Phỏt triển nhượng quyền thương mại của cỏc doanh nghiệp Việt Nam
Thực trạng và giải pháp
MỤC LỤC
M C L CỤ Ụ ............................................................................................................... 1
L I M UỜ Ở ĐẦ ......................................................................................................... 2
CH NG I: KH I QU T CHUNG V NH NG QUY N TH NG M IƯƠ Á Á Ề ƯỢ Ề ƯƠ Ạ
................................................................................................................................... 1
CH NG II: NH NG QUY N TH NG M I T I VI T NAMƯƠ ƯỢ Ề ƯƠ Ạ Ạ Ệ ............31
CH NG III: NH NG GI I PH P PH T TRI N NH NG QUY NƯƠ Ữ Ả Á ĐỂ Á Ể ƯỢ Ề
TH NG M I T I VI T NAMƯƠ Ạ Ạ Ệ ........................................................................68
K T LU NẾ Ậ ............................................................................................................94
DANH M C C C T I LI U THAM KH OỤ Á À Ệ Ả ...................................................95
Trịnh Minh Hằng Lớp A1-K42A-KT&KDQT
Phỏt triển nhượng quyền thương mại của cỏc doanh nghiệp Việt Nam
Thực trạng và giải pháp
LỜI MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài
Khái niệm Franchise còn khá mới mẻ đối với Doanh nghiệp Việt Nam.
Có lẽ nhiều người cũng đã từng nghe qua thuật ngữ này hoặc cụm từ Nhượng
quyền kinh doanh hay Nhượng quyền thương mại nhưng hiểu sâu hơn và đủ
tự tin để áp dụng cho doanh nghiệp mình thì hiện nay không nhiều. Franchise
chỉ xuất hiện ở Việt Nam hơn 10 năm trở lại đây song được khởi nguồn ở Mỹ
từ giữa thế kỷ 19 và tới nay và có mặt ở mọi nơi trên thế giới. Nhượng quyền
thương mại được coi là “Một trong các phát minh vĩ đại nhất của chế độ tư
bản phương Tây” và là “xu thế của tương lai”, đem lại cho kinh tế thế giới
hàng nghìn tỷ USD mỗi năm. Sở dĩ kinh doanh theo mô hình Franchise được
ngợi ca như vậy vì nó đã được chứng minh là một phương thức kinh doanh an
toàn và hiệu quả, giúp chủ thương hiệu mở rộng thị phần, khuyếch trương
thương hiệu của mình một cách nhanh nhất mà không phải bỏ ra nhiều chi phí
còn bên nhận chuyển nhượng lại có cơ hội được khai thác thương hiệu nổi
tiếng, thừa hưởng mô hình quản lý với chi phí và rủi ro thấp. Nhượng quyền
Phỏt triển nhượng quyền thương mại của cỏc doanh nghiệp Việt Nam
Thực trạng và giải pháp
trạng kinh doanh Franchise tại Việt Nam. Đề xuất một số giải pháp phát triển
hình thức Franchise tại Việt Nam.
4- Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài dựa trên phương pháp luận nghiên cứu của chủ nghĩa Mác – Lê
Nin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Ngoài ra đề tài còn áp dụng các
phương pháp nghiên cứu khác như: Phương pháp phân tích tại bàn, phương
pháp tổng hợp, thống kê , phương pháp so sánh, diễn giải và quy nạp.
5- Kết cấu của luận văn
Chương 1: Lý luận chung về Franchise
Chương 2: Tình hình nhượng quyền thương mại tại Việt Nam
Chương 3: Những giải pháp để phát triển nhượng quyền thương mại tại
Việt Nam.
Do thời gian và nguồn tài liệu còn hạn chế , khóa luận của người viết
không tránh khỏi những thiếu sót, người viết rất hy vọng nhận được sự quan
tâm đóng góp của thầy cô và các bạn.
Qua đây, tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới
TS. Nguyễn Văn Hồng người đã hết lòng nhiệt tình chỉ bảo và hướng dẫn để
tôi có thể hoàn thành khóa luận này.
Trịnh Minh Hằng Lớp A1-K42A-KT&KDQT
Phỏt triển nhượng quyền thương mại của cỏc doanh nghiệp Việt Nam
Thực trạng và giải pháp
Trịnh Minh Hằng Lớp A1-K42A-KT&KDQT
Phỏt triển nhượng quyền thương mại của cỏc doanh nghiệp Việt Nam
Thực trạng và giải pháp
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHƯỢNG
QUYỀN THƯƠNG MẠI
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Nhượng quyền thương mại.
