Đánh giá tương tác thuốc bất lợi trên bệnh án điều trị nội trú tại khoa nội tiêu hoá tiết niệu bệnh viện đa khoa TW thái nguyên - Pdf 29

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

DƯƠNG ANH TUẤN ĐÁNH GIÁ TƯƠNG TÁC THUỐC BẤT
LỢI TRÊN BỆNH ÁN ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ
TẠI KHOA NỘI TIÊU HÓA TIẾT NIỆU
BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG
THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI - 2013
MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ
1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
3
1.1. Đại cương về tương tác thuốc
3
1.1.1. Khái niệm về tương tác thuốc 3
1.1.2. Dịch tễ học của tương tác thuốc: 4
1.1.3. Phân loại tương tác thuốc 5
1.1.3.1. Tương tác dược động học 6
1.1.3.1.1. Đối kháng do ảnh hưởng tới dược động học
7
1.1.3.1.2. Hiệp đồng do ảnh hưởng tới dược động học
11
1.1.3.2. Tương tác dược lực học 14
1.1.3.2.1. Tương tác đối kháng
14
1.1.3.2.2 Tương tác hiệp đồng
15
1.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất hiện tương tác thuốc 17
1.1.5. Hậu quả của tương tác thuốc 19
1.1.6. Ý nghĩa và tầm quan trọng của tương tác thuốc trong thực hành
lâm sàng
20

3.2. Đặc điểm thuốc được kê đơn
31
3.3. Đánh giá tương tác thuốc trên đơn thuốc trong mẫu nghiên
cứu
32
3.3.1. Tổng số tương tác và cặp tương tác 32
3.3.2. Tỷ lệ đơn có tương tác thuốc và tương tác có ý nghĩa lâm sàng 32
3.3.3. Số tương tác thuốc, tương tác có ý nghĩa lâm sàng trong đơn 34
3.3.4. Số lượng tương tác và tương tác có YNLS trong mẫu nghiên
cứu
35
3.3.5. Các tương tác và tương tác có ý nghĩa lâm sàng thường gặp 36
3.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xuất hiện tương tác thuốc
trong đơn
37
3.4.1. Ảnh hưởng của số lượng thuốc trong đơn đến khả năng xảy ra
tương tác:
37
3.4.2. Ảnh hưởng của tuổi đến khả năng xuất hiện tương tác thuốc 38
3.4.3. Ảnh hưởng của bệnh chính đến khả năng xuất hiện tương tác 39
CHƯƠNG 4-BÀN LUẬN
41
4.1. Đặc điểm bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu
41
4.2. Tương tác xuất hiện trong bệnh án
41
4.3. Một sốcặp tương tác thuốc có ý nghĩa lâm sàng và cơ chế gây
tương tác, cách khắc phục:
43
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

nhân gây ra các biến cố bất lợi của thuốc [28
], làm tăng chi phí điều trị,
tăng các bệnh mắc kèm thậm chí gây tử vong [11].
Tỷ lệ các phản ứng có hại (ADR) khi kết hợp nhiều loại thuốc sẽ
tăng theo cấp số nhân. Một thống kê dịch tễ học cho thấy tỷ lệ ADR là 7%
ở bệnh nhân dùng phối hợp 6-10 loại thuốc, nhưng tỷ lệ này sẽ là 40% khi
dùng phối hợp 16-20 loại [4]. Tương tác thuốc bất lợi gây phản ứng có hại
trên bệnh nhân, kéo dài thời gian nằm viện, nguy cơ đe dọa tính mạng thậm
chí gây tử vong …
Tuy nhiên, tương tác thuốc bất lợi có thể phòng tránh được bằng
cách chú ý thận trọng đặc biệt hoặc tiến hành các biện pháp can thiệp để
giảm t
hiểu nguy cơ.Vì vậy, sàng lọc, phát hiện, đánh giá và quản lý tương
tác thuốc luôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của người dược sỹ lâm

sàng.
Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên là bệnh viện hạng I
trực thuộc Bộ Y Tế, với gần 1000 giường bệnh, hơn 800 cán bộ nhân viên
có nhiệm vụ khám chữa bệnh cho nhân dân các dân tộc miền núi vùng
Đông Bắc. Trong một khảo sát mới nhất của Khoa Dược Bệnh viện Đa
khoa TW Thái Nguyên về tương tác thuốc tại khoa Nội tiêu hóa tiết niệu
trên nhóm thuốc điều trị loét dạ dày tá tràng từ tháng 3/2009 đến tháng
9/2009 thì có đến gần 50% đơn thuốc có xuất hiện tương tác [10].
Xuất phát từ thực tế tiếp tục triển khai hoạt động giám sát tương tác
thuốc tại các khoa lâm sàng của Bệnh viện, chúng tôi tiến hành đề tài

