Khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á - Pdf 29

Đề án môn học Lê Thanh Hải QLKT 40A
Lời Nói Đầu

Trong vài thập kỷ qua sự tăng trởng liên tục với tốc độ cao ( >7%) của khu
vực châu á mà nòng cốt là khu vực châu á - Thái bình dơng đã thu hút đợc sự quan
tâm rất lớn của cả thế giới. Tiếp theo sự thần kỳ của Nhật bản, các nớc NICs và
ASEAN đã biến khu vực này thành khu vực có nền kinh tế năng động nhất trên thế
giới. Nhiều nhà kinh tế và học giả phơng tây đã không tiếc lời ca tụng về sự phát
triển kinh tế của khu vực này và cho rằng thế kỷ 21 là thế kỷ của những con rồng
châu á. Chính vì thế các nớc này luôn đợc coi là các mô hình kinh tế mẫu mực để
nhiều nớc đang phát triển trên thế giới học tập trong việc xây dựng chiến lợc phát
triển kinh tế của mình . Thế nhng, cơn bão tài chính - tiền tệ châu á xảy ra ở khu
vực này đã làm chấn động cả nền kinh tế khu vực và thế giới.Phạm vi và mức độ
thiệt hại của nó là rất lớn. Cuộc khủng hoảng bắt đầu từ Thái lan sau đó lan sang
các nớc khu vực Đông Nam á, sang Đông Bắc á và ảnh hởng đến hầu hết khu vực
trên thế giới. Thực chất của cuộc khủng hoảng này là một cuộc khủng hoảng mang
tính cơ cấu với sắc thái tài chính - tiền tệ rất đậm nét chứ không phải là khủng
hoảng chu kỳ hay sự đỗ vỡ của một mô hình phát triển nào.
Đối với nớc ta sau hơn mời năm đổi mới, đã đạt đợc rất nhiều thành tựu to
lớn, chúng ta đã từng bớc thực hiện thành công những mục tiêu nh : chuyển sang
nền kinh tế nhiều thành phần, thực hiện tự do kinh doanh đa dạng, đa phơng hoá
quan hệ kinh tế đối ngoại để từng bớc hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới,
ngày càng khẳng định vị thế của mình trên trờng quốc tế . Là một nớc nằm trong
khu vực xảy ra khủng hoảng, chúng ta cũng gặp phải rất nhiều khó khăn và thử
thách do cuộc khủng hoảng gây ra. Chính vì lẽ đó, đề tài này với mong muốn là từ
những phân tích, đánh giá nguyên nhân, tác động của cuộc khủng hoảng đến thế
giới, khu vực và đặc biệt là Việt nam, trên cơ sở đó có thể rút ra các bài học kinh
nghiệm và đa ra các giải pháp nhằm hạn chế và khắc phục những ảnh hởng tiêu
cực của nó đến công cuộc đổi mới và đờng lối mở cửa mà Đảng và nhân dân ta
đang ra sức thực hiện .
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện đề án này, song sự