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, hình thức sơ khai của lối kinh doanh
Franchise trở thành phương thức kinh doanh thịnh hành, thành công không
chỉ tại Hoa Kỳ mà còn ở những nước phát triển khác như Anh, Pháp... Sự lớn
mạnh của những tập đoàn xuyên quốc gia của Hoa Kỳ và một số nước Châu
Âu trong lĩnh vực kinh doanh thức ăn nhanh, khách sạn-nhà hàng đã góp phần
“truyền bá” và phát triển Franchise trên khắp thế giới. Ngày nay, Franchise đã
có mặt tại hơn 150 nước trên thế giới, riêng tại Châu Âu có khoảng 200 ngàn
cửa hàng kinh doanh theo phương thức nhượng quyền.
Nhận thấy lợi ích, hiệu quả của phương thức kinh doanh này, nhiều
quốc gia đã có các chính sách khuyến khích phát triển Franchise. Hoa Kỳ là
quốc gia đầu tiên luật hoá Franchise và có các chính sách ưu đãi cho những cá
nhân, doanh nghiệp kinh doanh theo phương thức Franchise. ngay từ những
năm 1990 Luật Nhập cư của Mỹ đã bổ xung một điều khoản mới có kiên quan
đến Franchise, đó là bất kể người nước nào mua Franchise tại Mỹ với số vốn
đầu tư từ 500.000 đến 1000.000 đô la Mỹ và thuê ít nhất 10 công nhân địa
phương sẽ được cấp thị thực thường trú tại Mỹ [6].
Trịnh Minh Hằng Lớp A1-K42A-KT&KDQT
2
Phỏt triển nhượng quyền thương mại của cỏc doanh nghiệp Việt Nam
Thực trạng và giải pháp
Vào thời điểm 1994, 35% tổng số doanh thu bán lẻ tại nước Mỹ là từ các
cửa hàng nhượng quyền. Đến năm 2000, tỷ lệ này tăng lên đến 40% , tạo việc
làm cho hơn 8 triệu người (cứ 7 công dân trong độ tuổi lao động thì có một người
làm việc trong các công ty, cơ sở có liên quan đến Franchise và ngày nay, công
nghệ Franchise hàng năm mang lại cho nước Mỹ hơn 600 tỷ USD doanh số, trên
52 tiểu bang của nước Mỹ đã có luật bắt buộc bất kỳ công ty nào muốn tham gia
vào thị trường chứng khoán đều phải có đăng ký nhượng quyền. Cứ mỗi 8 phút
lại có một cửa hàng Franchise ra đời, hay nói khác đi, mỗi ngày có tổng cộng 180
cửa hàng Franchise khai trương trên nước Mỹ [5]. Với tốc độ và đà phát triển
chóng mặt của mô hình kinh doanh Franchise tại Mỹ cũng như nhiều quốc gia có
nền kinh tế phát triển trên thế giới, các doanh nghiệp riêng lẻ với thương hiệu độc
châu á đã tạo doanh thu hơn 500 tỷ USD mỗi năm. (Miguel Pardo de Zela,
tham tán thương mại Đại sứ quán Mỹ tại VN)
Tại Nhật Bản, NQTM phát triển mạnh từ năm 1996, đến năm 2004 đã
có 1.074 hệ thống NQTM và 220.710 cửa hàng kinh doanh theo hình thức
NQTM, doanh thu từ hệ thống này vào khoảng 150 tỉ USD, tăng trưởng hàng
năm 7%.
Từ năm 1980, NQTM vào Trung Quốc. Sau khi Trung Quốc gia nhập
WTO, hơn 50 ngành nghề đã áp dụng quy trình chuyển nhượng. Đến năm
2004, nước này đã có 2.100 hệ thống nhượng quyền (nhiều nhất thế giới), với
120.000 cửa hàng nhượng quyền trong 60 lĩnh vực khác nhau. Biểu đồ tăng
trưởng hoạt động nhượng quyền của Trung Quốc dựng đứng kể từ khi nước
Trịnh Minh Hằng Lớp A1-K42A-KT&KDQT
4
Phỏt triển nhượng quyền thương mại của cỏc doanh nghiệp Việt Nam
Thực trạng và giải pháp
này gia nhập WTO. Từ năm 2000, bình quân mỗi năm hệ thống nhượng
quyền tăng 38% vượt xa mức tăng trưởng 10%/năm của hàng tiêu dùng, các
cửa hàng nhận nhượng quyền tăng 55% [19]. Đặc biệt, hệ thống NQTM của
doanh nghiệp Trung Quốc cạnh tranh ngang hàng với thương hiệu nhượng
quyền nổi tiếng của nước ngoài. Trung Quốc đang trở thành thị trường tiềm
năng của các thương hiệu nước ngoài như: Mc Donald's, KFC, Hard Rock
Cafe, Chilli's... đồng thời đây là cứ địa đầu tiên để các tập đoàn này bán
Franchise ra khắp Châu Á. Thông qua đó, hoạt động Franchise của Trung
Quốc trở nên ngày càng phát triển, Chính phủ Trung Quốc đã thay đổi thái độ
từ e dè chuyển sang khuyến khích, nhiều thương hiệu đang được “đánh bóng”
trên thị trường quốc tế thông qua các cuộc mua bán, sáp nhập nhằm chuẩn bị
cho kế hoạch đẩy mạnh hoạt động nhượng quyền ra bên ngoài, được xem là
một trong những động thái quan trọng để phát triển nền kinh tế vốn đang rất
nóng của Trung Quốc.
