Nghiên cứu bào chế viên metronidazol giải phóng tại đại tràng bằng phương pháp bao bồi - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI PHẠM THỊ THANH TÂM
NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ VIÊN
METRONIDAZOL GIẢI PHÓNG TẠI ĐẠI TRÀNG
BẰNG PHƯƠNG PHÁP BAO BỒI LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC HÀ NỘI 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ HÀ NỘI 2014
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin được gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Phạm Thị Minh
Huệ, T.S Nguyễn Thạch Tùng và ThS. Nguyễn Thu Quỳnh đã luôn luôn tận tâm
hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề
tài này.
Tôi cũng xin được trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Dược Hà
Nội, Phòng Đào tạo Sau đại học, toàn thể các thầy cô giáo, các anh chị kỹ thuật viên
Bộ môn Bào chế đã hết lòng quan tâm, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn
thành được luận văn này.
Nhân dịp này, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu
Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, Ban lãnh đạo Khoa Dược đã tạo điều kiện
cho tôi được đi học và giành cho tôi những sự hỗ trợ quý báu trong suốt thời gian
tôi học tập tại trường Đại học Dược Hà Nội.
Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè và các đồng
nghiệp đã luôn cổ vũ, động viên và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian học
tập và thực hiện luận văn. Hà Nội, ngày 29 tháng 08 năm 2014
Học viên
DS. Phạm Thị Thanh Tâm


1.3.2. Phương pháp bao bột khô 14
1.3.3. Một số kết quả nghiên cứu bào chế các dạng thuốc bằng phương pháp
bao bột khô 20
1.4. Một số kết quả nghiên cứu dạng thuốc giải phóng tại đại tràng 9
Chương 2. NGUYÊN LIỆU, THIẾT BỊ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
23
2.1. Nguyên liệu và thiết bị nghiên cứu 23
2.1.1. Nguyên liệu 23
2.1.2. Thiết bị 24
2.2. Phương pháp nghiên cứu 25
2.2.1. Xây dựng đường chuẩn biểu thị mối tương quan giữa nồng độ MTZ
trong môi trường đệm phosphat pH 6,8 và mật độ quang 25
2.2.2. Phương pháp bào chế 25
2.2.3. Phương pháp đánh giá viên nhân 30
2.2.4. Phương pháp đánh giá viên bao 32
2.2.5. Đánh giá độ ổn định của viên bao 33
2.2.6. Phương pháp xử lý và đánh giá kết quả 34
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1. Xây dựng đường chuẩn về mối tương quan giữa nồng độ MTZ trong dung dịch
đệm phosphat pH 6,8 và mật độ quang 36
3.2. Bào chế viên nhân chứa 200mg MTZ 37
3.3. Nghiên cứu bao bồi viên MTZ giải phóng tại đại tràng 40
3.3.1. Khảo sát thành phần bột bao 40
3.4.2. Khảo sát thành phần dịch bao 52
3.4. Khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố thuộc công đoạn ủ tới khả năng hình thành
lớp vỏ bao và khả năng kiểm soát giải phóng dược chất của viên bao 59
3.4.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ ủ 59
3.4.2. Ảnh hưởng của thời gian ủ 64
3.4.3. Ảnh hưởng của thời gian sau ủ 65
3.4.4. Bao màng bảo vệ 67

DSC
:Phân tích nhiệt vi sai quét
Eu S100
:Eudragit S100
HEC
:Hydroxyethyl cellulose
HPMC
:Hydroxypropyl methylcellulose
HPMCAS
:Hydroxypropyl methyl cellulose acetat succinat
HPMCP
:Hydroxypropyl methyl cellulose phtalat
HPLC
:Sắc ký lỏng hiệu năng cao
kl/kl
:Khối lượng/khối lượng
MCC
:Cellulose vi tinh thể
MTZ
:Metronidazol
PCDC
:Viên nang giải phóng tại đại tràng nhờ áp suất thẩm thấu
PEG
:Polyethylen glycol
PVAP
:Polyvinyl acetat phtalat
PVP K30
:Polyvinyl pirolydon
SEM
:Kính hiển vi điện tử quét