toàn thế giới, do đó có hiện tợng lây lan khủng hoảng từ nớc này sang nớc khác.
Những nớc mà đồng tiền của họ có khả năng chuyển đổi đợc trên thị trờng ngoại hối
thì phải chịu lây lan và ảnh hởng nặng nề nhất, còn những nớc đồng tiền không
chuyển đổi đợc nh Việt Nam sẽ phải chịu ảnh hởng ít hơn.
1.4 Đặc điểm chung của các cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ.
Khởi nguồn của các cuộc khủng hoảng kinh tế biều hiện dới hình thức khủng
hoảng tài chính - tiền tệ đều từ các quốc gia và khu vực phụ thuộc quá nhiều vào thị
2
Đề án môn học Lê Thanh Hải QLKT 40A
trờng quốc tế cả về mặt tiền vốn và thị trờng tiêu thụ. Những cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ này thờng mang những đặc điểm và nguyên nhân chủ yếu sau :
* Sự tách rời ngày càng xa giữa tiền vốn ký hiệu và tiền vốn thực tế
Lạm phát tiền vốn ký hiệu thực chất là sự mở rộng quá mức lợng tiền vốn này so
với lợng tiền vốn thực tế. Khi khủng hoảng xảy ra các loại tiền vốn ký hiệu đều giảm
giá nhanh, làm cho chúng trở lại với giá trị thực tế, điều này đợc biểu hiện qua sự
giảm giá, giảm giá bất động sản hoặc phá giá tiền giấy nền kinh tế rơi vào tình trạng
tiêu điều.
* Tác động của sự di chuyển tiền vốn quốc tế ngày nay
Di chuyển tiền vốn quốc tế là một trong những nội dung cơ bản của các giao dịch
quốc tế, tạo nên sự lu động của các yếu tố sản xuất và các loài tiền vốn trên thị trờng
thế giới. Từ những năm 80 đến nay, xu thế toàn cầu hoá thị trờng tiền vốn quốc tế
phát triển rất mạnh. Nó tăng cờng ảnh hởng của sự lu động tiền vốn quốc tế đối với
nền kinh tế thế giới. Một mặt nó thúc đẩy tăng trởng kinh tế của các nớc cũng nh th-
ơng mại quốc tế; song mặt khác cũng làm cho một số nớc đang phát triển mắc sai
lầm trong việc sử dụng tiền vốn nớc ngoài. Do lạm dụng tiền vốn nớc ngoài, sử dụng
kém hiệu quả đã làm cho một số nớc rơi vào tình trạng không trả nỗi nợ, nền kinh tế
bị phụ thuộc và trì trệ kéo dài. Tình hình Mỹ La tinh những năm 80 và Đông Nam á
gần đây là những bài học kinh nghiệm.
Hơn nữa, do tiền vốn ký hiệu ngày càng phát triển, đặc biệt loại tiền vốn ngắn
hạn quá lớn trong tổng số vốn lu động trên thị trờng thế giới đã làm tăng tính biến

giá. Cùng với nó là việc duy trì một cơ cấu hợp lý về vốn đầu t trực tiếp và gián tiếp
để tránh tác động của đầu cơ và nguy cơ rút vốn đột ngột và ồ ạt của các nhà đầu t n-
ớc ngoài.
Ngân hàng là nơi nhạy cảm nhất đối với cuộc khủng hoảng, hơn nữa cuộc khủng
hoảng có thể đợc hạn chế hay trầm trọng hơn cũng do hệ thống ngân hàng quyết
định. Vì vậy, cần phải tăng cờng vai trò của chính phủ trong việc tạo ra khung pháp
lý và đề ra các chủ trơng chính sách để tăng cờng hệ thống ngân hàng tài chính.
3.Diễn biến của khủng hoảng tài chính-tiền tệ châu á

Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á xuất phát từ Thái Lan, nó nằm trong
chuỗi các cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ liên tiếp diễn ra ở các nớc đang phát
triển trong vòng 20 năm trở lại đây. Sau những gì đã xảy ra từ những cuộc khủng
hoảng trớc với quá nhiều bài học thu đợc ngời ta nghĩ rằng khó có thể để xảy ra một
cuộc khủng hoảng tơng tự. Vậy mà nó đã xảy ra ngay tại Đông Nam á - nằm trong
khu vực Đông á vốn đợc coi là nơi có sự phát triển thần kỳ, là động lực tăng trởng
của nền kinh tế thế giới trong nhiều năm qua.
Ngay từ năm 1996, đã xuất hiện những dấu hiệu về một khủng hoảng tiền tệ, tài
chính ở các nớc Thái Lan, Inđônêsia, Malaysia, Philippin. Những dấu hiệu này là :
mức tăng trỡng xuất khẩu đã giảm mạnh trong năm 1996, ở Thái Lan chỉ còn 6% so
4
Đề án môn học Lê Thanh Hải QLKT 40A
với mức 20% mỗi năm trong thời kỳ 1985 - 1995. Nợ bằng USD của ngân hàng nớc
ngoài ở bốn nớc trên đến cuối năm 1996 đã chiếm từ 15-37% GDP, trong đó số nợ
phải đáo hạn trong mời hai tháng chiếm tỷ lệ khá cao khoảng 50-70%. D nợ ngân
hàng tăng cao 50-110% GDP do ngân hàng của bốn nớc trên vay USD với lãi suất
thấp và tái cho vay bằng nội tệ với lãi suất cao. Nhiều chuyên gia đã cảnh báo với
chiều hớng xấu đi này của nền kinh tế. Nhng vì trong năm 1996 tốc đọ tăng trởng
còn cao, dự trữ ngoại tệ cha suy giảm nên chính phủ các quốc gia này đã cha tính tới
việc áp dụng các biện pháp đủ mạnh để ngăn chặn chiều hớng xấu đi trên đây.
Đến năm 1997 tình hình kinh tế xấu đi nhanh chóng hơn. Mức xuất khẩu giảm