1
“Đánh giá tương tác thuốc bất lợi trong bệnh án điều trị nội trú tại
khoa Nội tiêu hóa tiết niệu Bệnh viện Đa khoa Trung ương T
hái

1.1.1. Khái niệm về tương tác thuốc
Tươn
g tác thuốc là hiện tượng thay đổi tác dụng của một thuốc khi
được sử dụng đồng thời với thuốc khác hoặc với thức ăn, đồ uống. Kết quả
có thể là tăng hoặc giảm tác dụng và độc tính của một thuốc hay cả hai, gây
nguy hiểm cho bệnh nhân hoặc làm mất hiệu quả điều trị, hoặc cũng có thể
làm
thay đổi các kết quả xét nghiệm, đôi khi còn xuất hiện những tác dụng
dược lý mới không có khi sử dụng riêng từng thuốc [3],[4],[5].
Hậu quả của tương tác thuốc xảy ra hay không, nặng hay nhẹ phụ
thuộc vào đặc điểm của từng cá thể bệnh nhân như tuổi, giới, bệnh lý mắc
kèm
và phương pháp điều trị [14], [16].
Tương tác có thể gây hại, như warfarin làm chảy máu ồ ạt khi phối
hợp với phenylbutazon. Bệnh nhân dùng thuốc chống trầm cảm ức chế
mono amino oxydase (MAOI) lên cơn tăng huyết áp cấp tính đe dọa tính
mạng nếu chế độ ăn quá nhiều tyramin (chế phẩm từ sữa, phomat; hội
chứng phomat (cheese syndrome). Liều thấp cimetidin cũng có thể làm
tăng nồng độ theophylin trong huyết tương tới mức gây ngộ độc (co giật).
Isoniazid (INH) làm
tăng nồng độ phenytoin trong huyết tương tới ngưỡng
gây độc [4].
Tương tác thuốc có khi làm giảm hiệu lực thuốc. Uống các
tetracyclin hoặc fluoroquinolon cùng thuốc kháng acid hoặc chế phẩm của
sữa sẽ tạo phức hợp và mất tác dụng kháng khuẩn.
Tương tác thuốc đôi lúc mang lại lợi ích đáng kể, như phối hợp
thuốc hạ huyết áp với thuốc lợi tiểu để điều trị tăng huyết áp[5
].
Tương tác thuốc có thể vừa lợi vừa hại (con dao 2 lưỡi), ví dụ kết hợp
rifampicin với isoniazid để chống trực khuẩn lao (có lợi), nhưng dễ gây viêm

các khoa l
âm sàng hoặc ở các bệnh viện khác nhau đã được thực hiện. Khảo
sát tương tác bất lợi trong đơn thuốc có dùng kháng sinh trên 322 bệnh
nhân tại các khoa Tiết niệu, Chấn thương, Tiêu hóa tại bệnh viện Hai Bà
Trưng - Hà Nội cho thấy tỷ lệ đơn có tương tác chiếm trên 50%, trong đó
tương tác giữa các kháng sinh với nhau chiếm 70,43% (các tương tác được

4
duyệt bằng phần mềm Inco
mpatex của Pháp) [6]. Trong một nghiên cứu
phân tích đơn điều trị viêm loét dạ dày tá tràng tại một bệnh viện tuyến
trung ương 1999, tỷ lệ đơn thuốc gặp tương tác bất lợi là 35,21% (các
tương tác được duyệt bằng phần mềm MIMs in te r a c tiv e ) [ 8 ] .
1.1.3. Phân loại tương tác thuốc
Tương tác thuốc có thể được phân loại theo hai cách:
- Dựa trên kết quả của tương tác: tương tác thuốc -
thuốc được chia
làm 3 loại là tương tác thuốc bất lợi, tương tác thuốc có lợi, tương tác thuốc
vừa có lợi vừa có hại [5].
Tương tác thuốc bất lợi là hiện tượng khi phối hợp hai hay nhiều
thuốc làm gia tăng độc tính hay làm giảm hoặc mất hiệu quả điều trị của
từng thuốc. Ví dụ phối hợp warfarin và phenylbutazon làm tăng nguy cơ
chảy máu, phối hợp
isoniazid và phenytoin làm tăng nồng độ và nguy cơ
tăng độc tính của phenytoin, sử dụng đồng thời kháng sinh tetracyclin hoặc
fluoroquinolon cùng antacid sẽ tạo phức hợp chelat dẫn tới mất hiệu quả
điều trị của kháng sinh.
Tương tác thuốc có lợi là hiện tượng phối hợp hai hay nhiều thuốc
đem lại tác dụng hiệp đồng trong điều Ví dụ như phối hợp thuốc hạ huyết
áp (nhóm

