tiền này, chẳng hạn
USD lấy một loại tiền khác, chẳng hạn Franc hay Pesos và hưởng phí
dịch vụ. Sự trao đổi đó rất quan trọng đối với khách du lịch vì họ sẽ cảm
thấy thuận tiện và thoải mái hơn khi có trong tay đồng bản tệ của quốc
gia hay thành phố mà họ đến. Trong thị trường tài chính ngày nay, mua
bán ngoại tệ thường chỉ do các ngân hàng lớn nhất thực hiện bởi vì
những giao dịch như vậy có mức độ rủi ro cao, đồng thời yêu cầu phải có
trình độ chuyên môn cao.
Phan Quang Huy – Ngân hàng 44B 10
Chuyên đề tốt nghiệp
 Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại: Ngay ở thời kì
đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối
với các doanh nhân địa phương, những người bán các khoản nợ (khoản
phải thu) của khách hàng cho ngân hàng để lấy tiền mặt. Đó là bước
chuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang cho vay trực tiếp đối với các
khách hàng, giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ hoặc xây dựng văn
phòng và thiết bị sản xuất.
 Nhận tiền gửi: Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó
các ngân hàng đã tìm kiếm mọi cách để huy động nguồn vốn cho vay.
Một trong những nguồn vốn quan trọng là các khoản tiền gửi tiết kiệm
của khách hàng-một quỹ sinh lợi được gửi tại ngân hàng trong khoảng
thời gian nhiều tuần nhiều tháng, nhiều năm, đôi khi được hưởng mức lãi
suất tương đối cao. Trong lịch sử đã có mức kỷ lục về lãi suất, chẳng hạn
các ngân hàng Hy Lạp đã trả mức lãi suất 16% một năm để thu hút các
khoản tiết kiệm nhằm mục đích cho vay đối với các chủ tàu ở Địa Trung
Hải với lãi suất gấp đôi hay gấp ba lãi suất tiết kịêm.
 Bảo quản, cất giữ hộ vật có giá: Ngay từ thời Trung Cổ, các ngân
hàng đã bắt đầu thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho
khách hàng trong những kho bảo quản chắc chắn của mình. Những giấy

lý và đầu tư khoản tiền đó cho đến khi khách hàng cần. Trong ủy thác
thương mại, ngân hàng quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và kế
hoạch tiền lương cho các công ty kinh doanh. Ngân hàng còn đóng vai
trò đại lý cho các công ty này trong hoạt động phát hành cổ phiếu, trái
phiếu. Ở các nước phát triển, dịch vụ ủy thác là một dịch vụ đem lại
nhiều lợi nhuận cho các ngân hàng thương mại.
 Tài trợ cho các hoạt động của Chính phủ: Khả năng huy động và
cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã gây chú ý cho các Chính
phủ. Do nhu cầu chi tiêu lớn (chi cho chiến tranh, cứu trợ thiên tai…) và
Phan Quang Huy – Ngân hàng 44B 12
Chuyên đề tốt nghiệp
thường là cấp bách trong khi thu không đủ, Chính phủ các nước đều
muốn tiếp cận với các khoản cho vay của ngân hàng. Ngày nay, Chính
phủ giành quyền cấp phép và kiểm soát các hoạt động của ngân hàng.
Các ngân hàng được cấp phép hoạt động với điều kiện là họ phải cam kết
thực hiện các chính sách của Chính phủ ở một mức độ nào đó và phải tài
trợ cho Chính phủ. (Thường là các ngân hàng phải mua trái phiếu Chính
phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà các ngân hàng
huy động được)
1.2.2 Các dịch vụ ngân hàng mới phát triển gần đây
Dưới sự tác động của môi trường kinh tế - xã hội, của khoa học kĩ
thuật… Các dịch vụ ngân hàng ngày càng đa dạng, phong phú hơn. Ngày nay,
các ngân hàng không chỉ cung cấp các dịch vụ truyền thống của mình mà đã
phát triển thêm nhiều dịch vụ mới…
Một số yếu tố có tác động mạnh mẽ đế các hoạt động ngân hàng ngày
nay:
 Sự gia tăng cạnh tranh giữa các ngân hàng: để tăng lợi nhuận của
mình, các ngân hàng đã không ngừng nghiên cứu, đưa vào các dịch vụ
mới để thu hút khách hàng. Quá trình mở rộng các dịch vụ đã thực sự gia
tăng từ những năm gần đây dưới áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng và

