LỜI MỞ ĐẦU
Trong vấn đề chất lượng và quản lý chất lượng đã trở thành một nhân tố
chủ yếu trong chính sách kinh tế của nhiều quốc gia Gần đây, do khoa học kỹ
thuật phát triển vì vậy mà chu trình sản xuất đã được rút ngắn, chất lượng sản
phẩm được nâng cao, mặt khác thu nhập quốc dân ngày càng tăng kéo theo
nhu cầu của người tiêu dùng luôn luôn thay đổi, họ đòi hỏi hàng hoá phải có
chất lượng phù hợp. Chính vì vậy mà cuộc cạnh tranh về chất lượng sẽ thay
thế cuộc cạnh tranh giá cả. Xu hướng này diễn ra ở tất cả các nước trên thế
giới và không ngoại trừ các doanh nghiệp ở Việt nam.
Công ty tư vân Xây dựng dân dụng Việt Nam (VNCC) là một Công ty tư
vấn xây dựng đầu tiên của nghành xây dựng, hoạt động trong cơ chế thị
trường tự do cạnh tranh. Để tồn tại và phát triển tất yếu phải cạnh tranh. Nhận
thức được vấn đề đó ban lãnh đạo Công ty đã và đang triển khai áp dụng
thành công hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001 nhằm mục đích nâng cao
chất lượng tạo lợi thế cạnh tranh và khẳng định vị thế của doanh nghiệp trên
thị trường, hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty, đồng thời góp phần vào
sự phát triển của đất nước.
Xuất phát từ lợi ích của việc áp dụng bộ ISO và yêu cầu thực tế của
Công ty, và qua sự hướng dẫn của cô giáo Th.s Trần Thị Thạch Liên, tôi đã
chọn đề tài: “Tăng cường quản lý chất lượng tại công ty tư vấn xây dựng
đân dụng việt nam”. Hoạt động cung cấp dịch vụ của Công ty bao gồm nhiều
mặt như: thiết kế công trình, lập dự toán, nghiên cứu khoa học… nhưng trong
chuyên đề này chỉ chú trọng nghiên cứu mảng chất lượng và quản lý chất
lượng của Công ty. ở đây vấn đề được đặt ra và xem xét quá trình sản xuất
kinh doanh của Công ty trong vài năm trở lại đây.
Trong chuyên đề đã sử dụng một số phương pháp phân tích thống kê mô
tả, phương pháp duy vật biện chứng, phân tích định tính, định lượng, sử dụng
các bảng biểu, sơ đồ và biểu đồ thông qua phân tích các tài liệu thực tế của
1
Công ty, đồng thời kết hợp với phương pháp quan sát trực quan để thu thập
dịch là VNCC.
Với vị thế của một tổ chức thiết kế kiến trúc đầu tiền của ngành Xây
dựng và bằng nỗ lực bản thân, VNCC đã nhanh chóng xác lập được một vị trí
đầu ngành của mình nhờ có đội ngũ đông đảo các Giáo sư, tiến sĩ, Kiến trúc
sư, Kỹ sư giàu nghị lực, ham học hỏi và được đào tạo cơ bản ở các trường đại
học trong và ngoài nước nên sớm trưởng thành trong nghề nghiệp với trình
độ chuyên môn cao. Trong đó, một số trở thành các chuyên gia đầu ngành và
là thành viên BCH trung ương Hội kiến trúc sư, Hội xây dựng, Hội kết cấu,
Hiệp hội tư vấn Xây dựng Việt Nam,... Những thành quả lao động trí tuệ 45
năm qua của Công ty là hàng ngàn công trình kiến trúc được xây dựng trên
nước bạn Lào, Campuchia; hàng trăm dự án, đề tài nghiên cứu khoa học, ứng
dụng tiến bộ kỹ thuật, phát triển công nghệ được triển khai đã góp phần tô
đậm thêm bức tranh toàn cảnh nền Kiến trúc Việt Nam suốt nửa thế kỷ 20 và
góp phần vào sự nghiệp phát triển chung của ngành.