Riêng tại Đông Nam Á, kể từ thập niên 90, các quốc gia đã nhận thấy
đang tăng rất nhanh, trong đó có tới 67% thuộc khu vực doanh nghiệp vừa và
nhỏ, với số vốn ban đầu cho mỗi hợp đồng 20.000-65.000 USD.
Ngày nay, không chỉ có sự vào cuộc của các cơ quan chính phủ mà còn
có nhiều tổ chức phi chính phủ với tôn chỉ thúc đẩy phát triển, hỗ trợ và
quảng bá hoạt động Franchise đã được thành lập. Điển hình là Hội đồng
Franchise Thế giới (World Franchise Council), ra đời vào năm 1994, có thành
viên là các hiệp hội Franchise của nhiều quốc gia. Ngoài ra, một tổ chức uy
tín và lâu đời nhất là Hiệp hội Franchise Quốc tế (International Franchise
Association) được thành lập năm 1960, có khoảng 30.000 thành viên bao gồm
Trịnh Minh Hằng Lớp A1-K42A-KT&KDQT
6
Phỏt triển nhượng quyền thương mại của cỏc doanh nghiệp Việt Nam
Thực trạng và giải pháp
các doanh nghiệp bán, mua Franchise. Thông qua các tổ chức này, nhiều hoạt
động có ích cho doanh nghiệp, cho các nền kinh tế quốc gia đã được thực hiện
như:
- Tổ chức các hội chợ Franchise quốc tế
- Xây dựng niên giám Franchise khu vực, và trên toàn thế giới
- Hợp tác xuất bản các ấn phẩm chuyên ngành, các website để cung cấp
thông tin cho mọi cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp quan tâm đến Franchise...
- Tư vấn, hỗ trợ, hợp tác và phát triển phương thức kinh doanh
Franchise.
Franchise đang phát triển với tốc độ chóng mặt ở hầu hết các quốc gia
trên thế giới, công nghệ Franchise cũng đã bắt đầu nóng lên tại Việt Nam
trong 4-5 năm trở lại đây, nhất là trong tiình hình hiện nay khi Việt Nam đã
bước chân vào Tổ chức Thương Mại Thế Giới WTO, các thương hiệu lớn
quốc tế đã tràn vào thị trường nội địa và ít nhiều sẽ làm thay đổi thói quen và
cách suy nghĩ của cả người tiêu dùng lẫn các doanh nghiệp. Vai trò của
thương hiệu chắc chắn sẽ lớn hơn nhiều, dẫn theo sự lên ngôi của mô hình
kinh doanh Franchise
o mở rộng ở phạm vi trong nước và quốc tế;
o phát triển mô hình và việc áp dụng
1.2. Khái niệm Nhượng quyền thương mại
NQTM là một hình thức kinh doanh đã được nhiều nước trên thế giới
áp dụng. Đã có nhiều khái niệm được nêu ra của nhiều trường phái khác nhau
nhằm giải thích, hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện họat động kinh doanh
Trịnh Minh Hằng Lớp A1-K42A-KT&KDQT
8
Phỏt triển nhượng quyền thương mại của cỏc doanh nghiệp Việt Nam
Thực trạng và giải pháp
nhượng quyền đạt hiệu quả. Tuy nhiên, do sự khác biệt về quan điểm và môi
trường kinh tế, chính trị, xã hội giữa các quốc gia, nên các khái niệm này
thường khác nhau.