Bảng 3.10. Ảnh hưởng của tỉ lệ pectin: HPMC K100M 46
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của tỉ lệ pectin và tỉ lệ vỏ bao tới t
lag
của viên bao 47
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của lượng enzym pectinase trong môi trường giải phóng
tới t
lag
của viên bao (n=6) 48
Bảng 3.13. Ảnh hưởng của kích thước bột bao 51
Bảng 3.14. Thành phần dịch bao thay đổi loại chất hóa dẻo 52
Bảng 3.15. Ảnh hưởng của loại chất hóa dẻo 52
Bảng 3.16. Ảnh hưởng của loại chất hóa dẻo tới mức độ thuận tiện trong thao tác
và hình thức của viên bao 53
Bảng 3.17. Ảnh hưởng của tỉ lệ DBP tơi mức độ thuận tiện trong thao tác và hình
thức viên bao 55
Bảng 3.18. Ảnh hưởng của tỉ lệ chất hóa dẻo 55
Bảng 3.19. Ảnh hưởng của nồng độ dung dịch HPMC E6 tới một số chỉ tiêu chất
lượng của viên bao (n=6) 57
Bảng 3.20. Điều kiện khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố thuộc quy trình ủ 59
Bảng 3.21. Ảnh hưởng của nhiệt độ ủ tới khả năng kiểm soát giải phóng dược chất
của viên bao 60
Bảng 3.22. Ảnh hưởng của thời gian sau ủ tới khả năng kiểm soát giải phóng dược
chất của viên bao 64
Bảng 3.23. Ảnh hưởng của thời gian sau ủ tới khả năng kiểm soát giải phóng dược
chất của viên ủ 60
o
C/72 giờ (n=6, TB ± SD) 65
Bảng 3.24. Ảnh hưởng của thời gian sau ủ tới khả năng kiểm soát giải phóng dược
chất của viên bao ủ 60
o

Trang
Hình 1.1. Quá trình hình thành vỏ bao 16
Hình 1.2. Minh họa cơ chế hình thành lớp vỏ bao trong bao bột khô 18
Hình 2.1. Sơ đồ quy trình bào chế viên nhân MTZ 26
Hình 2.2. Sơ đồ bố trí thiết bị bao 29
Hình 3.1. Đồ thị biểu diễn mối tương quan giữa nồng độ MTZ trong dung dịch
đệm phosphat pH 6,8 và mật độ quang ở bước sóng 378 nm 36
Hình 3.2. % MTZ giải phóng theo thời gian của các mẫu viên nhân khác nhau 38
Hình 3.3. %MTZ giải phóng theo thời gian của các mẫu viên bao lót khác nhau . 39
Hình 3.4. Ảnh hưởng của loại pectin tới khả năng kiểm soát giải phóng dược chất
của viên bao 41
Hình 3.5. Ảnh hưởng của tỉ lệ vỏ bao tới khả năng kiểm soát giải phóng dược chất
của viên bao 42
Hình 3.6. Ảnh hưởng của tỉ lệ pectin: HPMC K100M tới khả năng kiểm soát giải
phóng dược chất của viên bao 46
Hình 3.7. Ảnh hưởng của tỉ lệ pectin và tỉ lệ vỏ bao tới t
lag
của viên bao 47
Hình 3.8. Ảnh hưởng của lượng enzym pectinase trong môi trường giải phóng tới
t
lag
của các mẫu viên bao 46
Hình 3.9. Ảnh hưởng của tỉ lệ talc tới khả năng kiểm soát giải phóng dược chất
của viên bao 45
Hình 3.10. Ảnh hưởng của kích thước bột bao tới khả năng kiểm soát giải phóng
dược chất của viên bao 50
Hình 3.11. Ảnh hưởng của loại chất hóa dẻo tới khả năng kiểm soát giải phóng
dược chất của viên bao 53
Hình 3.12. Ảnh hưởng của tỉ lệ chất hóa dẻo tới khả năng kiểm soát giải phóng
dược chất của viên bao 56