Mục tiêu của VNCC là phát huy truyền thống , phấn đấu hơn nữa để sớm
trở thành một Công ty Tư vấn Xây dựng có tầm cỡ trong khu vực và Quốc tế.
VNCC cam kết thiết lập và duy trì hệ thống chất lượng theo ISO 9001 và
khẳng định rằng toàn bộ dịch vụ và sản phẩm do Công ty thực hiện sẽ đáp
ứng tất cả các nhu cầu của khách hàng với phương châm : “ Chất lượng là
hàng đầu”
3
Trước thềm thế kỷ 21, để thích ứng với những thách thức cũng như để
nắm bắt các vận hội, VNCC không ngừng phát huy nội lực và sẵn sàng hợp
tác với các tổ chức, các nhà tư vấn trong và ngoài nước để hoàn thành nhanh
nhất với chất lượng cao nhất các công việc của mình.
Bằng truyền thống và bề dầy kinh nghiệm của gần nửa thế kỷ xây dựng
và trưởng thành, với cơ sở vật chất, năng lực hiện có và tiềm năng đang được
khơi dậy, VNCC đủ sức và lực hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ của Bộ, Nhà
nước giao và thoả mãn mọi nhu cầu của quý khách hàng.
đào tạo 4 tháng về quản lý dự án và kỹ năng tư vấn xây dựng theo thông lệ
quốc tế; cử nhiều đoàn CB quản lý cấp cao của VNCC và của Bộ sang tham
quan, thực tập ngắn ngày tại Vương quốc Anh; mở lớp đào tạo tiếng Anh
trình độ cơ bản cho 40 CB; 48 CB khác được cử đi đào tọ sử dụng máy vi tính
( MT) và quản lý mạng tại các trường ĐH trong nước; đào tạo tại chỗ hàng
trăm CB nguồn ( đào tạo viên) cho công tác tư vấn xây dựng và mở các lớp
tập huấn tại Thủ đô Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, đồng thời phối hợp với các
Hãng quốc tế của Anh , Pháp, Mỹ, Đức, Trung Quốc, Thuỵ Điển, Australia,
Singapore, Israel v.v.. tổ chức nhiều Hội thảo khoa học. Trước đó, ngay từ
những năm đầu của thời kỳ mở cửa, VNCC cũng đã chú trọng công tác đào
tạo nhân lực từ nhiều nguồn khác nhau: một mặt cử cá CB có năng lực, đạo
đức sang Viện Công nghệ Châu á( AIT) BăngKốc ( Thái Lan) đào tạo Thạc
sỹ khoa học; mặt khác cử nhiều lượt CB ra nước ngoài ( Hà Lan, Thái Lan,
Hồng Công....) dự các khoá học ngắn ngày về các chuyên đề KHKT, KHCN
mũi nhọn thuộc lĩnh vực CNTT, động lực học công trình, môi trường v.v..
Cùng trong khoảng thời gian này một số CB của VNCC lần lượt bảo vệ thành
công luận án TS. KTr, TS. KHKT tại các Trường ĐH trong và ngoài nước.
Và, gần đây còn tổ chức lớp bồi dưỡng nghề nghiệp mỗi tuần một buổi cho
5
các CB trẻ mới được tuyển dụng nhằm giúp họ nhanh chóng thích nghi với
môi trường làm việc của VNCC đổi mới hàng ngày .
Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật: nội
dung phần lớn các dự án, đề tài nghiên cứu ( dù là cấp ngành hay cấp cơ sở)
cũng đều xuất phát từ thực tiễn hoạt động của VNCC đòi hỏi và bám sát sự
phảt triển KHKT, KHCN, nhất là sự phát triển có tính chất bùng nổ của công
nghệ thông tin đang diễn ra hàng ngày trong và ngoài nước, như các đề tài:
* Nghiên cứu khả thi: ứng dụng CNTT nâng cao năng lực tư vấn- thiết
kế của VNCC
* Điều tra, khảo sát, đánh giá các yếu tố tác động đến tư vấn đầu tư xây
thống mạng cục bộ VNCCNET ( đủ mạnh) với trên 100máy trạm ( chưa kể số
máy do Chi nhánh phía Nam và các cá nhân tự trang bị) và hệ thống thiết bị
ngoại vi ( tương đối hiện đại) đang hoạt động. Đã mua bản quyền sử dụng
chương trình phân tích và thiết kế kết cấu PKPM, STAADIII và một số phần
mềm MT chuyên ngành khác. Phần lớn các sản phẩm dịch vụ - tư vấn- thiết
kế của VNCC giờ đay đã được thực hiện bằng CNTT. Trong đó, không ít
công trình có hồ sơ thiết kế của tất cả các bộ môn chuyên dụng ( điển hình là
công trình Nhà ga T1 Sân bay quốc tế Nội Bài); nhiều Văn phòng, Trung tâm
đã thực hiện được mục tiêu giải phóng Công nghệ Tê Ke thay bằng CNTT;
hầu hết các bộ môn đều có các phần mềm MT chuyên ngành phục vụ sản xuất
và nghiên cứu , trong đó phải kể đến bộ môn kết cấu hiện đang khai thác các
chương trình tính toán kết cấu (SAP 90, XETABS 95, MICROFEAP ...;
STAADIII, PKPM, KP...) rất có hiệu quả; đặc biệt Trung tâm ứng dụng Tin
học đã ứng dụng thành công Công nghệ đa phương tiện trình bầy kết quả đề
tài Nghiên cứu các kiểu nhà ở sau năm 2000 ( chương trình biểu diễn 14
phương án kiến trúc và 4 cảnh nội thất, dài 9 phút, được thu ở độ phân giải
7
340 x 260 pixer, có nhạc nền và đã được ghi lưu vào VCD) và mô phỏng nội
ngoại thất công trình Nhà ga T1 Sân bay quốc tế Nội Bài - Hà Nội ( chương
trình biểu diễn 4 phút, được thu ở độ phân gải 640 x 480 pixer, có nhạc nền và
đã được ghi lưu vào VCD) đã thu hút được sự chú ý , quan tâm của các đồng
nghiệp trong giới kiến trúc sư và của các cơ quan tư vấn- thiết kế - xây dựng
nói chung. Thành công bước đầu trong lĩnh vực ứng dụng CNTT của VNCC (
trong sản xuất và trong nghiên cứu) vài năm trở lại đây đã tôn hình ảnh của
VNCC lên một sắc độ mới ( đậm nét hơn trong con mắt các nhà quản lý, các
tổ chức và cá nhân các chuyên gia tư vấn và ngoài nước).
Một loại hình dịch vụ tư vấn xây dựng mà trong thời kỳ này các cán bộ
của VNCC đã thực hiện có hiệu quả. Đó là lĩnh vực thẩm định thiết kế công
trình xây dựng và giám sát kỹ thuật hiện trường do các đơn vị khác trong và
tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ra nghị định số
506/TTg, thành lập Nha Kiến trúc. Trong đó có phòng thiết kế kiến trúc đầu
tiên của Nhà nước.
45 năm qua, sau nhiều lần thay đổi tên gọi và không ngừng lớn mạnh về
tổ chức và năng lực, nhưng chức năng cơ bản của cơ quan này không thay
đổi, luôn mang tính kế thừa và phát triển.
Chính vì vậy mà năm 1955 được coi là năm ra đời của tổ chức thiết kế
kiến trúc đầu tiên, ngày đó thuộc Bộ Giao thông Công chính, sau là Thuỷ lợi-
Kiến trúc, rồi tách thành Bộ Kiến trúc và ngày nay là Bộ Xây dựng- Nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Sau này, để phù hợp với tình hình phát triển của công tác thiết kế xây
dựng, tên gọi của tổ chức thiết kế kiến trúc cũng được thay đổi.
1955 – 1958: Phòng thiết kế trực thuộc nha Kiến trúc
9
1958 – 1961:Cục thiết kế dân dụng – Bộ kiến trúc .