Đồng Ringgit của Malaysia vốn là đồng tiền tơng đối ổn định. Tuy nhiên cũng
giống đồng Baht của Thái lan, đồng Rupi của Inđônêsia, nó cũng rất nhạy cảm đối
với những biến động bất thờng bắt nguồn từ sự lo ngại về tốc độ tăng trởng quá nóng
của nền kinh tế cộng thêm thâm hụt cán cân vãng lai ở mức độ lớn và kéo dài.
Năm 1996, với sự thành công trong kinh tế của Malaysia, đồng Ringgit đã tăng
lên tới 2.53 RM/USD. Nguyên nhân của sự tăng này là do sự tăng lên của các đồng
vốn đầu t từ bên ngoài. Tuy nhiên vào giữa tháng 4/1997 ngân hàng Negra Malaysia
(BNM) đã can thiệp vào thị trờng để bảo vệ đồng Ringgit khi mà đồng tiền này bị
đầu cơ. Lãi suất cũng tăng trong thời gian này. Đống Ringgit đứng trớc sức ép rất
mạnh về tỷ giá và bắt đầu có dấu hiệu mất giá. Trớc tình hình đó, ngân hàng Trung -
ơng đã bỏ ra hàng tỷ USD để bảo vệ đồng Ringgit. Đồng thời lãi suất cũng đợc kính
lên ở mức cao nhất trong vòng mời năm trở lại đây nhằm bảo vệ đồng tiền và chống
lại sự bất ổn của thị trờng ngoại hối. Ngày 15/7/1997 chính phủ Malaysia đã tuyên
bố thả nỗi đồng Ringgit. Ba ngày sau khi tuyên bố, tỷ giá đồng Ringgit đã lên 2.633
RM/USD tức là mất giá khoảng 88% so với trớc tháng 2/1997.
Mặc dù đồng Rupi của Inđônêsia không bị sức ép căng thẳng nh đồng Pêsô của
Philippin nhng chính phủ Inđônêsia đã công bố nới rộng biên độ tỷ giá từ 8% lên
12% vào tháng 11/1997 với khả năng dự trữ ngoại tệ của Inđônêsia còn hạn chế,
Việc nới rộng biên độ tỷ giá là điều cần thiết nhằm tăng khả năng bảo vệ đồng Rupi
khỏi sự đầu cơ tiền tệ. Sau một tuần mở rộng không can thiệp, tỷ giá tăng lên mức
2.52 RP/USD và mất giá khoảng 8,25%. Riêng ngày 13/8/1997 ngân hàng Trung ơng
Inđônêsia đã phải bỏ ra 500 triệu USD để giữ đồng Rupi biến động trong mức 12%.
Tuy nhiên biện pháp này cũng tỏ ra không hiệu quả và ngày 14/8/1997 ngân hàng
trung ơng Inđônêsia phải tuyên bố thả nỗi đồng Rupi. Ngay sau đó đồng Rupi bị mất
giá liên tục, ở thời điểm thấp nhất là 19000 RP/USD so với 2648RP/USD ngày
14/8/1997, có nghĩa là mất giá hơn 500%.
Trong các đồng tiền châu á, đồng Đôla Singapore đợc nhận định là vững chắc
hơn cả, nhng tính đến ngày 18/8/1997, đồng Đôla Singapore mất giá khoảng 7% so
với thời điểm 2/7/1997. Sỡ dĩ đồng Đôla Singapore bị ảnh hởng nhẹ bởi vì quốc gia
này đã giữ đợc trong một thời gian dài thặng d trong cán cân thanh toán và cân đối