amip. Metronidazol là một thuốc được lựa chọn phổ biến để điều trị lỵ amip, đa phần
được bào chế dưới dạng thuốc viên qui ước, gây tác dụng toàn thân, chỉ một lượng
nhỏ thuốc tới được đích đại tràng, phần còn lại phân bố vào các cơ quan khác hoặc
bị thải trừ. Do đó, để đạt được nồng độ thuốc điều trị tại đại tràng phải đưa một
lượng thuốc nhiều hơn và thường phải điều trị kéo dài, gây nhiều tác dụng không
mong muốn. Nhằm khắc phục những hạn chế trên và tăng hiệu quả điều trị, dạng
thuốc giải phóng tại đại tràng của metronidazol đã được nghiên cứu phát triển.
Viên giải phóng tại đại tràng đa phần được bào chế dưới dạng viên bao, một số
được bào chế dưới dạng viên cốt. Trong những năm gần đây, Việt Nam cũng đã có
nhiều nghiên cứu về dạng thuốc giải phóng tại đại tràng. Tuy nhiên, các nghiên cứu
này chủ yếu sử dụng phương pháp bao dập, có hiệu suất dập viên thấp, tỉ lệ vỏ bao
lớn, vỏ bao và viên nhân khó liên kết. Trong khi đó, các nhà bào chế trên thế giới lại
đang hướng sự quan tâm vào việc nghiên cứu và phát triển các phương pháp bao bột
khô như bao bồi bột khô, bao tĩnh điện, bao khô dựa trên kết dính nhiệt Các phương
pháp bao này có nhiều ưu điểm như không sử dụng hoặc sử dụng rất ít dung môi,
không gây ô nhiễm môi trường, quy trình bao nhanh, vỏ bao có khả năng kiểm soát
giải phóng tốt. Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu bào chế viên
metronidazol giải phóng tại đại tràng bằng phương pháp bao bồi” với mục tiêu:
1. Xây dựng được công thức và quy trình bào chế viên nén metronidazol
200mg giải phóng tại đại tràng bằng phương pháp bao bồi từ bột trên nồi
bao truyền thống ở quy mô phòng thí nghiệm.
2. Đề xuất được một số chỉ tiêu chất lượng và bước đầu nghiên cứu độ ổn định
của chế phẩm nghiên cứu.
Để giải quyết các mục tiêu trên, nội dung nghiên cứu của đề tài gồm có:
- Khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố thuộc thành phần vỏ bao tới khả năng
kiểm soát giải phóng dược chất của viên bao.
- Khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố thuộc công đoạn ủ tới khả năng kiểm soát
giải phóng dược chất của viên bao.
- Đề xuất tiêu chuẩn chất lượng và bước đầu đánh giá độ ổn định viên bao MTZ
200mg giải phóng tại đại tràng.

1.1.3. Dược động học
Metronidazol (MTZ) hấp thu nhanh và hoàn toàn qua đường tiêu hóa. 1 giờ sau
khi uống 500 mg MTZ, thuốc đạt nồng độ tối đa trong huyết tương là 10µg/mL. MTZ
xâm nhập tốt vào các mô và dịch cơ thể, kể cả nước bọt, dịch âm đạo, tinh dịch, sữa mẹ
và dịch não tủy. Liên kết với protein huyết tương 10 – 20%. Chuyển hóa ở gan bằng
phản ứng oxy hóa (khoảng 50%), chất chuyển hóa còn hoạt tính, thải trừ chủ yếu qua
nước tiểu, thời gian bán thải khoảng 8 giờ [3], [5].
1.1.4. Tác dụng và cơ chế
Tác dụng tốt với cả amip ở trong và ngoài ruột, cả thể cấp và thể mạn. Với lỵ
amip mạn ở ruột, thuốc có tác dụng yếu hơn do ít xâm nhập vào đại tràng. Tác dụng tốt
3

với Trichomonas vaginalis, Giardia, các vi khuẩn kị khí gram âm kể cả Bacterioid,
Clostridium, Helicobacter, nhưng không tác dụng trên các vi khuẩn ưa khí.
Cơ chế: Nhóm nitro của MTZ bị khử bởi protein vận chuyển electron hoặc bởi
ferredoxin. MTZ dạng khử làm mất cấu trúc xoắn của AND, tiêu diệt vi khuẩn và
sinh vật đơn bào [3], [5].
1.1.5. Chỉ định
- Điều trị lỵ amip các thể: amip ruột, amip gan và amip ở các mô.
- Điều trị nhiễm Trichomonas vaginalis và các bệnh do sinh vật đơn bào khác.
- Trị các nhiễm khuẩn răng miệng, tiêu hóa, ổ bụng, phụ khoa, hệ thần kinh
trung ương, nhiễm khuẩn huyết do các vi khuẩn kị khí nhạy cảm.
- Dự phòng nhiễm khuẩn trong phẫu thuật đường tiêu hóa, phụ khoa (phối hợp
các kháng sinh khác) [3], [5].
1.1.6. Tương tác thuốc
MTZ làm tăng tác dụng của wafarin, lithium, thuốc giãn cơ nhóm chống khử
cực. Các thuốc gây cảm ứng enzym (phenobarbital, rifampicin ) làm giảm tác dụng
của MTZ. Thuốc gây hội chứng giống disulfiram, vì vậy không uống rượu trong
thời gian dùng thuốc [3], [5].
1.1.7. Tác dụng không mong muốn

