Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Ngày 7 tháng 11 năm 2006, Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO).
Vấn đề quan trọng khi Việt Nam gia nhập WTO là tạo điều kiện thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, xây dựng và hoàn thiện thể chế
kinh tế, giải phóng hơn nữa sức sản xuất của các thành phần, đẩy mạnh tự do
hoá các hoạt động kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp.
Các nhà nghiên cứu và ngay cả doanh nghiệp đã chỉ ra lợi ích lớn nhất của
việc gia nhập WTO là thị trường xuất khẩu cho Việt Nam rộng mở. Hàng hóa
Việt Nam xuất đi nước ngoài sẽ được cạnh tranh bình đẳng với các đối thủ khác,
không còn vướng nhiều rào cản về thuế, hạn ngạch... như hiện nay nữa. Ngoài
ra, gia nhập WTO sẽ tạo động lực thúc đẩy Việt Nam cải cách mạnh hơn các
luật lệ cho phù hợp với thông lệ chung của quốc tế. Qua đó tạo lập môi trường
kinh doanh bình đẳng và thông thoáng cho mọi thành phần kinh tế.
Điều các doanh nghiệp lo ngại nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO phải xóa
bỏ bảo hộ và họ sẽ phải chịu áp lực cạnh tranh mạnh hơn từ bên ngoài. Nhưng
cạnh tranh sẽ sàng lọc những doanh nghiệp kém hiệu quả, hiện đang là gánh
nặng cho nền kinh tế và buộc các doanh nghiệp khác phải tự hoàn thiện mình để
vươn lên. Đồng thời, nó còn tạo cơ hội cho doanh nghiệp và người tiêu dùng sử
dụng hàng hóa, dịch vụ với giá rẻ, qua đó kích thích nhu cầu tiêu thụ trong nước,
làm cho kinh tế phát triển.
Đánh thuế nhập khẩu cao để bảo hộ cũng là một cách gián tiếp đánh thuế
vào xuất khẩu, làm cho năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam bị
giảm. Hơn nữa, ngay cả chính trong thị tương nội địa, các mặt hàng sản phẩm và
dịch vụ của Việt Nam cũng phải chịu những thách thức cạnh tranh với hàng hoá
nước ngoài ồ ạt tràn vào. Bên cạnh đó còn là một loạt rào cản về các chính sách,
cam kết và các lộ trình thực hiện khắt khe hơn rất nhiều.
Tuy nhiên, con đường tham gia vào sân chơi chung toàn cầu là tất yếu khách
quan , không thể không bước tới. Việc chỉ rõ những cơ hội và thách thức, đồng
thời xem xét chúng trong mối mâu thuẫn biện chứng để thấy được sự thống nhất
đối lập và tuỳ điều kiện cụ thể diễn ra cuộc đấu tranh giữa chúng.
II- Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển:
Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là hai xu hướng tác động khác
nhau của các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn. Như vậy mâu thuẫn biện chứng
bao hàm cả “sự thống nhất” lẫn “đấu tranh” của các mặt đối lập. Trong đó, sự
thống nhất gắn liền với sự đứng im, với sự ổn định tạm thời của sự vật. Sự đấu
tranh gắn liền với tính tuyệt đối của sự vận động và phát triển.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trong sự tác động qua lại của các mặt đối lập thì đấu tranh giữa các mặt đối
lập quy định một cách tất yếu sự thay đổi của các mặt đang tác động và làm cho
mâu thuẫn phát triển. Lúc đâu mới xuất hiện, mâu thuẫn chỉ là sự khác nhau căn
bản, nhưng theo khuynh hướng trái ngược nhau. Sự khác nhau ngày càng phát
triển và đi đến đối lập. Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện,
chúng sẽ chuyển hoá lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết. Nhờ đó mà thể thống
nhất cũ được thay thế bằng thể thống nhất mới, sự vật cũ mất đi sự vật mới ra
đời thay thế.
Tuy nhiên, nếu không có thống nhất giữa các mặt đối lập thì cũng không có
đấu tranh giữa chúng. Thông nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là không thể
tách rời nhau trong mâu thuẫn biện chứng. Sự vận động và phát triển bao giờ
cũng là sự thống nhất giữa tính ổn định và tính thay đổi của sự vật. Do đó, mâu
thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động và phát triển.
III- Phân loại mâu thuẫn :
- Căn cứ vào quan hệ đối với sự vật được xem xét, người ta phân biệt các
mâu thuẫn thành mâu thuẫn bên trong và bên ngoài.
Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, khuynh hướng đối
lập của cùng một sự vật.
Mâu thuẫn bên ngoài đối với một sự vật nhất định là mâu thuẫn diễn ra trong
mối quan hệ giữa sự vật đó với các sự vật khác.
Mâu thuẫn bên trong có vai trò quyết định trực tiếp đối với quá trình vận
mõu thun c gii quyt, s vt bin i v phỏt trin, cỏi mi ra i thay th
cỏi c.