cách để thải trừ. Sơ đồ sau đây cho thấy sự vận chuyển của thuốc trong cơ
thể từ lúc hấp thu đến khi bị thải trừ:
Trong quá trình hấp thu, phân bố, chuyển hóa, tích lũy và đào thải,
thuốc phải vượt qua
nhiều màng sinh học để sang vị trí mới. Có ba giai
đoạn chính:
- Hấp thu: Thuốc từ nơi tiếp nhận (uống, tiêm dưới da, tiêm bắp,
đặt trực tràng ) được chuyển vào đại tuần hoàn.
- Phân bố: Trong máu, thuốc kết hợp với protein - huyết tương;
phần không kết hợp sẽ chuyển vào các mô, rồi gắn với thụ thể đặc hiệu,
vào vị trí đích để phát huy hoạt tính.
- Chuyển hóa và đào thải: Thuốc được chuyển hóa, chất chuyển
hóa sẽ thải qua thận, qua mật h
oặc qua các nơi khác.

6
Trong mỗi giai đoạn trên ở trong cơ thể người, các t
huốc sẽ gặp nhau
và tương tác lẫn nhau, để cho kết quả lâm sàng, hoặc có lợi, hoặc có hại.
Thuốc còn gặp thức ăn, đồ uống, nên còn có tương tác thuốc - thức ăn.
1.1.3.1.1. Đối kháng do ảnh hưởng tới dược động học
a) Cản trở hấp thu qua ống tiê
u hóa
Nhôm hydroxyd cản trở hấp thu phosphat, INH, doxycyclin…
carbonat làm giảm hấp thu sắt qua ống tiêu hóa.
Thuốc chống toan dạ dày làm tăng pH trong dịch ống tiêu hóa, nên
ngăn cản sự hấp thu của những thuốc là acid yếu (phenylbutazon,
ketoconazol, aspirin, sulfamid, một số barbiturat, coumarin chống đông ).
Thuốc kháng cholinergic, thuốc ức chế histamin H
2

nhiên nhiều thuốc sau khi hấp thu, phải được chuyển hóa, sau đó mới thải
trừ. Những chất vừa được chuyển hóa (metabolite) sẽ có tính phân cực
(polarity) cao, ít tan trong lipid hơn chất mẹ, dễ tan trong nước hơn, nên
khó khuếch tán thụ động qua các màng sinh học trong cơ thể, do đó dễ thải
hơn. Kết quả thông thường là sau khi chuyển hóa
, thuốc sẽ mất tác dụng,
mất độc tính.
Gan giữ vai trò quan trọng nhất trong chuyển hóa thuốc. Nhiều
enzym xúc tác cho chuyển hóa thuốc nằm ở màng lưới nội bào không hạt
của tế bào gan (Smooth - surfaced Endoplasmic Reticulum; SER). ở các hệ
enzym của dịch cơ thể cũng có một số enzym xúc tác cho chuyển hóa
thuốc, như huyết tương có esterase giúp thủy phân ester (procain, cocain,
acetylcholin, suxamethoni
um ).

Những phản ứng giáng hóa
Đây là những phản ứng oxy hóa, khử hoặc thủy phân (gọi chung là
phản ứng pha I).
Phản ứng oxy hóa
+ Oxy hóa thuốc qua sự xúc tác enzym của lưới nội bào không hạt
của tế bào gan. Thông thường, các yếu tố có hoạt tính enzym oxy hóa thuốc
thuộc loại này gọi là "microsom".
Những loại phản ứng chính gồm: hydroxyl hóa ở nhân thơm hoặc ở
chuỗi thẳng, oxy hóa N

mất alkyl, oxy hóa O

mất alkyl

8

C
9
, CYP
2
C
19
, CYP
2
D
6
, CYP
3
A
4
.
Tính đặc hiệu của các CYP này rất quan trọng để cắt nghĩa về tương
tác ở khâu chuyển hóa thuốc.
+ Phản ứng oxy hóa khác: ví dụ oxy hóa rượu và aldehyd nhờ xúc
tác của alcol dehydrogenase và aldehyd dehydrogenase.
Phản ứng thủy phân
Các ester, amid bị thủy phân nhờ xúc tác của esterase, amidase.