thuốc và giảm tác dụng không mong muốn toàn thân.
- Nâng cao sinh khả dụng theo đường uống của thuốc dễ bị phân hủy ở dạ
dày và ruột non như: peptid, protein, oligonucleotid và acid nucleic; các thuốc
chuyển hóa bước một qua gan nhiều do không phải đi vào chu trình gan-ruột, khi
được hấp thu tại phần cuối trực tràng thuốc đi thẳng vào vòng tuần hoàn chung,
một phần không qua gan.
- Lợi dụng thời gian trễ khi thuốc đến đại tràng để điều trị bệnh mạn tính theo
nhịp từng ngày như bệnh hen xuyễn, đau thắt ngực, viêm khớp.
Để đưa thuốc tới đại tràng các nhà bào chế dựa trên một số yếu tố sinh lý khác
nhau giữa các vùng của đường tiêu hóa như pH, thời gian vận chuyển thuốc, hệ vi
sinh vật, các enzym… [33], [48].
1.2.2. Đặc điểm sinh lý đại tràng liên quan đến dạng thuốc
1.2.2.1. Giải phẫu
Đại tràng người dài xấp xỉ 125 cm. Đại tràng ngắn và rộng hơn ruột non. Đại
tràng được chia thành manh tràng, đại tràng lên, đại tràng ngang, đại tràng xuống,
đại tràng xích ma, trực tràng và hậu môn. Đường kính đại tràng giảm liên tục từ cực
đại (khoảng 8,5 cm) ở manh tràng đến khoảng 2,5 cm ở đại tràng xích ma [28]. Thời
5

gian thuốc di chuyển qua các phần khác nhau của đường tiêu hóa để đến đại tràng
dao động trong khoảng 5 – 8 giờ. Thời gian lưu thuốc tại đại tràng khoảng 15 – 48
giờ [1].
1.2.2.2. Môi trường đại tràng
Nước và điện giải
Đại tràng có khả năng hấp thu lớn: với 2 lít nước vào đại tràng thì có < 200 ml
nước trong phân. Lưu lượng nhũ trấp từ ruột non xuống ruột già ở người khỏe mạnh
khoảng 1–2 lít/giờ. Sự hấp thu nước và Na
+
không đáng kể ở manh tràng [2]. Sự
hấp thu xảy ra ở nửa đầu đại tràng [33].


