Website: Email : Tel (: 0918.775.368
MỤC LỤC
A – GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI -------------------------------------------------------------------- 4
B – NỘI DUNG CHÍNH ----------------------------------------------------------------------- 6
I. Cơ sở của việc nghiên cứu --------------------------------------------------------- 6
1. Cơ sở lý luận ------------------------------------------------------------------ 6
1.1. Bản chất con người ------------------------------------------------ 6
1.2. Nguồn lực con người ---------------------------------------------- 11
2. Cơ sở thực tế ------------------------------------------------------------------ 14
II. Thực trạng các vấn đề nghiên cứu ---------------------------------------------- 14
1. Truyền thống con người Việt Nam --------------------------------------- 14
1.1. Tích cực ------------------------------------------------------------- 15
1.2. Hạn chế -------------------------------------------------------------- 16
1.3. Nguyên nhân của thực trạng ------------------------------------- 17
2. Nhân cách con người Việt Nam ------------------------------------------- 18
2.1. Tích cực ------------------------------------------------------------- 18
2.2. Hạn chế -------------------------------------------------------------- 19
2.3. Nguyên nhân của thực trạng ------------------------------------- 20
3. Nguồn lực con người -------------------------------------------------------- 20
3.1. Tích cực ------------------------------------------------------------- 21
3.2. Hạn chế -------------------------------------------------------------- 22
3.3. Nguyên nhân của thực trạng ------------------------------------- 23
III. Những giải pháp để phát huy nguồn lực con người ------------------------ 24
1. Trên lĩnh vực kinh tế -------------------------------------------------------- 24
2. Trên lĩnh vực chính trị ------------------------------------------------------ 25
3. Trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng ------------------------------------------- 25
C – KẾT LUẬN --------------------------------------------------------------------------------- 27
D – TÀI LIỆU THAM KHẢO --------------------------------------------------------------- 28
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
huy được vai trò của mình với tư cách là người chủ xã hội. Việt Nam là một nước
kém phát triển, muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội cần phát huy có hiệu
quả nguồn lực con người của đất nước. Nghiên cứu về vấn đề con người có rất
nhiều mặt, trong giới hạn bài viết này xin được nghiên cứu con người và nguồn lực
con người trên các phương diện:
- Truyền thống con người Việt Nam hiện nay
- Nhân cách con người Việt Nam hiện nay
- Nguồn lực con người
Trên cơ sở nghiên cứu ba vấn đề trên ta thấy được vai trò của con người và
nguồn lực con người trong quá trình xây dựng nền kinh tế mới.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
B – NỘI DUNG CHÍNH
I. Cơ sở của việc nghiên cứu
1. Cơ sở lí luận
1.1. Bản chất con người
Những vấn đề triết học về con người là một nôi dung lớn trong lịch sử triết
học nhân loại. Tùy theo điều kiện lịch sử của mỗi thời đại mà nổi trội lên vấn đề
này hay vấn đề kia. Đồng thời, tùy theo giác ngộ tiếp cận khác nhau mà các trường
phái triết học, các nhà triết học trong lịch sử có những phát hiện, đóng góp khác
nhau trong việc lí giải về con người. Mặt khác, trong khi giải quyết những vấn đề
trên, mỗi nhà triết học, trường phái triết học có thể lại đứng trên lập trường thế giới
quan, phương pháp luận khác nhau: duy vật hoặc duy tâm, biện chứng hoặc siêu
hình, …
- Triết học phương Đông tiêu biểu là nền triết học Trung Hoa cổ đại, vấn
đề bản tính con người là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Giải quyết vấn đề này,
các nhà tư tưởng của Nho gia và Pháp gia đã tiếp cận từ giác độ hoạt động thực tiễn
chính trị, đạo đức của xã hội và đi đến kết luận bản tính con người là thiện (Nho
gia) và bản tính con người là bất thiện (Pháp gia). Các nhà tư tưởng Đạo gia, ngay
một hạn chế cơ bản là phiến diện trong phương pháp tiếp cận lí giải các vấn đề triết
học về con người. Do vậy trong thực tế lịch sử đã tồn tại lâu dài quan niệm trừu
tượng về bản chất con người và những quan niệm phi thực tiễn trong lí giải nhân
sinh, xã hội cũng như những phương pháp hiện thực nhằm giải phóng con người.
Kế thừa những quan điểm trước đó và khi phê phán quan điểm của Phoiơbắc, Mác
đã khái quát bản chất con người qua câu nói : “Phoiơbắc hòa tan bản chất tôn giáo
vào bản chất con người. Nhưng bản chất con người không phải là cái trừu tượng cố
hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng
hòa các quan hệ xã hội ”. Mác đã đưa ra một quan niệm hoàn chỉnh về khái niệm
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
con người, bản chất con người, ông chỉ rõ hai mặt của con người là mặt sinh học và
mặt xã hội đặt trong mối quan hệ giữa chúng.