nhiều năm nay, các ngân hàng đã đẩy mạnh việc ứng dụng các công nghệ
mới, hiện đại vào hoạt động của mình. Nhờ đó mà hoạt động của ngân
hàng càng ngày càng trở nên nhanh chóng, an toàn và đáng tin cậy hơn.
Một ứng dụng nổi bật của việc ứng dụng khoa học công nghệ vào ngân
hàng là: các máy rút tiền tự động ATM. Các máy rút tiền này cho phép
khách hàng tiếp cận với tài khoản của mình vào bất cứ lúc nào trong
ngày mà không phải đến ngân hàng… Ngoài ra, với hệ thống máy vi tính
Phan Quang Huy – Ngân hàng 44B 14
Chuyên đề tốt nghiệp
hiện đại các ngân hàng có thể xử lý hàng ngàn giao dịch một cách nhanh
chóng trên toàn thế giới và cung cấp cho khách hàng các tiện ích như:
ngân hàng điện tử, ngân hàng tại nhà…
 Quá trình toàn cầu hóa ngân hàng: Để sử dụng hiệu quả quá trình
tự động hóa và những đổi mới công nghệ đòi hỏi các hoạt động ngân
hàng phải có quy mô lớn. Vì vậy, các ngân hàng đã không ngừng mở
rộng phạm vi hoạt động của mình để thu hút ngày càng nhiều khách hàng
hơn. Kết quả của những nỗ lực mở rộng đó là sự bành trướng về địa lý và
hợp nhất các ngân hàng đã vượt ra khỏi ranh giới lãnh thổ một quốc gia
đơn lẻ và lan rộng ra với quy mô toàn cầu. Ngày nay, các ngân hàng lớn
trên thế giới đang cạnh tranh với nhau trên tất cả các lục địa. Vào những
năm 80, các ngân hàng Nhật, dẫn đầu là Dai-I Kangyo Bank và Fuji
Bank đã phát triển nhanh hơn hầu hết các đối thủ cạnh tranh trên khắp
thế giới. Các ngân hàng lớn đặt trụ sở tại Pháp, tại Đức và tại Anh cũng
trở thành những đối thủ nặng ký trên thị trường cho vay Chính phủ và
cho vay công ty. Quá trình phi quản lý hóa đã giúp tất cả các tổ chức này
cạnh tranh hiệu quả hơn so với các ngân hàng Mỹ và nắm được thị phần
ngày càng tăng trên thị trường toàn cầu về dịch vụ ngân hàng.
Một số dịch vụ ngân hàng mới phát triển gần đây:
Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, các dịch vụ của
ngân hàng cũng ngày càng được đa dạng hóa. Bên cạnh các dịch vụ truyền

ngân hàng quản lý việc thu và chi tiền mặt cho các doanh nghiệp đồng
thời nó sử dụng số tiền thặng dư để đầu tư tạm thời vào các chứng khoán
sinh lời, các khoản tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần.
Hiện nay dịch vụ quản lý tiền mặt không chỉ dành riêng cho các
doanh nghiệp, các tổ chức nữa mà đang dân dần hướng đến người tiêu
dùng. Khuyên hướng này đang lan rộng ra vì các công ty môi giới chứng
Phan Quang Huy – Ngân hàng 44B 16
Chuyên đề tốt nghiệp
khoán, các tập đoàn tài chính khác cũng cung cấp cho khách hàng dịch
vụ tài khoản với hàng loạt dịch vụ tài chính có liên quan ví dụ như: mua
bán chứng khoán, viết séc, sử dụng thẻ tín dụng…
 Dịch vụ thuê mua thiết bị: hoạt động chủ yếu của ngân hàng là cho
vay để khách hàng mua tài sản. Tuy nhiên trong một số trường hợp,
khách hàng không đủ điều kiện để vay (hoặc không muốn vay). Để mở
rộng tín dụng, các ngân hàng thương mại đã mua hoặc thuê các tài sản để
cho khách hàng thuê. Khi hết hạn thuê, khách hàng quyền chọn mua lại
tài sản hoặc không. Tài sản cho thuê thuộc quyền sở hữu của ngân hàng
nên ngân hàng có thể thu hồi để bán hoặc cho người khác thuê khi người
thuê không trả nợ được. Điều này đã làm giảm bớt rủi ro cho ngân hàng.
Có hai hình thức cho thuê là: cho thuê nghiệp vụ và cho thuê tài chính.
Cho thuê nghiệp vụ đáp ứng nhu cầu thuê trong thời gian ngắn, người đi
thuê không có dự định mua tài sản đó để sử dụng lâu dài sau khi thuê.
Còn cho thuê tài chính đáp ứng nhu cầu thuê trong thời gian dài và người
đi thuê có quyền mua lại tài sản khi hết hợp đồng thuê. Hoạt động cho
thuê của các ngân hàng thương mại hiện nay chủ yếu là cho thuê tài
chính.
 Bán các dịch vụ bảo hiểm: Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã
bán bảo hiểm tín dụng cho khách hàng, điều đó đảm bảo cho việc chi trả
trong trường hợp khách hàng vay vốn bị chết hay bị tàn phế. Hiện nay,
hình thức bán bảo hiểm chủ yếu của các ngân hàng là liên kết với các