IV- ý ngha phng phỏp lun:
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (hay quy luật mâu thuẫn)
là quy luật cơ bản nhất của phép biện chứng. Đó là hạt nhân của phép biện chứng,
vì vậy việc nghiên cứu quy luật này có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc nhận thức
và trong hoạt động của con ngời.
Do mâu thuẫn là nguồn gốc của vận động và biến đổi nên muốn nhận thức
đợc bản chất của sự vật, trớc hết phải nhận thức đợc mâu thuẫn của nó.
Quá trình nhạn thức mâu thuẫn cũng là quá trình phân tích mâu thuẫn. Phân
tích mâu thuẫn là xác định rõ loại của mâu thuẫn, trình độ phát triển của mâu
thuẫn để từ đó tìm ra phơng pháp giải quyết thích hợp. Chỉ khi phân tích rõ đợc
mâu thuẫn mới có thể định ra đờng lối chiến lợc hoặc sách lợc đúng đắn. Nhận
định không đúng về mâu thuẫn sẽ dẫn đến những quyết sách sai lầm.
Mâu thuẫn là khách quan, điều kiện cụ thể để giải quyết mâu thuẫn cũng là
khách quan. Vì vậy, việc giải quyết mâu thuẫn phải tuỳ thuộc vào những điều
kiện, hoàn cảnh cụ thể, phải tránh t tởng nôn nóng, áp đặt khi giải quyết mâu
thuẫn. Chỉ khi nào có đủ các điều kiện chín muồi, mâu thuẫn mới có thể đợc giải
quyết.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chương II: Cơ hội và thách thức của Việt Nam
khi gia nhập WTO
I) Vài nét về WTO:
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO): Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
ra đời ngày 1/1/1995. Tiền thân của WTO là Hiệp định chung về Thương mại và
Thuế quan (GATT), thành lập 1947. Trong gần 50 năm hoạt động, GATT là
công cụ chính của các nước công nghiệp phát triển nhằm điều tiết thương mại
hàng hóa của thế giới…
WTO là kết quả của Vòng đàm phán Uruguay kéo dài 8 năm (1987 – 1994),
để tiếp tục thể chế hóa và thiết lập trật tự mới trong hệ thống thương mại đa
ngày càng được tự do hoá nhiều hơn.
- Gia nhập WTO sẽ mang đến cho Việt Nam những nguồn lực mới và cơ hội
mới để mở rộng thị trường xuất khẩu, đa dạng hoá các mối kinh tế-thương mại,
tăng khả năng thu hút đầu tư nước ngoài... giúp Việt Nam tham gia vào việc xây
dựng một hệ thống thương mại đa biên bình đẳng, không phân biệt đối xử và
cùng có lợi. Tạo môi trường thông thoáng minh bạch, tuân thủ các nguyên tắc
quốc tế.
Nhưng liệu việc mở rộng thị trường đồng nghĩa với việc mở cửa cho các
doanh nghiệp nước ngoài ồ ạt tràn vào ồ ạt mang lại cơ hội thực sự hay không?
Bởi mở cửa thị trường đồng nghĩa với sự cạnh tranh gay gắt ở cả thị trường
trong nước và thị trường ngoài nước. Những người sản xuất hàng hóa và cung
cấp dịch vụ của nước ta kể cả trong lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp đều
phải chấp nhận sự cạnh tranh gay gắt với hàng hóa và dịch vụ của các thành viên
WTO không chỉ ở thị trường thế giới mà ở cả thị trường trong nước. Khả năng
cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ta hiện nay nói chung và của từng doanh
nghiệp nói riêng còn nhiều yếu kém. Những yếu tố chủ yếu quyết định năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp như: năng suất lao động, hiệu quả sản xuất,
kinh doanh, trình độ khoa học công nghệ, năng lực quản lý, tổ chức thị trường
và tiếp thị v.v... còn hạn chế.
Lợi thế cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa
trên nguồn lao động rẻ và tài nguyên thiên nhiên sẵn có, song những lợi thế này
đang có xu hướng giảm nhanh. Vì vậy, sự đương đầu với các doanh nghiệp lớn
của các thành viên WTO phát triển có sức cạnh tranh mạnh là thách thức lớn
nhất với các doanh nghiệp Việt Nam. Trong khi đó quy mô doanh nghiệp của
nước ta nhỏ bé, công nghệ phần lớn còn lạc hậu so với trình độ trung bình của
thế giới, năng suất lao động thấp, sản phẩm làm ra có giá thành cao; nhất là thiếu
những sản phẩm mang tính độc đáo, hoặc tính duy nhất trên thị trường...
- Việt nam sẽ có cơ hội thực sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới, được hưởng
đối xử bình đẳng và các ưu đãi thương mại cho một nước đang phát triển ở trình
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đã có sự chuyển biến theo định hướng về lợi thế năng lực cạnh tranh khu vực và
quốc tế, hình thành các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp và khu
chế xuất tập trung để hạ thấp giá thành và tạo điều kiện áp dụng khoa học công
nghệ hiện đại hơn trong sản xuất và đầu tư.
- Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật và thể chế kinh tế thị
trường, cải cách hành chính và cải cách doanh nghiệp nhà nước. Nhiều kết quả