a) Bản chất sinh học của con người
Mác xem xét con người với tư cách là cá nhân sống, Mác viết: “vì vậy điều
cụ thể đầu tiên phải xác định là tổ chức cơ thể của những cá nhân ấy và mối quan
hệ mà tổ chức cơ thể ấy tạo ra giữa họ và phần còn lại của giới tự nhiên”. Trước
hết, Mác thừa nhận con người là một động vật cao cấp nhất. Cũng như mọi động
vật khác, con người là bộ phận của tự nhiên hay nói cách khác, giới tự nhiên là
thân thể vô cơ của con người nên con người chịu sự chi phối của các quy luật khách
quan. Trong đó có những quy luật sinh học (đồng hóa – dị hóa, biến dị - di truyền,
tương quan giữa cơ thể và môi trường…). Và cùng điều kiện khách quan đã tạo nên
những nhu cầu sinh học của con người như ăn, ngủ, giao tiếp, nhận thức, duy trì nòi
giống … Để thích nghi và tồn tại được, cũng như bao loài vật khác con người cũng
phải đấu tranh sinh tồn. Từ đó đã định ra phương hướng và mục đích hoạt động của
con người nhằm phục vụ lợi ích cho mình. Tuy nhiên, Mác không thừa nhận quan
điểm cho rằng: cái duy nhất tạo nên bản chất con người là đặc tính sinh học và bản
năng sinh vật của con người. Con người có đầy đủ các đặc trưng của sinh vật tuy
nhiên cũng lại có nhiều điểm phân biết với các sinh vật khác. Trước Mác cũng đã
trong hoạt động sản xuất vật chất. Trong hoạt động sản xuất vật chất con người
không thể tách khỏi xã hội. Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản
xuất ra của cải vật chất và tinh thần để phục vụ cho đời sống của mình, đồng thời
hình thành và phát triển ngôn ngữ. Ngôn ngữ chính là cái vỏ vật chất của tư duy và
tư duy cũng chính là điểm phân biệt con người và các loài động vật khác. Tư duy
của con người phát triển trong hoạt động và giao tiếp xã hội mà trước hết là hoạt
động sản xuất. Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
của con người, đồng thời hình thành nên nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã
hội.
- Con người là sản phẩm của các mối quan hệ xã hội
C. Mác đã nêu luận đề của mình trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc:
“Bản chất của con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân
riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng hòa những
quan hệ xã hội ”.
Luận đề trên đã khẳng định: không có con người trừu tượng thoát li mọi điều
kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội. Con người luôn luôn cụ thể, xác định, sống trong
một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định. Trong điều kiện lịch
sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người đã tạo ra những giá trị vật chất
và tinh thần để tồn tại và phát triển cả về thể lực và tư duy trí tuệ. Chỉ trong mối
quan hệ đó (như quan hệ giai cấp, dân tộc, thời đại, quan hệ chính trị, kinh tế, quan
hệ cá nhân, gia đình, xã hội…) con người mới bộc lộ bản chất xã hội của mình. Từ
đó, con người có các nhu cầu xã hội được đáp ứng trên nền tảng đáp ứng nhu cầu
sinh học của con người.
Kết luận: Mặt thứ hai của bản chất con người đó là tổng hòa của những quan
hệ xã hội, giúp cho chúng ta nhận thức đúng đắn, tránh khỏi cách hiểu sai lệch về
mặt tự nhiên - cái sinh vật ở con người.
c) Con người là thực thể thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội
- Tư tưởng tôn giáo cho rằng mọi sự biến đổi trong xã hội là do ý chí của
đấng tối cao, là do “mệnh trời”, ý chí đó là do cá nhân thực hiện.
- Chủ nghĩa duy tâm cho rằng lịch sử nhân loại là lịch sử của các bậc vua
chúa, anh hùng hào kiệt, thiên tài lỗi lạc. Còn quần chúng nhân dân chỉ là lực lượng
tiêu cực, là “phương tiện” mà các vĩ nhân cần đến để đạt mục đích của mình.
- Những nhà tư tưởng đề cao vai trò của quần chúng nhân dân nhưng
không nhận thức được một cách khoa học vai trò đó. Có người đề cao vai trò của
quần chúng nhân dân nhưng lại phủ nhận hoàn toàn vai trò của cá nhân đặc biệt.
- Chủ nghĩa duy vật trước Mác tuy không tin vào Thượng Đế, thần linh
nhưng lại cho rằng: nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội là tư tưởng, đạo
đức, là các vĩ nhân sớm nhận thức được chân lý vĩnh cửu.
- Còn chủ nghĩa Mác – Lênin đã chứng minh một cách khoa học vai trò của
quần chúng nhân dân trong lịch sử và xác định đúng đắn mối quan hệ giữa vai trò
cá nhân điển hình là lãnh tụ với quần chúng nhân dân trong lịch sử phát triển cảu xã
hội.
Quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo chân chính ra lịch sử, được thể hiện
ở các mặt:
- Quần chúng nhân dân là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội, trực tiếp
sản xuất ra của của cải vật chất, là cơ sở của sự tồn tại và sự phát triển của của xã
hội.
Con người muốn tồn tại thì phải có những điều kiện vật chất hết sức cần thiết
đáp ứng nhu cầu ăn, mặc, ở… mà những nhu cầu đó chỉ có thể đáp ứng thông qua
sản xuất. Lực lượng sản xuất cơ bản là đông đảo quần chúng nhân dân lao động
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
12