hóa cellulose. Sản phẩm cuối cùng của quá trình tiêu hóa cellulose và các
carbonhydrat khác là các acid béo dễ bay hơi, acid lactic, methan, H
2
và CO
2
.
Các vi khuẩn đại tràng chứa các lipase ngoại bào có thể thủy phân các este của
acid béo ở vị trí 1 và 3 của phân tử triglycerid. Chúng cũng sản xuất các enzym có
khả năng chuyển hóa các acid béo mạch dài. Gần 25% acid béo trong phân được
hydroxy hóa bởi các vi khuẩn. Sự có mặt của các acid béo bị hydroxy hóa trong đại
tràng là tác nhân ức chế việc vận chuyển nước và điện giải, nếu nồng độ cao có thể
gây tiết nước và điện giải dẫn đến ỉa chảy và tăng đáng kể tốc độ vận chuyển ở đại
tràng [46].
1.2.3. Các dạng thuốc giải phóng tại đại tràng
1.2.3.1. Hệ phụ thuộc pH
Hệ bào chế phụ thuộc pH nhằm giải phóng thuốc đặc hiệu tại vị trí đại tràng
lợi dụng sự khác nhau của pH trong đường tiêu hóa người. pH tăng dần từ dạ dày
(pH 1-2, tăng lên 4 trong quá trình tiêu hóa) đến ruột non (pH 6-7 tại vị trí tiêu hóa)
lên đến pH 7-8 ở hồi tràng xa và cuối cùng giảm xuống 6-6,5 ở đại tràng lên [50].
Muốn đưa thuốc tới vị trí đích đại tràng, tá dược thường được sử dụng là các
polyme tan ở ruột. Các polyme này được bao với tỉ lệ thích hợp xung quanh dược
chất, giúp dược chất gần như không giải phóng ở dạ dày và ruột non. Bề dày màng
bao là yếu tố quan trọng nhằm đưa thuốc tới vị trí đích đại tràng mà không giải
phóng ở đường tiêu hóa trên. Sự điều chỉnh bề dày màng bao giúp tăng thêm lựa
chọn với những polyme khác nhau như cellulose acetat phtalat (CAP),
hydroxypropyl methylcellulose phtalat (HPMCP), polyvinyl acetat phtalat (PVAP),
Shellac, hydroxypropyl methyl cellulose acetat succinat (HPMCAS), acid
methacrylic liên hợp… [33], [48].
Nhược điểm của hệ phân phối này là pH dạ dày, ruột non thay đổi nhiều với

hữu cơ (ví dụ: acid succinic). Cả viên nang được bao bằng ba lớp phim gồm: Lớp
trong là polyme cation hóa hòa tan trong pH acid (Eudragit E). Lớp trung gian tan
trong nước ngăn cản sự tiếp xúc trực tiếp giữa lớp polyme cation và anion. Lớp
ngoài chứa nguyên liệu tan trong ruột ở pH>5 [35]. Sau khi uống, lớp bao tan trong
ruột bên ngoài ngăn cản dược chất giải phóng ở dạ dày trong nhiều giờ. Sau thời
gian tháo rỗng dạ dày, cả lớp bao tan trong ruột và lớp trung gian thân nước đều hòa
tan nhanh chóng chỉ còn lại lớp polyme tan trong acid bảo vệ dược chất. Sau thời
8

gian trễ định sẵn, acid hữu cơ trong viên nang hòa tan, pH bên trong viên nang giảm
và dẫn đến lớp trong bị tan ra và hoạt chất được giải phóng. Thời gian để giải phóng
hoạt chất tùy thuộc vào bề dày của lớp polyme tan trong acid.
Viên nén dạng cốt gồm 3 thành phần: cốt chứa dược chất được bao dập với
hydroxyethyl cellulose (HEC) và cellulose vi tinh thể (MCC) (lớp phụ thuộc thời
gian), bên ngoài được bao với Eudragit S100 (lớp phụ thuộc pH). Viên nén không
giải phóng tại dạ dày nhờ lớp bao tan trong ruột. Sau thời gian tháo rỗng dạ dày, lớp
polyme tan trong ruột tan rã, lớp polyme HEC/MCC bắt đầu bị ăn mòn theo thời
gian và giải phóng dược chất đến đích. Tại đại tràng, tỉ lệ HEC/MCC quyết định tốc
độ giải phóng hoạt chất [16].
Viên cốt chứa dược chất, hydroxypropyl methylcellulose (HPMC K4M hoặc
K15M) và Eudragit (L100 hoặc S-100) được bao tan trong ruột bởi cellulose acetat
phtalat (CAP) cũng có khả năng kiểm soát giải phóng dược chất tại đại tràng theo cả
cơ chế phụ thuộc pH và thời gian [35].
Mặc dù, đã kết hợp được ưu điểm của hệ bào chế phụ thuộc pH và thời gian
nhưng vị trí rã và giải phóng hoạt chất vẫn bị ảnh hưởng bởi sự tháo rỗng dạ dày và
thời gian vận chuyển qua đường tiêu hóa [19].
1.2.3.4. Hệ phụ thuộc áp suất
Theo kết quả nghiên cứu nhu động, nhu động đại tràng mạnh hơn nhu động
ruột non. Takaya và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu hệ phân phối thuốc tại đại
tràng phụ thuộc vào áp suất. Hoạt chất được phân tán vào tá dược viên đạn

