Phân tích hoạt động chi trả bảo hiểm y tế của cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh quảng ninh năm 2012 - Pdf 29


BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
Lê Xuân Trường
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CHI TRẢ
BẢO HIỂM Y TẾ CỦA CƠ QUAN BẢO HIỂM
XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NINH NĂM 2012

Luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp I Hà Nội - 2013
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự chỉ bảo tận tình các
thầy cô hướng dẫn. Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới:
PGS.TS NGUYỄN THỊ SONG HÀ –Trưởng phòng sau đại học,
Giảng viên Bộ môn Quản lý và kinh tế dược – Trường Đại học Dược
Hà Nội.
Tôi xin cảm ơn:
Ban giám hiệu Trường Đại học Dược Hà Nội
Phòng Sau đại học
Các thầy cô Bộ môn Quả
n lý và kinh tế dược.
Đã giảng dạy và cho tôi cơ hội được học tập nâng cao trình độ
chuyên môn thiết thực phục vụ trong quá trình công tác.
Xin cảm ơn Ban giám đốc cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng
Ninh, phòng Giám định BHYT – BHXH tỉnh Quảng Ninh, cùng toàn thể
cán bộ công nhân viên chức trong cơ quan BHXH tỉnh đã tạo điều kiện,
nhiệt tình giúp đỡ tôi có số liệu để hoàn thành tốt đề tài.
Cảm ơn gia đình và các b
ạn đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi
trong suốt thời gian học tập.

Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới tất cả mọi người!

Quảng Ninh, ngày 30 tháng 8 năm 2013
Học viên Lê Xuân Trường
MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

Chương 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1 Phân tích thực trạng về chi trả BHYT theo phương thức
khoán định suất và phí dịch vụ tại của BHXH tỉnh Quảng
Ninh năm 2012 27

3.1.1 Số cơ sở thực hiện khám, chữa bệnh BHYT 27
3.1.2 Cơ cấu nhóm đối tượng tham gia BHYT 28
3.1.3 Thực trạng thu, chi quỹ BHYT tại các cơ sở KCB [5]. 29
3.2 Khảo sát hoạt động giám định của cơ quan BHXH tỉnh
Quảng Ninh đối với 2 phương thức : phí dịch vụ và khoán
định suất 33

3.2.1 Các nội dung trong hoạt động giám định BHYT của cơ quan
BHXH tỉnh Quảng Ninh 33

3.2.2 Kết quả của hoạt động giám định BHYT của BHXH tỉnh
Quảng Ninh 34

3.2.2.1 Quy trình giám định tại BHYT tại cơ sở KCB. 34
3.2.2.2 Kết quả giám định BHYT tại cơ quan Bảo hiểm xã hội 40
Chương 4: BÀN LUẬN 44
4.1 Về hoạt động chi trả BHYT theo phương thức khoán định
suất và phí dịch vụ 44

4.1.1 Những thành tựu đã đạt được của cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh
Quảng Ninh. 44

4.1.1.1 Số cơ sở y tế thực hiện khám chữa bệnh BHYT 44
4.1.1.2 Số người, số đối tượng tham gia Bảo hiểm y tế 44
4.1.1.3 Về cân đối thu, chi quỹ KCB BHYT. 45

Bảng 3.9 Số cơ sở được BHXH giám định danh mục và giá dịch vụ kỹ
thuật, thuốc và vật tư y tế 36
Bảng 3.10 Số loại thuốc áp giá sai quy định tại các cơ sở KCB năm 2012 37
Bảng 3.11 Số tiền xuất toán chi phí KCB BHYT trong năm 2012 38
Bảng 3.12 Số sự kiện t
ổ chức tuyên truyền luật BHYT tại các cơ sở năm 2012. 39
Bảng 3.13 Số cơ sở BHXH tỉnh Quảng Ninh trực tiếp thẩm định và ký hợp
đồng KCB BHYT. 40
Bảng 3.14 Kết quả thẩm định và ký hợp đồng KCB BHYT năm 2012 41
Bảng 3.15 kết quả giám định hồ sơ thanh toán trực tiếp năm 2012 42 DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Sơ đồ hệ thống tổ chức cơ quan BHXH tỉnh Quảng Ninh 22
Hình 2.2 Sơ đồ nội dung nghiên cứu 26
Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ các cơ sở theo phân tuyến thực hiện phương thức
thanh toán theo phí dịch vụ và khoán định suất. 27
Hình 3.4 Tỷ lệ cơ cấu nhóm đối tượng tham gia BHYT 28
Hình 3.5 Tỷ lệ vượt quỹ vượt trần theo phương thức phí dịch vụ và khoán
định suất 30
Hình 3.6 Bi
ểu đồ thực trạng vượt trần, vượt quỹ tại các cở sở KCB theo
tuyến chuyên môn kỹ thuật 31
Hình 3.7 Sơ đồ các nội dung trong hoạt động giám định BHYT của cơ
quan BHXH tỉnh Quảng Ninh. 33
Hình 3.8 Biểu đồ số lượt KCB được kiểm tra thủ tục hành chính. 34
Hình 3.9 Tỷ lệ thẻ BHYT bị thu hồi đối với cơ sở thực hiện khoán định
suất và phí dịch vụ. 35
Hình 3.10 Tỷ lệ các cơ sở KCB được BHXH giám định danh mục và giá