hàng lớn) đã cung cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng khác.
Các ngân hàng đại lý sẽ thực hiện các nghiệp vụ như: thanh toán hộ, phát
hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài
trợ… cho các ngân hàng thuê đại lý và thu phí làm dịch vụ đại lý của
mình.
Phan Quang Huy – Ngân hàng 44B 18
Chuyên đề tốt nghiệp
 Các dịch vụ thẻ
- Thẻ tín dụng (Credit Card) là loại thẻ được sử dụng phổ biến
nhất trên thế giới hiện nay. Theo đó người chủ thẻ được sử dụng một hạn
mức tín dụng không phải trả lãi (nếu chủ thẻ hoàn trả số tiền đã sử dụng
đúng kỳ hạn) để mua sắm hàng hóa dịch vụ tại những cơ sở chấp nhận
loại thẻ này. Thẻ tín dụng là một phương thức thanh toán không dùng
tiền mặt cho phép người sử dụng có khả năng chi tiêu trước, trả tiền sau.
Khoảng thời gian từ khi thẻ được dùng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ
tới lúc chủ thẻ phải trả tiền cho ngân hàng có độ dài phụ thuộc vào từng
loại thẻ tín dụng của các tổ chức khác nhau. Thời gian này chủ thẻ được
hoàn toàn miễn phí lãi đối với số tiền phát sinh. Nếu hết thời gian miễn
phí lãi này mà toàn bộ số tiền phát sinh chưa được thanh toán cho ngân
hàng thì chủ thẻ sẽ phải chịu những khoản phí và lãi chậm trả. Khi toàn
bộ số tiền phát sinh được hoàn trả cho ngân hàng, hạn mức tín dụng của
chủ thẻ được khôi phục như ban đầu. Ngân hàng phát hành thẻ tín dụng
cho khách hàng dựa trên uy tín và khả năng đảm bảo chi trả của từng
khách hàng. Khả năng đảm bảo chi trả được xác định dựa trên tổng hợp
nhiều thông tin khác nhau như: thu nhập, tình hình chi tiêu, mối quan hệ
sẵn có đối với ngân hàng, địa vị xã hội của khách hàng… Do đó, mỗi
khách hàng có những hạn mức tín dụng khác nhau.
- Thẻ ghi nợ (Debit Card) là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn
với tài khoản tiền gửi thanh toán của chủ thẻ. Để sử dụng loại thẻ này,
chủ thẻ phải có tài khoản hoạt động thường xuyên tại ngân hàng. Loại

 Dịch vụ ngân hàng điện tử E-Banking: E-banking đang ngày càng
phát triển mạnh mẽ, tạo ra môi trường tài chính năng động, đã có hàng
ngàn cá nhân và các doanh nghiệp trên thế giới sử dụng các dịch vụ ngân
Phan Quang Huy – Ngân hàng 44B 20
Chuyên đề tốt nghiệp
hàng điện tử mà không gặp bất kỳ một vấn đề nào. Ngân hàng điện tử
bao gồm hàng loạt các sản phẩm và dịch vụ như chuyển tiền, thanh toán
hoá đơn, rút tiền ATM ... đã giúp các doanh nghiệp hoạt động có hiệu
quả hơn thông qua các hoạt động tự động của ngân hàng và các giao dịch
điện tử với ngân hàng.
Dịch vụ này giúp các doanh nghiệp có thể kiểm soát tài chính của
mình tại nhà, văn phòng hoặc khi đi công tác chặt chẽ hơn. Kết quả là,
ngân hàng điện tử có thể giúp cá nhân và doanh nghiệp giảm được các
chi phí hành chính, nâng cao năng suất và quản lý tiền mặt tốt hơn- trong
một môi trường hoàn toàn an toàn.
- Các mô hình Ngân hàng điện tử:
• PC banking – là hình thức theo đó ngân hàng có thể cung cấp
phần mềm được cài đặt tại các văn phòng của người sử dụng. Sau đó
người sử dụng có thể truy cập tài khoản của mình thông qua modem và
đường nối điện thoại với ngân hàng. Đồng thời họ có thể chuyển tiền từ
tài khoản vãng lai sang tài khoản tiết kiệm của cùng một chủ tài khoản.
Cách truy cập này không cần thiết phải thông qua Internet.
• Internet Banking – Internet banking đóng một vai trò tích cực
hơn. Mỗi trang chủ của ngân hàng được coi là một cửa sổ giao dịch.
Thông qua trang chủ của ngân hàng, người sử dụng có thể truy cập tài
khoản của mình và các dịch vụ trực tuyến khác như mua hợp đồng bảo
hiểm, đầu tư vào chứng khoán.... Mỗi lần nhấp chuột sẽ là một cơ hội để
kinh doanh và đầu tư, theo đó ngân hàng thay mặt khách hàng thanh toán
và trừ các chi phí dịch vụ thông qua tài khoản của họ tại ngân hàng.
Ngày nay, các dịch vụ ngân hàng đã trở nên ngày càng đa dạng, phong