Sau khi khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Hàn Quốc nổ ra đã làm cho đồng tiền
của nhiều nớc ở châu á có xu hớng giảm giá tiếp, gây ảnh hởng trực tiếp đến Mỹ và
Nhật, bởi vì 50% kim ngạch xuất khầu của Mỹ là sang các nớc châu á - thái bình d-
ơng, và trong số nợ nớc ngoài của Hàn Quốc thì Nhật chiếm 25%.
Nh vậy, chỉ sau một thời gian ngắn, cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ xảy ra
thì đã có hàng loạt các quốc gia lâm vào khủng hoảng nhng với tính chất, quy mô,
mức độ bị ảnh hởng rất khác nhau tuỳ thuộc vào vị thế, bối cảnh riêng của từng quốc
gia trong quá trình tự do hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới hiện nay.
ii. nguyên nhân và tác động của cuộc khủng hoảng
1. nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á
1.1 Nguyên nhân chủ quan
7
Đề án môn học Lê Thanh Hải QLKT 40A
Theo nhận định của nhiều chuyên gia thì nguyên nhân chủ yếu dẫn đến khủng
hoảng xuất phát từ nội tại của nền kinh tế hay nói cách khác đó là chính nhân tố chủ
quan, là ngòi nổ trực tiếp cho cuộc khủng hoảng.
Thứ nhất, thâm hụt tài khoản vãng lai, nền kinh tế phát triển mất cân đối.
Các nền kinh tế ASEAN là những nền kinh tế hớng ngoại dựa vào tăng trởng xuất
khẩu và trên thực tế các nền kinh tế này đã thực hiện đẩy mạnh tăng trởng bằng các
nỗ lực thu hút đầu t nớc ngoài, tăng vay nợ nớc ngoài chứ không phải dựa vào các
nguồn lực trong nớc, cơ cấu xuất khẩu lại đơn điệu, chủ yếu dựa vào các mặt hàng
điện tử và may mặc ( thờng chiếm 30-40% kim ngạch xuất khẩu của các nớc ASEAN
) và khi nhu cầu của thế giới về các mặt hàng này bị giảm sút thì cán cân thơng mại
của các nớc này bị thâm hụt lớn, gánh nặng nợ nớc ngoài tăng vọt. Mặt khác, các
khoản vay bên ngoài với lại suất thấp đã đợc tập trung chủ yếu cho vay với lãi suất
cao ở hai khu vực không sinh lời và chậm thu hồi vốn là bất động sản và chứng
khoán chứ không phải tập trung cho ngành công nghiệp xuất khẩu. Kết quả là, hầu
hết nền kinh tế ASEAN rơi vào tình trạng thâm hụt lớn về tài khoản vãng lai. ở Thái
lan mức thâm hụt này bằng 8% GDP, Malaysia là 8.6% GDP. Theo tính toán của
IMF nếu mức thâm hụt tài khoản vãng lai của một nền kinh tế nào đó lớn hơn 5%