Những phản ứng liên hợp (phản ứng pha II)
Sau khi giáng hóa ở pha I, chất chuyển hóa vừa tạo thành có thể liên
hợp với các chất sẵn có trong cơ thể (như các acid glucuronic, acetic,
sulfuric, mercapturic hoặc glycocol, glutathion), để cuối cùng cho chất liên
hợp ít tan trong lipid hơn, tính phân cực mạnh hơn, dễ tan trong nước hơn,
và hoàn thiện khâu thải qua thận, qua mật từ từ làm mất độc tính của
thuốc.
Nhiều thuốc có thể ức chế các dưới lớp của cyto

6
) gây cảm ứng dopa - decarboxylase làm tăng
phản ứng khử carboxyl của levodopa, nên levodopa bị chuyển thành
dopamin ở tại ngay mô ngoại biên (nhược điểm!). Dopamin sẽ không vượt
qua được hàng rào máu - não để chữa bệnh Parkinson. Cần phối hợp
levodopa với carbidopa (là chất ức chế decarboxylase ngoại biên) để bảo vệ
levodopa, tránh bị hủy sớm bởi vitamin B
6
ở mô ngoại biên.

Ngăn cản tái hấp thu qua ống thận
Kiềm hóa nước tiểu sẽ làm tăng đào thải những thuốc là acid yếu.
Ngược lại, acid hóa nước tiểu sẽ làm tăng thải những thuốc là kiềm yếu.
Natri bicarbonat (kiềm) giúp tăng thải phenobarbital, salicylat (acid);
amoni clorid (acid) làm tăng thải amphetamin (kiềm). Ví dụ, 54,5% của liều

10
dùng dextroamphetamin (kiềm) sẽ thải trong vòng 16 giờ nếu nước tiểu được
giữ ở pH ~ 5, nhưng c
hỉ thải 2,9% cũng trong thời gian này, nếu pH nước
tiểu là ~ 8.
1.1.3.1.2. Hiệp đồng do ảnh hưởng tới dược động học
Tác dụng hiệp đồng:
Thuốc A có tác dụng là m, thuốc B có tác dụng là n. Gọi là hiệp đồng
(hợp lực), nếu khi kết hợp A với B, tác dụng cuối cùng có thể là:
=
m + n là hiệp đồng cộng (additiv effect);
> m + n là hiệp đồng vượt mức (synergism).
Cũng có khi A không có tác dụng giống B, nhưng A vẫn làm tăng tác
dụng của B, ta nói A làm tăng tiềm lực (potentiation) của B.

azon, các salicylat, aspirin cũng tương tác với tolbutamid
và các sulfamid chống đái tháo đường cũng theo cơ chế này và dễ gây
choáng do làm hạ glucose máu.
c) Ngăn cản chuyển hóa

Một số thuốc chính, như INH, iproniazid, cloramphenicol, cimetidin,
quercetin, levodopa, enoxacin, disulfiram, erythromycin, allopurinol,
ciprofloxacin, dextropropoxyphen, clarithromycin, fluconazol, fluoxetin,
ketoconazol, diltiazem, verapamil, metronidazol, phenylbutazon,
miconazol, itraconazol, nefazodon, paroxetin, ritonavir ức chế được
enzym microsom gan (CYP và /hoặc UDP - glucuronyl - transferase), làm
cho nhiều thuốc khác khó chuyển hóa qua gan, nên kéo dài tác dụng (và
tăng độc tính). Ví dụ cimetidin làm chậm chuyển hóa (và làm chậm thanh
lọc) qua gan của warfarin, diazepam, clordiazepoxid, phenytoin,
theophylin, carbamazepin, lidocain, metronidazol Thuốc ức chế MAO,
furazolidon, ức chế được enzym MAO, gây tích lũy tyramin không được
chuyển hóa, làm tăng huyết áp đột ngột.
Cần đặc biệt lưu ý khi kê đơn với các nhóm thuốc sau (để tránh
tương tác bất lợi nghiêm trọng):
- Thuốc có phạm vi an toàn hẹp