1961 – 1969: Viện thiết kế kiến trúc – Bộ kiến trúc
1969 – 1975: Viện thiết kế dân dụng – Bộ xây dựng
1975 -1978: Sáp nhập ba viện: Viện Quy Hoạch Đô Thị và Nông Thôn,
Viện thiết kế dân dụng và viện công trình kỹ thuật đô thị thành viên xây dựng
Đô thị – Nông thôn và Xây dựng Dân dụng, gọi tắt là viện xây dựng Đô thị,
Nông thôn – Bộ Xây dựng.
1978 – 1993: Viện thiết kế nhà ở và công trình công cộng – Bộ Xây
Dựng .
1993 – nay: Công Ty tư vấn xây dựng dân dụng việt nam (VNCC) – Bộ
Xây Dựng.
2. Thông tin chung về doanh nghiệp
- Tên doanh nghiệp : Công ty tư vấn xây dựng dân dụng Việt Nam tên
Quốc tế là : Viet Nam National Construction Consul TaNTS
- Công ty tư vấn xây dựng dân dụng Việt Nam là công ty của nhà nước .
hướng dẫn kỹ thuật xây dựng; đào tạo nâng cao kỹ năng tư vấn- thiết kế ,
quản lý dự án; quản lý chất lượng; cung cấp chuyên gia KHKT, chuyên môn;
tổ chức và hợp tác tổ chức hội thảo khoa học, chuyên môn và các lĩnh vực
liên quan.
* Lựa chọn dự án đầu tư, quản lý dự án, quản lý vốn, lựa chọn đối tác,
đại diện chủ đầu tư, tư vấn giám sát công trình.
* Thi công xây lắp, cố vấn kỹ thuật và chuyển giao công nghệ.
4. Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty
a. Đội ngũ nhân lực của công ty.
Tổng số cán bộ và công nhân : 450
Tiến sỹ , KTS cao cấp, KS cao cấp : 14
11
Thạc sỹ : 10
Kỹ sư và Kiến trúc sư : 370
Một số chuyên gia của Công ty là thành viên của các Hội đồng tư vấn
Kiến trúc, Quy hoạch của Thủ tướng Chính phủ, của Bộ Xây dựng, của hội
kiến trúc sư Việt Nam và Kiến trúc sư trưởng TP Hà Nội.
b. Trách nhiệm và quyền hạn của các thành viên
*giám đốc
Được Bộ Trưởng bổ nhiêm, trịu trách nhiệm trước Bộ Trưởng và toàn bộ
hoạt động của công ty cũng như chất lượng công việc của công ty thực hiện .
*Phó giám đốc :
Phó giám đốc được bộ trưởng bổ nhiệm theo đề nghị của giám đốc, giúp
đỡ giám đốc trong công việc và trịu trách nhiệm trước giám đốc về lĩnh vực
được phân công .
*Phụ trách đơn vị (trưởng phòng)
Phụ trách đơn vị do giám đốc bổ nhiệm và trịu trách nhiệm trước giám đốc
công ty về mọi hoạt động của đơn vị mình.
*Phó phòng
Phó giám đốc Phó giám đốc Phó giám đốc
XNXD & chuyển giao công nghệ
XN Ks Đ Đ và kiểm định XD
Văn phòng Nước và môi trường
Văn phòng cơ điện
Các văn phòng kết cấu 1,2,3
Các văn phòng kiến trúc 1,2,3,4,5
Văn phòng phát triển Đô thị
Văn phòng dự án
Văn phòng kinh tế và dự toán
Các chi nhánh
Phòng điều hành sản xuất
Phòng kế toán tài chính
Văn phòng tổng hợp
Trung tâm khoa học công nghệ
Trung tâm ứng dụng tin học
Phòng tổ chức lao động
14
5. Hợp tác quốc tế
Trong trào lưu hội nhập quốc tế, ngày càng nhiều tổ chức tư vấn nước
ngoài vào làm ăn tại Việt Nam, nhiều đối tác nước ngoài đã tìm đến với công
ty để cùng nhau hợp tác trong đấu thầu cũng như trong thiết kế các công trình
cụ thể. Nhận thức được tiềm năng to lớn trong việc mở rộng quan hệ nên từ
nhiều năm trước, công ty đã có những bước chuẩn bị và đã có những kết quả
gặt hái được như:
Hợp tác với GMP (Đức) trong dự án trung tâm hội nghị quốc gia
Hợp tác với Dary Jackson (úc) trong công việc quy hoạch chi tiết và lập
dự án đầu tư xây dựng khoa Công nghệ trường Đại học Quốc gia.