chế giám sát điều hành không đợc tăng cờng phù hợp. Hơn nữa, chính sách quản lý
ngoại hối của các nớc này quá tự do, việc chuyển đổi giữa ngoại tệ và nội tệ quá dễ
dàng đã tạo khả năng bán tháo đồng nội tệ lấy USD khi xuất hiện những dấu hiệu bất
ổn định trên thị trờng tiền tệ. Hiện tợng thất thoát vốn trở nên nghiêm trọng ở các n-
ớc này do những hoạt động đầu t sai lầm. Để duy trì tốc độ tăng trởng kinh tế nóng
và duy trì tỷ giá cố định, ngân hàng các nớc này đã vay các khoản vay nóng từ các
ngân hàng nớc ngoài ở mức độ nguy hiểm vợt xa so vơi mức dự trữ ngoại tệ trong n-
ớc. Nhìn chung các ngân hàng ở ASEAN đã không thực hiên đợc vai trò điều tiết khi
xuất khẩu bị giảm sút, khi các dòng vốn bị rút ra ồ ạt cũng nh khi lạm phát ở mức
cao mà tốc độ cung ứng tiền vốn vẫn tiếp tục tăng mạnh.
Thứ t, Những bất cập trong chuyển đổi của quá trình công nghiệp hoá - hiện
đại hoá đất nớc. Một nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á là
những bất cập và yếu kém trong bớc ngoặt chuyển đổi của quá trình CNH-HĐH khi
chuyển thành nền công nghiệp mới nh ở Thái lan, Inđônêsia, Malaysia. Chính bất
cập về thể chế và cơ cấu, những chậm chạp trong cải cách đã không giúp cho các nền
kinh tế này chuyển kịp trong điều chỉnh cơ cấu đầu t, tái phân bổ nguồn lực và điều
chỉnh nền kinh tế ở giai đoạn cao hơn. Mất cân đối lớn nhất và đe doạ trực tiếp đến
sự ổn định của hệ thống tài chính - tiền tệ mỗi nớc là sự thâm hụt tài khoản vãng lai
và cơ cấu vốn nớc ngoài đổ vào trong nớc. Mặt khác vốn huy động gián tiếp qua thị
trờng chứng khoán cũng tăng nhanh, trong khi dự trữ ngoại tệ quốc gia không cao và
kim ngạch xuất khẩu giảm dần, có nghĩa là có sự phụ thuộc vào nguồn ngoại tệ nớc
ngoài. Hơn nữa, các khoản vốn vay nóng lại đợc tập trung đầu t vào các lĩnh vực kinh
tế nóng nh bất động sản hay một số ngành công nghiệp mà trớc đó có sự tăng trỡng
mạnh dẫn đến cung vợt quá cầu và gây ra sự trì trệ trên thị trờng.
Thứ năm, sai lầm của các nhà đầu t trong nớc. Là những ngời trực tiếp tiến
hành thực hiện các quá trình đầu t của mình, các nhà đầu t trong nớc của khu vực
châu á phải là ngời chịu trách nhiệm hàng đầu về số phận doanh nghiệp do họ làm
9
Đề án môn học Lê Thanh Hải QLKT 40A
chủ từ cả ba khía cạnh : cơ cấu vốn vay, cơ cấu đầu t và khả năng thích ứng của thị

âu và Mỹ latinh.
Sự gia tăng tính không ổn định của các nguồn vốn ngắn hạn trên thị trờng
tài chính quốc tế.
10
Đề án môn học Lê Thanh Hải QLKT 40A
Toàn cầu hoá cao độ về tài chính - tiền tệ và sự phát triển quá nhanh của các loài
quĩ ở các nớc phát triển đã dẫn đến sự bùng nổ các luồng vốn đầu t t nhân ngắn hạn.
Các nguồn vốn dài hạn nh ODA ngày càng có xu hớng giảm trong khi đó các nguồn
vốn đầu t gián tiếp ngày càng tăng thậm chí tăng nhanh hơn cả vốn đầu t trực tiếp.
Các nớc trong khu vực trong khi huy động và sử dụng các nguồn vốn này đã sự dụng
quá nhiều loại vốn đầu t gián tiếp (chứng khoán), điều đó dễ dẫn đến những tổn th-
ơng của hệ thống tài chính trong nớc.
Các hoạt động đầu cơ từ bên ngoài.
Ngoài nhà tỷ phú G.Soros còn nhiều nhà đầu cơ trong tổng số 2300 quĩ tín dụng
ở Mỹ với số tài sản khổng lồ khoảng 100 tỷ USD nh Tiger, Orbics, Pumar... họ đã
mua đồng Baht, Pêsô, Ringgit, Rupi, các quĩ nói trên đã bán ra khối lợng đồng Baht
trị giá 15 tỷ USD. Với khả năng về tài chính nh vậy, các quĩ tín dụng này hoàn toàn
có khả năng tiến hành các hoạt động nhằm cải thiện tình hình hoặc làm trầm trọng
thêm cuộc khủng hoảng này.
Tình hình chính trị và môi trờng quốc tế.
Có thể nói đây không phải là nguyên nhân chủ yếu của cuộc khủng hoảng, tuy
nhiên nó cũng là nhân tố góp phần không nhỏ gây ra cuộc khủng hoảng này.
Với nhiều phe phái chính trị tranh giành quyền lực ở Thái lan đã làm ảnh hởng
tiêu cực đến quản lý và điều hành nền kinh tế vốn đã chứa đựng những mất cân đối.
Mặt khác với nhiều mối quan hệ mờ ám giữa các chính trị gia và các tập đoàn lớn đã
gây nên một sự cạnh tranh không lành mạnh trong nền kinh tế. Còn ở Inđônêsia, gia
đình Tổng thống Shuhactô đã thao túng nhiều ngành kinh tế then chốt - đây là lối
quản lý theo kiểu " gia đình trị" - đã làm suy yếu dần sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Còn ở Philippin thì tình trạng tham nhũng của các quan chức chính phủ cũng trở nên
nghiêm trọng không kém. Chính những yếu tố bất ổn của môi trơng pháp lý và chính