chưa hiểu hết được giá trị của tấm thẻ BHYT. Do tình trạng quá tải ở bệnh
viện các tuyến, các thủ tục KCB còn nhiều vướng mắc khiến người dân
chưa mấy mặn mà với BHYT. Hơn thế, mức đóng BHYT hiện nay hơi cao
so vớ
i nhiều gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nhưng không thuộc
diện nghèo để được cấp thẻ BHYT. Việc chi trả BHYT gặp khá nhiều khó
khăn và vướng mắc.
Dù có nhiều ưu việt, nhưng đến thời điểm này, BHYT vẫn chưa
được một số bộ phận nhân dân hưởng ứng do nhận thức của người dân về
vị trí, vai trò, tầm quan trọng của chính sách BHYT chưa đầy đủ, tính chia
sẻ cộng đồng còn hạn chế, tỷ lệ nhân dân tham gia BHYT chưa cao và
nhiều doanh nghiệp, tổ chức chưa nghiêm túc thực hiện chính sách BHYT
cho người lao động, tình trạng nợ đóng BHYT ngày càng tăng. Bên cạnh

2
đó, chất lượng KCB ở một số cơ sở y tế, nhất là cơ sở KCB ban đầu chưa
đáp ứng nhu cầu, chưa tạo được lòng tin trong nhân dân dẫn đến tình trạng
vượt tuyến, khiến chi phí thanh toán đa tuyến tăng cao. Trong khi đó, công
tác tuyên truyền về các chính sách BHYT còn chưa thực sự được đẩy mạnh
và sâu rộng đến người dân. Nhiều người dù tham gia BHYT vẫn chưa hiểu
rõ các quyền lợ
i mình được hưởng hay nghĩa vụ mình phải thực hiện
Hiện nay BHYT đang đứng trước các sức ép nhu cầu KCB của
người dân ngày một tăng, chi phí KCB cũng tăng trong khi mức đóng tăng
chậm. Bên cạnh đó, phương thức chi trả hiện nay đang áp dụng là dựa vào
tổng chi phí điều trị, bị giới hạn bởi danh mục thuốc (do Bộ Y tế ban hành)
và danh mục kỹ thuật cao đượ
c bảo hiểm chi trả. Đối tượng phải trả “đồng
chi trả” giảm đi vì Chính phủ qui định. Bất cập lớn nhất nằm ở chỗ mức
đóng BHYT thấp (vì tính theo phần trăm lương), chi phí KCB và nhu cầu