Các khái niệm dưới đây được chọn lọc dựa trên sự khác nhau trong
việc quản lý điều chỉnh các hoạt động NQTM của một số nước tiêu biểu, có
thể phân chia các nước trên thế giới thành bốn nhóm nước như sau:
(i) Nhóm các nước với hệ thống pháp luật bắt buộc (hoặc khuyến khích
sự tự nguyện) công khai chi tiết nội dung của thoả thuận NQTM.
(ii) Nhóm các nước với hệ thống pháp luật khuyến khích sự tự nguyện,
công bố chi tiết nội dung của thoả thuận NQTM.
(iii) Nhóm các nước có luật cụ thể, điều chỉnh hoạt động NQTM.
(iv) Nhóm các nước điều chỉnh hoạt động NQTM theo luật về chuyển
giao công nghệ.
Dựa trên 4 nhóm nước này, ta có một số khái niệm nhượng quyền tiêu
biểu sau đây:
•
Hiệp hội nhượng quyền kinh doanh Quốc tế (The International
Franchise Association), hiệp hội lớn nhất nước Mỹ và thế giới đã định nghĩa
nhượng quyền kinh doanh như sau:
"Nhượng quyền kinh doanh là mối quan hệ theo hợp đồng, giữa Bên
công nghiệp và sở hữu trí tuệ liên quan tới nhãn hiệu hàng hóa, tên thương
mại, biển hiệu cửa hàng, giải pháp hữu ích, kiểu dáng, bản quyền tác giả, bí
quyết, hoặc sáng chế sẽ được khai thác để bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch
Trịnh Minh Hằng Lớp A1-K42A-KT&KDQT
10
Phỏt triển nhượng quyền thương mại của cỏc doanh nghiệp Việt Nam
Thực trạng và giải pháp
vụ tới người sử dụng cuối cùng". Nhượng quyền kinh doanh có nghĩa là việc
chuyển nhượng quyền kinh doanh được định nghĩa ở trên.
•
Luật Mêhicô đề cập tới lợi ích của việc nhượng quyền kinh doanh về
mặt hỗ trợ kỹ thuật (technical assistance) và nhấn mạnh tới việc chuyển giao
"kiến thức kỹ thuật" (technical knowledge) để bán sản phẩm, hoặc dịch vụ
đồng bộ và có chất lượng. Luật sở hữu công nghiệp của Mêhicô có hiệu lực từ
6/1991 quy định:
"Nhượng quyền kinh doanh tồn tại khi với một li-xăng cấp quyền sử
dụng một thương hiệu nhất định, có sự chuyển giao kiến thức công nghệ hoặc
hỗ trợ kỹ thuật để một người sản xuất, chế tạo, hoặc bán sản phẩm, hoặc cung
cấp dịch vụ đồng bộ với các phương pháp vận hành (operative methods), các
hoạt động thương mại, hoặc hành chính đã được chủ thương hiệu (brand
owner) thiết lập, với chất lượng (quality), danh tiếng (prestige), hình ảnh của
sản phẩm, hoặc dịch vụ đã tạo dựng được dưới thương hiệu đó."
Định nghĩa này phản ánh một phần quan điểm của Mêhicô là một nước
đang phát triển có nhu cầu rất lớn trong việc nhập khẩu công nghệ và bí quyết
kinh doanh từ nước ngoài.
•
Ở Nga, thỏa thuận nhượng quyền kinh doanh được định nghĩa là "Sự
NQTM" (commercial concession). Chương 54, Bộ luật dân sự Nga định nghĩa
bản chất pháp lý của "sự NQTM" như sau:
"Theo Hợp đồng NQTM, một bên (bên có quyền) phải cấp cho bên kia
Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo phương
thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với
Trịnh Minh Hằng Lớp A1-K42A-KT&KDQT
12
Phỏt triển nhượng quyền thương mại của cỏc doanh nghiệp Việt Nam
Thực trạng và giải pháp
nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu
kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;
Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền
trong việc điều hành công việc kinh doanh.
Theo quan điểm của người viết, nhượng quyền kinh doanh tại Việt
Nam, nên được định nghĩa như sau:
Nhượng quyền kinh doanh là một hoạt động thương mại, trong đó một
bên (người có quyền ), với một khoản thù lao, cho phép bên kia (người nhận
quyền) quyền độc lập phân phối hàng hoá và dịch vụ theo phương thức và hệ
thống được xây dựng, bởi người có quyền và với sự kiểm soát và trợ giúp
đáng kể và thường xuyên của người có quyền; và quyền được sử dụng một
tập hợp các quyền độc quyền, gắn liền với hệ thống nói trên, như quyền đối
với các chỉ dẫn thương mại, quyền đối với bí mật thương mại, quyền đối với
nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ...