Hợp tác với Heerim (Hàn Quốc) trong dự án trung tâm điều hành tổng
công ty Điện lực Việt Nam.
cần xây dựng đề tài cấp công ty phục vụ sản xuất đồng thời nâng cao chất
lượng dịch vụ của công ty và bằng sự đóng góp trí tuệ tập thể và sự nỗ lực của
các kỹ sư tin học trẻ, phần mềm thống kê cốt thép gắn với tính dự toán đã
được phổ biến cài đặt cho các đơn vị liên quan đã giúp giải quyết một trong
những vấn đề tồn tại từ những năm trước là khâu dự toàn thường bị dồn ép
tiến độ dẫn đến dễ sai sót.
7. Công tác điều hành của công ty
7.1. Điều hành sản xuất:
Với việc thực hiện quy trình ISO, nhìn chung công tác điều hành sản
xuất từ công ty đến các đơn vị sản xuất đã đi vào nền nếp. Sự phối hợp
thường xuyên giữa phòng điều hành sản xuất, lãnh đạo các đơn vị và các chủ
nhiệm đề án đã giúp cho việc xử lý các vấn đề nảy sinh, kịp thời tháo gỡ
vướng mắc trong quá trình sản xuất.
Việc quản lý hợp đồng, biên bản bàn giao hồ sơ và biên bản nghiệm thu
thanh lý hợp đồng được thực hiện tốt thông qua việc sử dụng phần mềm
16
chuyên ngành nhằm đảm bảo cung cấp nhanh chóng các thông tin cần thiết
liên quan đến quá trình thực hiện hợp đồng. Đã thực hiện việc báo cáo, thống
kê công tác sản xuất thông qua mạng lưới nội bộ, góp phần nâng cao hiệu quả
công tác quản lý.
Trong công tác soạn thảo hợp đồng kinh tế của các đơn vị đôi khi vẫn
còn khiếm khuyết như: Phạm vi công việc thực hiện không ghi đúng trình tự
các bước thiết kế để phù hợp với luật xây dựng và quy định quản lý chất
lượng; tính giá trị kinh tế áp dụng sai hệ số về định mức, chi phí bảo hiểm,
thuế VAT...
Công tác báo số liệu ở một số đơn vị vẫn còn chậm so với yêu cầu;
công tác lập tiến độ thực hiện các hợp đồng kinh tế của nhiều dự án không kịp
thời đã ảnh hưởng đến khâu quản lý tiến độ chung.
Việc phối hợp giữa các bộ môn, giữa chủ nhiệm dự án và chủ nhiệm bộ
soạn và phát hành lại các quy trình ISO. Qua các đợt kiểm tra đánh giá ít sai
sót, có nhiều tiến bộ.
Các chế độ chính sách: BHXH, BHYT, nâng ngạch – nâng bậc lương,
chế độ nghỉ dưỡng sức hàng năm, khám bệnh, nghĩa vụ quân sự, chế độ cho
cán bộ nghỉ hưu... được giải quyết kịp thời.
Công tác đào tạo và đào tạo tại chỗ đã cử người tham gia các khóa đào
tạo, nhưng khâu tổ chức các buổi đào tạo tại chỗ triển khai còn hạn chế vì cả
nguyên nhân chủ quan và khách quan. Công tác tuyển dụng đặt biệt là chuyên
ngành Cơ - Điện đã được chú trọng, tổ chức xét tuyển dụng kịp thời nghiêm
túc và đã ký nhiều hợp đồng lao động các loại. Công tác hành chính đã đáp
ứng được thời gian thường trực, nâng cao chất lượng phục vụ.