Bản chất của bảo hiể
m y tế là sự san sẻ rủi ro, nhằm giảm nhẹ những
khó khăn cho người bệnh và gia đình họ khi bị ốm đau, bệnh tật mà vẫn
đảm bảo được yêu cầu chữa trị tốt nhất không làm ảnh hưởng đến kinh tế
của gia đình họ; góp phần chăm sóc sức khoẻ cho dân cư [8].
Bảo hiểm y tế không phải là toàn bộ hoạt động y tế mà chỉ là lĩ
nh
vực liên quan trực tiếp đến việc chữa trị bệnh cho người tham gia bảo hiểm
y tế khi có phát sinh về bệnh tật trong khuôn khổ quy định của cơ quan bảo
hiểm y tế.
Về hình thức thì bảo hiểm y tế có hai hình thức chủ yếu đó là bảo
hiểm y tế bắt buộc và bảo hiểm y tế tự nguyện.
1.1.2. Đặc điểm của BHYT .
Vi
ệc triển khai BHYT có đặc trưng rất cơ bản sau:
- Thứ nhất, đối tượng của BHYT là rộng nhất vì vậy nó cũng phức
tạp nhất, nếu thực hiện tốt nó sẽ đảm bảo được quy luật lấy số đông bù số
ít. Quy luật này đối với bảo hiểm là vô cùng quan trọng, nó quyết định tới
sự tồn tại hay không của bảo hiểm. Nếu quy luậ
t này đảm bảo sẽ là một
trong những nhân tố quyết định tới sự tồn tại và phát triển của bảo hiểm nói
chung và BHYT nói riêng. Nếu không đảm bảo được quy luật này chắc
chắn bảo hiểm sẽ không hoạt động được [ 13 ]. 4
- Thứ hai, BHYT là loại hình bảo hiểm mang tính nhân đạo nhất
trong số tất cả các loại hình bảo hiểm. BHYT đáp ứng yêu cầu chăm sóc
sức khoẻ với chất lượng ngày càng cao đối với đại bộ phận dân cư. Với
BHYT mọi người sẽ được bình đẳng hơn, được điều trị theo bệnh, đây là

của ngành y tế không ngừng nâng cao. Trong khi nguồn ngân sách nhà
nước đầu tư cho y tế còn rất eo hẹp thì việc huy động các nguồn vốn khác
bổ sung cho chi tiêu của ngành còn triển khai rất chậm và thiếu đồng bộ.
Việc thu viện phí chỉ thu được khối lượng rất ít song lại tạo rất nhiều khe
hở cho các loại tiêu cực phát triển, dẫn đến một thực tế là trong khi bệnh
nhân phải tăng phí tổn khám chữ
a bệnh, đầu tư của ngân sách nhà nước
không hề được giảm bớt mà bệnh viện vẫn xuống cấp. Bên cạnh đó, việc
khai thác các nguồn đóng góp của dân, của các tổ chức kinh tế, nguồn viện
trợ trực tiếp chậm được thể chế hoá và chưa hoà chung vào ngân sách y tế
làm hạn chế việc phát huy các nguồn vốn quan trọng này. Do đó, khi thực
hiện BHYT sẽ tạo ra một nguồ
n kinh phí hỗ trợ cho ngành y tế nhằm góp
phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và điều trị, nâng cấp các cơ sở y
tế, làm cho chất lượng phục vụ của ngành y tế ngày càng tốt hơn, đáp ứng
được nhu cầu về chăm sóc sức khoẻ nhân dân trong thời kỳ hiện nay.
1.1.3. Vai trò của BHYT
Bảo hiểm y tế có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội,
nó ra đời đ
áp ứng nguyện vọng của mọi người dân, BHYT thúc đẩy sự phát
triển của y tế, tăng thêm mối quan hệ chặt chẽ giữa nhu cầu khám chữa
bệnh và sự phát triển của ngành y tế [2].
1.1.3.1 BHYT tạo ra sự công bằng trong KCB
Với tính chất nhân đạo xã hội về lĩnh vực hoạt động của bảo hiểm y tế
(hoạt động trực tiếp liên quan đến chữa trị cho ngườ
i bệnh có tham gia bảo
hiểm y tế), BHYT không phân biệt giàu nghèo, tầng lớp, giai cấp, địa vị xã
hội mà nó tham gia vào việc chữa trị bệnh cho bất kể người dân nào có tham
gia BHYT. BHYT thực sự trở thành nhu cầu cần thiết đối với nhân dân.
Người tham gia bảo hiểm y tế sẽ được cơ quan BHYT thay mặt

viên của xã hội cũng như các quốc gia quan tâm, đẩy mạnh sự phát triển y
tế tạo điều kiện cho BHYT phát triển nhanh và hoàn thiện. Khi bảo hiểm y
tế càng hoàn thiện thì nó sẽ bộc lộ được tính ưu việt của nó làm cho nhu
cầu bảo hiểm y tế c
ủa người dân càng cao. Khi xảy ra ốm đau cuộc sống sẽ
gặp nhiều khó khăn vì vậy tham gia bảo hiểm y tế sẽ giúp người bệnh giải
quyết được một phần khó khăn đó do chi phí khám chữa bệnh đã được cơ