12
Thuốc chống loạn nhịp t
im (ví dụ: quinidin), thuốc chống ung thư
(như methotrexat), digoxin, lithium, theophylin, warfarin
- Thuốc chuyển hóa mạnh qua enzym gan
Alprazolam, astemizol, amitriptylin, carbamazepin, cisaprid,
clozapin, corticoid, cyclosporin, desipramin, diazepam, imipramin,
phenytoin, theophylin, triazolam, warfarin.
- Thuốc ức chế mạnh enzym gan (đã nêu ở trên).

ketoprophen) cạnh tranh với methotrexat cùng carrier ở ống thận, làm tăng
độc tính của methotrexat, có thể gây tử vong do tương tác có hại.
Quinidin cũng làm tăng nồng độ digoxin trong huyết thanh, một
phần do cơ chế cạnh tranh tại carrier ở ống thận [2],[3], [4], [5].
1.1.3.2. Tương tác dược lực học
Tương tác dược lực học là khi thuốc A gây ảnh hưởng tới đáp ứng
sinh học của thuốc B hoặc tới độ nhạy cảm của mô trong cơ thể khi dùng
cùng thuốc B. Những thuốc gặp tương tác này sẽ có tác dụng đối khá
ng
hoặc hiệp đồng với nhau, nhiều khi có hậu quả lâm sàng tai hại. Ví dụ,
bệnh nhân tăng huyết áp thường phải dùng thuốc hạ áp suốt đời: Nếu dùng
cùng một số thuốc chống loạn nhịp hoặc chống đau thắt ngực có thể gây
trạng thái giảm
huyết áp quá mức, gây rủi ro (như khi lái xe, vận hành máy
móc); khi uống rượu sẽ có tác dụng âm tính trên bệnh tăng huyết áp và gây
tụt huyết áp không kiểm soát được; thuốc trầm cảm 3 vòng đối kháng với
tác dụng hạ áp của guanethidin,  - methyldopa, clonidin; Nhiều thuốc tác
động trên hệ thần kinh trung ương cũng tác động lên huyết áp.
1.1.3.2.1. Tương tác đối kháng
a) Cạnh tranh:

Chất chủ vận (agonist) và chất đối kháng (antagonist) cạnh tranh với
nhau ở cùng một nơi của thụ thể (receptor; R), ví dụ khi xét các chất chủ
vận - chất đối kháng sau đây:
Pilocarpin - atropin (thụ thể M), histamin - phenergan (thụ thể H
1
),
histamin - cimetidin (thụ thể H
2
), aldosteron - spironolacton (thụ thể cần


Ví dụ khi dùng kháng sinh cùng nhóm aminoglycosid với nhau.
Trong thực tế, không dùng cách phối hợp này.
b) Hiệp đồng trực tiếp, nhưng khác thụ thể

Dùng thuốc mê cùng thuốc giãn cơ cura, khi đó tính vận động của cơ
cùng bị ức chế bởi thuốc mê (cơ chế trung ương) và bởi cura trên bản vận
động (cơ chế ngoại biên).
Propranolol hiệp đồng trực tiếp cùng quinidin chống loạn nhịp tim,
nhưng khác thụ thể: propranolol phong bế , thuốc kia làm ổn định màng tế
bào cơ tim. Phối hợp thuốc hạ huyết áp với thuốc lợi niệu để chữa tăng

15
huyết áp cũng là hiệp đồng t
rực tiếp, nhưng khác thụ thể. Aspirin dùng
cùng dẫn xuất coumarin (như warfarin) làm tăng tác dụng chống đông máu:
aspirin chống kết dính tiểu cầu, còn warfarin ức chế tổng hợp các yếu tố
đông máu.
Clopromazin (aminazin) là ví dụ rất điển hình của tác dụng hiệp
đồng trực tiếp: aminazin không chứa đựng tác dụng của những thuốc khác,
nhưng lại làm tăng rất rõ tiềm lực của chúng (potentiation), ví
dụ khi phối
hợp aminazin với thuốc mê, thuốc giảm đau, rượu, thuốc tê, cura, thuốc
ngủ, an thần, chống động kinh , Hậu quả của tương tác này có khi rất
nghiêm trọng!
c) Hiệp đồng vượt mức (tương tác có lợi)

Acid folic là coenzym giúp tạo nên các base purin, thymin và các
acid amin cần cho tổng hợp DNA, RNA và protein là những nguyên liệu
cần cho vi khuẩn phát triển. Sulfamid cùng với trimethoprim (hoặc