kinh tế trở nên hiệu quả hơn.
Phan Quang Huy – Ngân hàng 44B 22
Chuyên đề tốt nghiệp
 Vai trò trung gian thanh toán: Ngày nay, ngân hàng trở thành trung
gian thanh toán lớn nhất ở hầu hết các quốc gia. Thay mặt khách hàng,
ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ. Để việc thanh
toán được nhanh chóng và thuận lợi, tiết kiệm chi phí, ngân hàng đã cung
cấp cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như: thanh toán bằng séc,
thanh toán bằng ủy nhiệm chi, các loại thẻ… Các ngân hàng còn thanh
toán bù trừ với nhau thông qua ngân hàng Trung ương hoặc qua các trung
tâm thanh toán. Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả
cao khi qui mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng. Vì vậy, công
nghệ thanh toán hiện đại qua ngân hàng thường được các nhà quản lý áp
dụng rộng rãi. Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hóa góp phần tạo
tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một
quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên toàn thế giới.
 Vai trò tạo phương tiện thanh toán: Theo quan điểm hiện đại, đại
lượng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận. Thứ nhất là tiền giấy trong lưu
thông (M
0
), thứ hai là số dư trên tài khoản tiền gửi giao dịch của khách
hàng tại các ngân hàng, thứ ba là tiền gửi trên các tài khoản tiền gửi tiết
kiệm và tiền gửi có kì hạn… Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản
tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng số
tiền đó để mua hàng hóa dịch vụ. Do đó, thông qua việc cho vay, các ngân
hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán (M
1
). Toàn bộ hệ thống ngân hàng
cũng tạo phương tiện thanh toán khi các khoản tiền gửi được mở rộng từ
ngân hàng này sang ngân hàng khác trên cơ sỏ cho vay. Khi khách hàng

định số 193/QÐ-NH5 ngày 12/9/1994 và tiếp tục tăng lên 174,9 tỷ VND theo
Phan Quang Huy – Ngân hàng 44B 24
Chuyên đề tốt nghiệp
QÐ số 53/QÐ-NH5 vào ngày 18/3/1996 của NHNN. Đến cuối năm 2004,
VPBank nhận được quyết định số 689/NHNN -HAN7 của Ngân hàng Nhà
nước chấp thuận cho VPBank được nâng vốn điều lệ lên 198,4 tỷ đồng. Trong
quý I năm 2005, theo Công văn chấp thuận số 134/NHNN-HAN7 ngày
25/02/2005, NHNN đã chấp thuận cho VPBank nâng vốn điều lệ lên
243,7 tỷ đồng. Hiện nay số vốn điều lệ của VPBank đã là 500 tỷ đồng với 2 cổ
đông chiến lược nước ngoài là Quỹ đầu tư Dragon Capital và ngân hàng
OCBC.
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, VPBank luôn chú ý đến
việc mở rộng quy mô, tăng cường mạng lưới hoạt động tại các thành phố lớn.
Tính đến hết tháng 1 năm 2006, hệ thống VPBank có tổng cộng 31 điểm giao
dịch gồm có: Hội sở chính tại Hà Nội, 12 Chi nhánh cấp I tại các tỉnh, thành
phố của đất nước là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Huế, Ðà
Nẵng, Cần Thơ, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc và Bắc Giang, 14 chi nhánh cấp 2 và
4 Phòng Giao dịch. Trong năm 2005 và 2006, VPBank dự kiến sẽ mở thêm
khoảng 20 điểm giao dịch mới tại các Tỉnh, Thành là trọng điểm kinh tế của cả
nước.
Số lượng cán bộ, nhân viên của VPBank trên toàn hệ thống tính đến
cuối năm 2005 là 782 người, trong đó phần lớn là các cán bộ, nhân viên có
trình độ Ðại học và trên Ðại học (chiếm 87%). Với đội ngũ cán bộ, nhân viên
năng động, nhiệt tình và có trình độ nghiệp vụ cao, nguồn nhân lực của
VPBank luôn được đánh giá cao và sẽ là một trong những tiền đề cho sự phát
triển của Ngân hàng trong tương lai.
Năm 2000 đánh dấu một chuyển biến quan trọng trong quá trình phát
triển của VPBank. Đó là việc Hội đồng quản trị quyết định lựa chọn mục tiêu
chiến lược của VPBank cho tới năm 2010 là xây dựng VPBank trở thành ngân
hàng bán lẻ hàng đầu của Việt Nam và trong khu vực. Khách hàng tiềm năng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status