7
quan bảo hiểm y tế thay mặt thanh toán với các cơ sở KCB. Vì vậy sẽ giúp
cho họ nhanh chóng khắc phục hậu quả và kịp thời ổn định cuộc sống, tạo
cho họ một niềm lạc quan trong cuộc sống. Bảo hiểm y tế và vấn đề chăm
sóc sức khoẻ luôn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
1.1.3.3 Bảo hiểm y tế làm tăng chất lượng trong khám chữa b
ệnh và quản
lý y tế.
Sự đóng góp của số đông sẽ làm tăng quỹ về y tế dẫn đến:
- Trang thiết bị về y tế có điều kiện trang bị hiện đại hơn, có kinh phí
để sản xuất ra các loại thuốc quý, hiếm và nghiên cứu sản xuất các loại
thuốc chữa trị các bệnh hiểm nghèo.
- Cơ sở khám chữa bệnh sẽ được xây dự
ng thêm, xây dựng lại một
cách có hệ thống và hoàn thiện hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc KCB
của người dân.
- Đội ngũ cán bộ y tế sẽ được đào tạo tốt hơn, các y bác sỹ ở các
bệnh viện có thể có điều kiện để nâng cao tay nghề, tri thức, tích luỹ kinh
nghiệm, có trách nhiệm với công việc hơn dẫn đến sự quản lý dễ
dàng và
chặt chẽ hơn trong việc khám chữa bệnh.
Chất lượng y tế tăng có một tác dụng rất lớn trong nền kinh tế xã hội:

ế chủ yếu là
qua bảo hiểm y tế. ở Pháp tỉ lệ đó là 97 %, ngân sách Nhà nước chỉ cấp 3%.
Bảo hiểm y tế đã huy động sự đóng góp của dân cư tạo ra một nguồn
quỹ tương đối lớn, có khả năng chi trả cao. Dựa trên nguyên tắc lấy số
đông bù số ít, bảo hiểm y tế đã cứu sống được nhiều người bệnh bằng
nguồn quỹ do chính họ đóng góp mà không phụ thuộc vào sự bao cấp của
Nhà nước. Ngoài ra, hàng năm các tổ chức bảo hiểm y tế phải đóng góp
một khoản tiền nhất định vào ngân sách Nhà nước theo quy định. Trong
giai đoạn hiện nay, Nhà nước ta phải huy động ngân sách vào nhiều lĩnh
vực khác nhau thì sự hỗ trợ của bảo hiểm y tế lại càng có ý nghĩa thiết thực,
nhất là đối vớ
i ngành y tế.
1.1.3.5 BHYT ra đời còn góp phần đề phòng và hạn chế những căn bệnh
hiểm nghèo theo phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”
Nhờ có dịch vụ khám chữa bệnh, bảo hiểm y tế đã kiểm tra sức khoẻ

9
từ đó phát hiện kịp thời những căn bệnh hiểm nghèo và có phương pháp
chữa trị phù hợp tránh được những hậu quả xấu. Nếu không tham gia bảo
hiểm y tế, tâm lý người dân thường sợ tốn kém khi đi bệnh viện do đó mà
coi thường hoặc bỏ qua những căn bệnh có thể dẫn đến tử vong.
Trên đây là một số vai trò chính của bảo hiểm y tế, kh
ẳng định sự ra
đời của bảo hiểm y tế là đúng đắn và hết sức cần thiết với sự tiến bộ và
phát triển của xã hội.
1.1.4. Các phương thức chi trả BHYT
Hiện nay, trên thế giới có nhiều phương thức chi trả khác nhau, mỗi
phương thức chi trả đều có ưu nhược điểm và có sự khác nhau về chất
lượng của các dịch vụ y t
ế được cung cấp, khả năng kiểm soát chi phí y tế,

tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế trong một khoảng th
ời gian
nhất định.
Nguyên tắc thanh toán
- Thanh toán theo định suất là thanh toán theo định mức chi phí
khám bệnh, chữa bệnh bình quân tính trên mỗi thẻ BHYT theo các nhóm
đối tượng trong thời gian đăng ký tại cơ sở y tế.
- Tổng quỹ định suất được thanh toán là số tiền tính theo số thẻ
BHYT đăng ký và suất phí đã được xác định.
- Khi thực hiện thanh toán theo định suất, cơ sở y tế được chủ động
sử dụ
ng nguồn kinh phí đã được xác định hàng năm. Cơ sở y tế có trách
nhiệm cung cấp các dịch vụ y tế cho người bệnh có thẻ BHYT và không
được thu thêm bất kỳ một khoản chi phí nào trong phạm vi quyền lợi của
người bệnh có thẻ BHYT. Bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giám sát, đảm
bảo quyền lợi cho người bệnh có thẻ BHYT.
Xác định quỹ định suất:
a. Quỹ định suất giao cho cơ
sở y tế là tổng quỹ định suất của 6 nhóm
đối tượng quy định như sau :