phương pháp hóa học hoặc phương pháp hóa sinh. Có tính ổn định cao, an toàn,
không độc, có thể hút nước trương nở tạo thành gel và bị phân hủy bởi vi sinh vật ở
đại tràng. Một số polysaccarid hay dùng: chitosan, pectin, chondroitin sulfat,
cyclodextrin, dextran, gôm guar, inulin và amylose [54].
Tuy nhiên, hệ giải phóng nhờ vi sinh vật đại tràng cũng có một số nhược điểm
như: Hệ vi sinh vật trong đại tràng có thể bị thay đổi phụ thuộc chế độ ăn uống và
bệnh lý. Các enzym trong đại tràng thường phân rã dạng thuốc chậm, dẫn đến sinh
khả dụng của thuốc giảm. Các nghiên cứu đánh giá sự phân rã của dạng thuốc này
thường mới được tiến hành trên động vật chưa được tiến hành trên người [17].
Một số nghiên cứu về hệ thuốc giải phóng tại đại tràng nhờ vi sinh vật:
Nguyễn Cao Thắng (2009) bước đầu nghiên cứu bào chế viên metronidazol
giải phóng tại đại tràng. Kết quả nghiên cứu cho thấy vỏ bao 20% guar kết hợp với
lactose giải phóng ít hơn 5% lượng dược chất sau 5 giờ thử giải phóng trong môi
10

trường pH 1 và pH 7,4. Sau 24 giờ, dược chất giải phóng gần như hoàn toàn trong
cả môi trường có vi sinh vật và không có vi sinh vật [14].
Lại Thị Vân Quỳnh (2010) nghiên cứu viên bao MTZ giải phóng tại đại tràng
bằng phương pháp bao dập với tá dược bao là gôm guar. Kết quả nghiên cứu cho
thấy vỏ bao gôm guar có tác dụng kéo dài thời gian giải phóng của dược chất MTZ.
Khi tỉ lệ gôm guar càng tăng, hàm lượng MTZ giải phóng càng giảm. Do khi tỉ lệ
gôm guar tăng, lớp vỏ bao trương nở càng lớn, dược chất khó thoát ra ngoài. Công
thức vỏ bao kết hợp giữa gôm guar và lactose với tỉ lệ gôm 20% có khả năng kiểm
soát giải phóng dược chất tốt hơn so với việc kết hợp gôm guar và Avicel PH102
với cùng tỉ lệ. Dược chất giải phóng ít hơn 5% sau 5 giờ thử hòa tan trong môi
trường pH 1 và pH 7,4. Sau 24 giờ, dược chất giải phóng gần như hoàn toàn ở cả
hai môi trường có vi sinh vật và không có vi sinh vật. Do đó, công thức vỏ bao kết
hợp gôm guar (20%) với lactose lợi dụng được hai đặc điểm của đường tiêu hóa là
giải phóng trễ theo thời gian và nhờ vi sinh vật [13].
Trần Quyết Tiến (2010) nghiên cứu bào chế viên nén metronidazol giải phóng

9
cfu/ml. Lấy mẫu 30 phút/lần, liên tục trong 6,5
giờ. Lượng NGB giải phóng được định lượng bằng phương pháp đo quang tại
bước sóng 715nm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, lượng NGB giải phóng ra khỏi
viên không đáng kể cho tới khi enzym Pectinex hoặc vi khuẩn Bacteroides ovatus
được thêm vào môi trường thử giải phóng. Viên bao có khả năng duy trì thời gian
tiềm tàng tới 6 giờ. Trong cả hai thử nghiệm giải phóng với enzym pectinase và
với vi khuẩn Bacteroides ovatus, không có sự khác biệt đáng kể về thời gian và
phương thức giải phóng NGB ra khỏi viên. Nghiên cứu cũng cho thấy, việc sử
dụng enzym pectinase không gây ảnh hưởng đến độ chính xác của kết quả định
lượng NGB bằng phương pháp đo quang tại bước sóng 715nm. Tuy nhiên, việc sử
dụng vi khuẩn Bacteroides ovatus lại cho thấy sự dao động đáng kể về kết quả
định lượng NGB. Do vậy, để đảm bảo tính chính xác, cần loại bỏ các tế bào vi
khuẩn bằng phương pháp ly tâm trước khi tiến hành định lượng [56].
Timucin Ugurlu và các cộng sự (2007), nghiên cứu bào chế viên nén nisin
giải phóng tại đại tràng với hỗn hợp tá dược pectin/HPMC bằng phương pháp bao
dập. Trong nghiên cứu này, viên nhân được bao dập với tỉ lệ pectin trong hỗn hợp
polyme thay đổi từ 25-100%. Tỉ lệ lớp vỏ bao 400% so với khối lượng viên nhân.
Viên bao được thử hòa tan trong các môi trường pH 1.2, 3.3 và 6.8. Vào giờ thứ 6,
12