18
Chương II
HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ
CHẤT LƯỢNG TẠI CÔNG TY (VNCC)
I . HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY
1) Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh chung của công ty
Năm 2006 toàn công ty ký được 695 HĐKT với tổng giá trị hợp đồng
hai dấu là 120,6 tỷ đồng và thêm sản lượng năm 2005 chuyển sang, tổng cộng
là 133 tỷ đồng. Nhìn chung số lượng các hợp đồng có giá trị lớn đã tăng lên
so với năm 2005. Trong tổng số 507 hợp đồng hai dấu thì có 20 hợp đồng có
giá trị lớn hơn 1 tỷ với tổng giá trị l 58 tà ỷ ( chiếm 48% tổng sản lượng). Như
vậy là mới chỉ 20 hợp đồng đã đạt xấp xỉ một nửa sản lượng toàn Công ty,
điều này đã khẳng định hiệu quả từ các hợp đồng kinh tế lớn mang lại.
Mức độ hoàn thành kế hoạch sản xuất của công ty được thể hiện qua
các chỉ tiêu chủ yếu sau đây.
Đơn vị tính: triệu đồng
TT Nội dung diễn giải
Thực
4. Thẩm tra TKKT & tổng dự toán 2,99 2,1
5. Lập HS mời thầu và đánh giá thầu 0,64 0,7
6. Khảo sát địa chất 9,01 3,7
7. Giám sát thi công 5,79 1,6
8. Nén tĩnh thử cọc 3,89 1,2
9. Thi công xây lắp 2,98 1,2
10. QLDA và tư vấn khác 0,01 1,0
Nhìn vào những số liệu trên cho thấy: Thiết kế quy hoạch các Khu đô
thị tăng nhưng chưa đủ lực lượng để chiếm lĩnh mảng dịch vụ này, mà nhiều
dự án vẫn còn phải nhờ những chuyên gia của các đơn vị bên ngoài. Thế
mạnh và sở trường của công ty vẫn là lập dự án, thiết kế (chiếm 86% tổng giá
trị sản lượng) và cần tập trung tiếp tục phát huy trong những năm tới. Việc
các đơn vị hướng về các sản phẩm hạ tầng để dần dần chiếm lĩnh thị trường
quy hoạch và thiết kế các khu đô thị được quan tâm hơn.
Đối với những thể loại công trình được công ty thực hiện trong năm
qua cũng thể hiện trong bảng sau:
TT Thể loại công trình
Tỷ trọng (%)
Năm 2005
Tỷ trọng (%)
Năm 2006
1 Công trình đặc biệt (TT HNQG) 20,12
2 Trụ sở làm việc 19,93 22,00
3 Nhà ở và nhà cao tầng 29,37 18,28
4 Công trình hạ tầng 5,42 12,37
5 Trường học 5,76
6 Bệnh viện 5,05 5,60
7 Trung tâm thương mại và dịch 11.52 5,06
20
dự án lớn như:
21
- Hạ tầng kỹ thuật khu Di lịch sinh thái Mộc châu – Sơn La (2,9 tỷ –
VPKT2)
- Hạ tầng kỹ thuật khu bên ngoài nhà thi đấu tỉnh Ninh Bình (1,6 tỷ –
VPKT2)
- Hạ tầng kỹ thuật khu dân cư, du lịch và sinh thái Phú Quý – TP Nha
Trang (1,2 tỷ – VPKT1)
- Hạ tầng kỹ thuật khu đô thị Chí Đông – Mê Linh (1,2 tỷ – VPKT3)
Việc kịp thời nắm bắt các nhu cầu phát triển của thị trường đầu tư xây
dựng dựa trên cơ sở kế hoạch phát triển kinh tế của cả nước và từng vùng đã
giúp chúng ta chủ động tiếp cận với các khách hàng tiềm năng:
- Chủ đầu tư là các Bộ – Ngành chiếm 37% sản lượng hợp đồng
- Chủ đầu tư là các tỉnh, thành phố chiếm 24% sản lượng hợp đồng
- Chủ đầu tư là công ty liên doanh chiếm 21% sản lượng hợp đồng
- Chủ đầu tư là tư nhân chiếm 18% sản lượng hợp đồng
Cũng như những năm về trước, nguồn vốn của các hợp đồng chủ yếu từ
nguồn vốn ngân sách nhà nước chiếm 61% nhưng năm nay điều đáng chú ý là
năm nay chúng ta vươn tới khách hàng tư nhân nhiều hơn (năm 2005 tỷ trọng
này là 9%). Đây là thuận lợi cho quá trình thanh toán, song cũng là thị trường
yêu càu đòi hỏi khắt khe hơn.