11
Bảng 1.1 : Phân nhóm đối tượng tham gia BHYT
Nhóm
Đối tượng tham gia BHYT theo Điều 1
TTLT số 9/BYT-BTC ngày 14/8/2009
Mã đối tượng
Nhóm 1 Đối tượng quy định tại các khoản: 1, 2,
8, 12
DN, HX, CH, NN,

tượng đă
ng
ký năm nay
x k
- Tổng chi phí khám bệnh, chữa bệnh của từng nhóm đối tượng năm
trước trên địa bàn tỉnh bao gồm: chi phí khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở
đăng ký khám chữa bệnh ban đầu, chi phí khám bệnh, chữa bệnh tuyến
khác và chi phí thanh toán trực tiếp của nhóm đối tượng đó (trừ các khoản
chi phí quy định tại điểm c khoản này).

12
- k: hệ số điều chỉnh do biến động về chi phí khám bệnh, chữa bệnh
và các yếu tố liên quan khác của năm sau so với năm trước.
c) Chi phí vận chuyển, chi phí chạy thận nhân tạo, ghép bộ phận cơ
thể người, phẫu thuật tim, điều trị bệnh ung thư, bệnh hemophilia và phần
chi phí cùng chi trả của người bệnh không tính vào tổng quỹ định suất.
d) Tổng quỹ
định suất giao cho các cơ sở y tế thực hiện định suất
trong tỉnh không vượt quá tổng quỹ khám, chữa bệnh của các cơ sở này.
Trường hợp đặc biệt thì Bảo hiểm xã hội tỉnh báo cáo Bảo hiểm xã hội Việt
Nam để xem xét, điều chỉnh nhưng suất phí điều chỉnh không vượt quá
mức chi bình quân chung theo nhóm đối tượng trên phạm vi cả nước do
Bảo hiể
m xã hội Việt Nam xác định và thông báo hàng năm.
đ) Hệ số k tạm thời áp dụng là 1,10. Liên Bộ Y tế, Bộ Tài chính xem
xét, điều chỉnh hệ số k cho phù hợp trong trường hợp có biến động liên
quan đến chi phí khám bệnh, chữa bệnh và phạm vi quyền lợi BHYT.
Trong trường hợp đặc biệt, Bảo hiểm xã hội Việt Nam báo cáo liên Bộ để
xem xét, giải quyết.
Theo dõi, điều chỉnh quỹ định suấ

hiểm xã hội tỉnh thống nhất với Sở Y tế xem xét, thanh toán bổ sung cho cơ
sở y tế.
Trường hợp quỹ khám bệnh, chữa bệnh của tỉnh không đủ để bổ
sung thì báo cáo Bảo hiểm xã hội Việt Nam xem xét, giải quyế
t.
1.1.4.2. Thanh toán theo giá dịch vụ
Thanh toán theo giá dịch vụ là thanh toán dựa trên chi phí của
thuốc, hóa chất, vật tư, thiết bị y tế, dịch vụ kỹ thuật y tế được sử dụng
cho người bệnh.
Các trường hợp áp dụng
- Cơ sở y tế chưa áp dụng phương thức thanh toán theo định suất;
- Người bệnh có thẻ BHYT không đăng ký khám bệnh, chữa bệnh
ban đầu tại cơ sở y t
ế đó;
- Một số bệnh, nhóm bệnh hay các dịch vụ không tính vào quỹ
định suất của cơ sở y tế áp dụng phương thức thanh toán theo định suất
theo quy định.

14
Cơ sở thanh toán
Chi phí các dịch vụ kỹ thuật y tế được tính theo bảng giá dịch vụ kỹ
thuật của cơ sở y tế được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo quy định
của pháp luật về thu viện phí; chi phí về thuốc, hóa chất, vật tư y tế được
tính theo giá mua vào của cơ sở y tế; chi phí về máu, chế phẩm máu được
thanh toán theo giá quy định của Bộ Y tế.
Xác
định quỹ khám bệnh, chữa bệnh cho cơ sở y tế đăng ký khám
bệnh, chữa bệnh ban đầu.
a) Đối với cơ sở y tế thực hiện khám bệnh, chữa bệnh ngoại trú và
nội trú được sử dụng 90% quỹ khám bệnh, chữa bệnh tính trên tổng số thẻ