OECD, cuộc khủng hoảng châu á đã làm cho tăng trởng của các nớc công nghiệp
phát triển giảm 0.9%. Thậm chí nếu nh Trung quốc, Nhật bản, Brazin phá giá đồng
tiền của họ thì rất có thể xảy ra một cuộc khủng hoảng tài chính trên phạm vi toàn
cầu.
Cuộc khủng hoảng đã gây thiệt hại cho châu á ít nhất là 300 tỷ USD, bằng
khoảng 20% GDP của các nớc bị khủng hoảng và làm thiệt hại chung cho toàn thế
giới khoảng 500 tỷ USD. Có tới 150 tỷ USD đầu t tài chính đã rút ra khỏi Đông Nam
á, các nhà đầu t nớc ngoài giảm sút niềm tin, FDI đổ vào châu á bị sụt giảm mạnh và
tiếp tục ở mức thấp trong một số năm tới.
Sự phá giá đồng bản tệ đã làm tăng các chi phí dịch vụ nợ và chất thêm gánh
nặng nợ nần lên vai các công ty làm tăng tình trạng mất khả năng thanh toán, phá giá
nhất là các công ty phục vụ thị trờng trong nớc mà nhu cầu đang giảm sút nhanh
chóng. Sự phá giá bản tệ ở những nớc có hàng hoá xuất nhập khẩu mà nguyên liệu
nhập khẩu chiếm tỷ lệ cao sẽ làm tăng chi phí xuất khẩu, đẩy giá thành lên cao, giảm
sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trờng quốc tế.
Lạm phát gia tăng sẽ làm giảm mức sống thực tế của ngời làm công ăn lơng, những
căng thẳng và bất ổn về xã hội cũng vì thế mà tăng lên.

12
Đề án môn học Lê Thanh Hải QLKT 40A
2.2 Tác động tích cực
Cuộc khủng hoảng hiện nay không chỉ hoàn toàn gây tác hại cho các nớc trong
khu vực mà ở một chừng mực nào đó, nó là điểm dừng để mở đầu cho một giai đoạn
phát triển mới đầy triển vọng, là cơ hội để các nền kinh tế ASEAN thực hành sự cải
cách triệt để các điều kiện kinh tế vĩ mô kể cả sự cần thiết phải xác định lại mô hình
chiến lợc phát triển. Nh Tổng thống Hàn quốc cũng từng khẳng định : " Tôi muốn
biến cuộc khủng hoảng này thành một cơ hội để cải biến nền kinh tế nớc tôi, đa nó
lên trình độ của thế giới". Những tác động tích cực của cuộc khủng hoảng hiện nay
có thể quy tụ ở những khía cạnh sau :
Thứ nhất, việc chuyển sang chính sách tỷ giá linh hoạt sẽ giúp các chính phủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status