2. Tình hình chất lượng sản phẩm và tiến độ thực hiện
2.1. Lập dự án:
Phần lớn các báo cáo nghiên cứu khả thi có chất lượng tốt, thể hiện sự
nghiêm túc và chuyên nghiệp trong cách thể hiện. Một số dự án lớn nhờ có ý
kiến đóng góp của Ban giám đốc nên phương án đạt chất lượng cao, đáp ứng
với yêu cầu của chủ đầu tư và nhanh chóng được phê duyệt. Trong năm 2006,
số lượng các phương án thắng khi tham dự đấu thầu nhiều hơn trước.
2.2. Quy hoạch – Hạ tầng:
23
2.6. Tư vấn giám sát thi công
Nhằm thực hiện chủ trương nâng cao tính chuyên nghiệp của công tác
giám sát, Công ty đã thành lập Xí nghiệp Tư vấn giám sát và quản lý dự án.
Tỷ trọng tư vấn giám sát tuy chỉ ở mức 1,6% tổng sản lượng toàn công ty
nhưng là phù hợp với số người, trình độ cán bộ và trang thiết bị hiện có.
Ngoại trừ một số hợp đồng giám sát đang thực hiện dở dang tại tài khoản
công ty còn hầu hết công việc giám sát đã chuyển qua tài khoản của Xí nghiệp
TVGS&ALDA.
2.7. Khảo sát, đo đạc và kiểm định chất lượng xây dựng:
Hiện tại trong công ty có 2 đơn vị có chức năng thực hiện công tác
khảo sát đo đạc là: XNKS&KĐCLXD (thực hiện 54% khối lượng khảo sát)
và xí nghiệp XD&CGCN (thực hiện 33% khối lượng khảo sát). Ngoài ra các
đơn vị khác cũng thực hiện khối lượng công việc còn lại. Nhìn chung hồ sơ
khảo sát đảm bảo chất lượng, không để xảy khiếu nại của khách hàng.
2.8. Thi công xây dựng
Giá trị sản lượng thi công cả năm là 1,4 tỷ đồng (giảm so với năm
2005) chủ yếu là thi công trang trí nội ngoại thất và cải tạo, sửa chữa nhỏ.
Loại dịch vụ này chiếm một phần nhỏ trong sản lượng chung của công ty.
Công tác thi công rất khó để có điều kiện cạnh tranh cùng các nhà thầu, không
có nền thảng vững chắc, không mang tính chuyên nghiệp.
3. Tình hình tổ chức sản xuất của các đơn vị
Năm 2006 đã có 17/18 đơn vị sản xuất hoàn thành toàn diện 3 chỉ tiêu
kế hoạch giao. Có thể nói chưa bao giờ Công ty chúng ta có số lượng đơn vị
hoàn thành kế hoạch cao như vậy.
Mặc dù, công ty có một số thay đổi về cơ cấu tổ chức: Thành lập mới
XN tư vấn giám sát và quản lý dự án, thành lập lại văn phòng kết cấu 3 và văn
phòng dự án, hoặc điều chuyển cán bộ quản lý của một vài đơn vị như:
24