với cơ sở thực hiện khám bệnh, chữa bệnh ngoại trú và nội trú;
- Điều chỉnh, bổ sung từ 5% quỹ khám bệnh, chữa bệnh còn lại đối
với cơ sở chỉ thực hiện khám bệnh, chữa bệnh ngoại trú.
- Trường hợp đã điều chỉnh, bổ sung mà vẫn thiếu, Bảo hiểm xã hội
tỉnh có trách nhiệm xem xét, đánh giá để thanh toán bổ sung trong phạm vi
quỹ khám bệnh, chữa bệnh tại địa phương. Nếu quỹ của địa phương không
đủ để điều tiết thì báo cáo Bảo hiểm xã hội Việt Nam xem xét, giải quyết.
1.1.4.3. Thanh toán theo trường hợp bệnh
-Thanh toán theo trường hợp bệnh hay nhóm bệnh là hình thức thanh
toán trọn gói để bảo đảm khám bệnh, chữa bệnh cho trường hợp bệnh đã
được chẩn đoán xác định.
- Cơ sở phân loại, xác định chẩn đoán cho từng trường hợp bệnh hay
nhóm bệnh thực hiện theo quy định của Bộ Y tế về thống kê, phân loại
bệnh tật.
- Chi phí trọn gói của từng trường hợp bệnh hay nhóm bệnh dựa trên
quy định của pháp luật về thu viện phí hiện hành.
- Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện thí điể
m thanh toán theo trường hợp
bệnh hay nhóm bệnh.
Ngoài ra trên thế giới và Việt Nam còn một số phương thức chi trả
khác như phương thức chi trả theo giá ngày giường, cùng chi trả… Tuy
nhiên trong khuôn khổ của đề tài chúng tôi xin không được đề cập trong đề
tài này.

16
1.2. Thực trạng BHYT trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Thực trạng của BHYT trên thế giới
a) Chính sách bảo hiểm y tế ở Đức.
Đức là nước đầu tiên ban hành luật bảo hiểm y tế vào năm 1883.
áp dụng bắt buộc với các đối tượng sau: Công nhân, cán bộ công chức

Thái Lan bắt đầu Bảo hiểm y tế bắt buộc vào cuối thập kỷ 80 cho
người lao động trong các doanh nghiệp tư nhân. Đến năm 2010 công bố
chiến lược Bảo hiểm y tế toàn dân khi thu nhập bình quân đầu người vượt
qua con sè 2000 USD/người/năm. Cũng tại thời điể
m 2010, sè lao động
trong nông nghiệp còn 50% trong tổng số 36,7 triệu người trong tuổi lao
động. Thái lan đặc biệt thành công trong phương thức thanh toán chi phí
khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế theo định xuất (capitation) và đang tích cực
triển khai phương thức thanh toán theo chẩn đoán.
Hiện tại, Chính phủ Thái Lan đang thực hiện chương trình Bảo hiểm
y tế toàn dân (gọi tắt là chương trình 30 bath). Theo đó, trừ những người
lao động làm việc trong các doanh nghiệp đã tham gia B
ảo hiểm y tế bắt
buộc do Bảo hiểm xã hội Thái Lan quản lý (SSO) và cán bộ, công chức
cùng người ăn theo của họ do quỹ chi trả, Chính phủ Thái Lan lập một
quỹ khám chữa bệnh do Văn phòng Bảo hiểm y tế quốc gia quản lý để chi
trả chi phí khám chữa bệnh cho số dân còn lại.
1.2.2. Thực trạng của BHYT tại Việt Nam
Bảo hiểm y tế thực tế đã góp phầ
n rất lớn vào công tác chăm sóc sức
khoẻ và thực hiện công bằng xã hội trong việc khám chữa bệnh cho mọi
người dân trong xã hội. Để hiểu rõ hơn về Bảo hiểm y tế Việt nam ta xem
xét quá trình ra đời của ngành này.
Giai đoạn từ 1989- 1992: Thí điểm xây dựng quỹ BHYT
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/03/1947 tạo cơ sở pháp
lý đầu tiên cho việc tổ ch
ức thực hiện các chế độ bảo hiểm ốm đau, tai nạn

Trích đoạn Quy trình giám định tại BHYT tại cơ sở KCB Về hoạt động giám định BHYT theo 2 phương thức khoán
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status