3ml enzym Pectinex được thêm vào môi trường thử hòa tan. Kết quả nghiên cứu
cho thấy, việc sử dụng đơn lẻ pectin làm tá dược bao không thể bảo vệ viên nhân
tới được đại tràng. Sau 6 giờ, lượng dược chất giải phóng lên tới trên 40%. Do
vậy, HPMC được thêm vào nhằm kiểm soát sự hòa tan của pectin. Viên bao chứa
5% HPMC có t
lag
kéo dài 2 giờ. Khi tăng tỉ lệ HPMC lên 20%, lớp vỏ bao vẫn
nguyên vẹn sau 6 giờ thử giải phón. Sự hydrat hóa polyme ảnh hưởng mạnh mẽ
tới mức độ phân giải pectin của enzym pectinase. Pectin đã bị hydrat hóa sẽ bị

40C, RH 75% trong 6 tháng [30].
Nhằm phát triển dạng thuốc chứa MTZ giải phóng tại đại tràng, M. A. Narsa
và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu các viên dạng cốt, dạng đa lớp và viên bao
với chất mang là pectin. Kết quả thử giải phóng in vitro cho thấy viên đa lớp không
kiểm soát được tốc độ giải phóng dược chất ở dạ dày và ruột non. Viên bao kết hợp
chitosan và pectin kiểm soát được sự giải phóng dược chất ở dạ dày và ruột non. Tỷ
lệ lớp vỏ bao pectin và chitosan càng lớn thì khả năng bảo vệ dược chất càng cao.
Sau 12 tháng bảo quản ở điều kiện thường (25
o
C, độ ẩm 40%), viên bao không bị
thay đổi về hình thức và khả năng kiểm soát giải phóng dược chất. Như

vậy, việc
sử dụng pectin kết hợp cùng chitosan có thể kiểm soát được sự giải phóng dược
chất ở dạ dày và ruột non, đảm bảo dược chất chỉ giải phóng ở đại tràng [36].
Như vậy, để bào chế dạng thuốc giải phóng tại đại tràng có thể áp dụng
nhiều phương pháp sử dụng các tín hiệu khơi mào giải phóng dược chất tại đại tràng
khác nhau như: pH, thời gian thuốc di chuyển, áp suất thẩm thấu và hệ vi sinh vật
trong đại tràng. Trong đó, sử dụng cơ chế giải phóng nhờ hệ vi sinh vật đại tràng có
ưu điểm vượt trội về tính đặc hiệu do phương pháp này sử dụng enzym của các vi
sinh vật đại tràng khơi mào quá trình giải phóng dược chất. Để đánh giá khả năng
kiểm soát giải phóng dược chất, viên bao thường được thử hòa tan trong các môi
trường mô phỏng các điều kiện trong đường tiêu hóa như: 2 giờ đầu trong dung dịch
HCl pH 1,2; 3 giờ tiếp theo trong dung dịch đệm phosphat pH 7,4 và các giờ tiếp
theo trong dung dịch đệm phosphat pH 6,8 có thêm enzym pectinase hoặc vi khuẩn
đại tràng Bacteroides ovatus. Tuy nhiên, trước khi tiến hành định lượng hoạt chất
trong mẫu thử hòa tan, cần loại bỏ tế bào vi khuẩn Bacteroides ovatus trong mẫu
bằng phương pháp ly tâm đển đảm bảo tính chính xác của kết quả phân tích.
14


Trích đoạn Ảnh hưởng của thời gian sau ủ xuất một số tiêu chuẩn chất lượng cho viên bao metronidazol giải phóng tạ Ảnh hưởng của tỉ lệ pectin:HPMC K100M Ảnh hưởng của kích thước bột bao và nồng độ dung dịch tá dược dính Ảnh hưởng của quy trìn hủ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status