để phát huy tác dụng. Ví dụ:
Acid clavulanic + amoxicilin = Augmentin
Acid clavulanic + ticarcilin = Timentin
Sulbactam + ampicilin = Unasyn.
+ Phối hợp rifampicin với isoniazid cũng là hiệp đồng vượt mức:
tương tác này vừa có lợi (làm tăng khả năng diệt trực khuẩn lao), vừa
dễ gây phản ứng có hại [2
],[3], [4], [5].
1.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất hiện tương tác thuốc
- Các yếu tố thuộc về bệnh nhân
Yếu tố di truyền đóng vai trò quyết định tốc độ của enzym trong quá
trình chuyển hóa thuốc, trong đó hệ thống chuyển hóa quan trọng nhất là
cytocrom P450. Bệnh nhân có enzym chuyển hóa thuốc chậm thường có ít
nguy cơ gặp tương tác thuốc hơn bệnh nhân c
ó enzym chuyển hóa thuốc
nhanh [19], [28].
Những khác biệt về dược động học của thuốc ở những đối tượng đặc
biệt như trẻ sơ sinh, trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ có thai và cho con bú

17
dẫn đến nguy cơ xảy ra tương tác cao hơn người bình thường.
Bên cạnh đó,
nữ giới, người béo phì, người suy dinh dưỡng cũng là những đối tượng
nhạy cảm với hiện tượng tương tác thuốc [28].
Những bệnh nhân mắc nhiều bệnh một lúc phải sử dụng đồng thời
nhiều thuốc. Những biến đổi bệnh lý đó dẫn đến thay đổi số phận của
thuốc trong cơ thể, làm
thay đổi dược động học của thuốc đồng thời các tổn
thương mạn tính của quá trình bệnh lý kéo dài cũng làm thay đổi đáp ứng
thuốc của bệnh nhân. Kết quả là nguy cơ tương tác thuốc tăng theo cấp số

1.1.5. Hậu quả của tương tác thuốc
Tương tác thuốc là hiện tượng xảy ra phổ biến t
rong điều trị. Có
những tương tác làm tăng hiệu quả điều trị, người thầy thuốc vận dụng
tương tác đó để đem lại lợi ích cho b ệ nh n h â n n hư n g b ê n c ạ n h đ ó , c ó n hữ
n g tư ơ n g tá c g â y ra hậ u q u ả nghiê m tr ọ n g , ảnh hưởng của TTT trên
bệnh nhân rất đa dạng, TTT có thể làm tăng phản ứng bất lợi của thuốc, có

thể dẫn đến làm giảm hiệu quả điều trị, gây phản ứng có hại trên bệnh
nhân. Ví dụ việc phối hợp ciprofloxacin với antacid làm giảm hiệu quả
điều trị của ciprofloxacin, phối hợp simvastatin và clarithromycin làm tăng
nguy cơ xảy ra ADR của simvastatin đặc biệt là tiêu cơ vân [1], [4].
Tương tác thuốc bất lợi làm tăng nguy cơ nhập viện, tăng chi phí
điều trị, tăng biến cố bất lợi trong điều t
rị và kéo dài thời gian nằm viện.
Ước tính khoảng 0,6% số bệnh nhân nhập viện do gặp các ADR liên quan
đến tương tác thuốc [13], khoảng 2,8% biến cố bất lợi có thể phòng tránh
được ở bệnh nhân nằm viện có liên quan đến tương tác thuốc bất lợi [25].
Tại Mỹ, Halmiton đã đánh giá thiệt hại về kinh tế do tương tác thuốc gây
ra lên tới 1,3 tỷ đô l
a mỗi năm [18]. Trong một ca điều trị cụ thể với một
bệnh nhân Parkinson, Shad và cộng sự đã tính thiệt hại do tương tác thuốc
lên tới gần 20.000 đô la. M ộ t ng hiên c ứ u k h á c c ủ a Einarson tr ê n 104 b ệ n h
n h â n đ iề u tr ị b ằ n g w a rf a rin ch o thấy thời gian nằm viện của nhóm bệnh
nhân có xuất hiện tương tác thuốc trong bệnh án tăng lên đáng kể so với
nhóm bệnh nhân không có tương tác thuốc [24].
Theo thống kê dịch tễ học cho thấy khoảng 4,4% đến 25% ADR xuất
hiện trên bệnh nhân liên quan đến TTT [21],[29]. Ước tính có tới 3% tổng

19

trên 7 thuốc [15],[17].

20

Trích đoạn CH ƯƠ NG 4-BÀN LU Ậ N Một số cặp tương tác thuốc có ý nghĩa lâm sàng, cơ chế gây tương tác, cách khắc phục: TÀI LI Ệ U THAM KH Ả O Tài liệu trong nước:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status