Định nghĩa này được xây dựng với mục đich xác định rõ:
- Phạm vi điều chỉnh: điều chỉnh các hoạt động phân phối hàng hoá và
dịch vụ, không điều chỉnh các hoạt động liên quan đến li xăng công nghiệp
( li xăng pa tăng...).
- Trách nhiệm của bên có quyền: phải có phương thức và hệ thống, phải
có sự kiểm soát và trợ giúp đáng kể và thường xuyên nhằm bảo đảm chất
lượng hàng hoá và dịch vụ do bên nhận quyền cung cấp, phải có và cấp quyền
sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ.
- Trách nhiệm của bên nhận quyền; hoạt động kinh doanh độc lập và
chịu trách nhiệm về hoạt động của mình
Nhà sách
Dịch vụ kinh doanh
Kinh doanh môi giới
Kinh doanh cắm trại
Dịch vụ tài chính
Sản phẩm hoá học
Dịch vụ trẻ em
Quần áo và giày dép
Vi tính/điện tử
Cửa hàng tạp hoá
Mỹ phẩm
Dịch vụ tìm bạn bốn phương
Tiệm thuốc tây
Sản phẩm và dịch vụ giáo dục
Dịch vụ giới thiệu việc làm
Cửa hàng bán hoa
Thực phẩm: bánh ngọt, bánh
nướng
Thực phẩm: kẹo, bắp rang, thức
ăn nhanh
Thực phẩm: kem, sữa chua
15
In ấn/photocopy
Xuất bản
Dịch vụ bất động sản
Giải trí: cung cấp hàng
Giải trí: thể thao, dịch vụ
Cho thuê trang thiết bị
Cửa hàng bán lẻ chuyên
dụng
Cửa hàng bán lẻ đa dụng
Hệ thống an ninh
Sửa giày
Dịch vụ mua sắm
Sản phẩm và dịch vụ bảng hiệu
Kính màu
Dịch vụ kho bãi
Dịch vụ viễn thông
Đồ ngũ kim
Dịch vụ chuyên chở
Đại lý du lịch
Cho thuê đồng phục
Kinh doanh và cho thuê
video/audio
Cửa hàng sinh tố và khoáng chất
Máy điều hoà nước
1.3.3. Các phương thức nhượng quyền
(hoặc một số) mô hình dịch vụ nhất định mang thương hiệu riêng. Sau đó, bên
nhượng quyền cho phép bên nhận quyền được cung ứng các dịch vụ này ra thị
trường theo mô hình và với thương hiệu của bên nhượng quyền.
c. Nhượng quyền phân phối
Trong nhượng quyền phân phối, mối quan hệ giữa bên nhượng quyền
và bên nhận quyền có những điểm gần giống như mối quan hệ giữa nhà sản
xuất và nhà phân phối, tức là bên nhượng quyền sản xuất ra các sản phẩm sau
đó bán lại sản phẩm cho bên nhận quyền và bên nhận quyền sẽ phân phối trực
tiếp sản phẩm tới người tiêu dùng dưới thương hiệu của bên nhượng quyền.
Đối với hình thức nhượng quyền phân phối sản phẩm, bên mua Franchise
thường không nhận được sự hỗ trợ đáng kể nào từ bên bán Franchise (chủ
thương hiệu hay đại lý độc quyền) ngoại trừ việc được phép sử dụng tên nhãn
hiệu (trade mark), thương hiệu (trade name), biểu tượng (logo), khẩu hiệu
(slogan) và phân phối sản phẩm hay dịch vụcủa bên chủ thương hiệu trong
một phạm vi khu vực và thời gian nhất định. Điều này có nghĩa là bên mua
Franchise sẽ quản lý, điều hành cửa hàng nhượng quyền của mình khá độc
lập, ít bị những quy định ràng buộc từ bên bán Franchise. Bên mua Franchise
trong trường hợp này thậm chí có thể chế biến cung cách phục vụ và kinh
doanh theo ý mình.. Hình thức nhượng quyền này tương tự với kinh doanh
cấp phép (licensing) mà trong đó chủ thương hiệu quan tâm nhiều đến kết quả
phân phối sản phẩm của mình hơn là hoạt động hàng ngày hay tiêu chuẩn
chính thức của cửa hàng nhượng quyền. Do đó, mối quan hệ giữa bên bán và
bên mua Franchise là mối quan hệ nhà cung cấp và nhà phân phối có thể dễ
dàng nhận thấy nhượng quyền phân phối thường gặp trong các lĩnh vực như
phân phối mỹ phẩm (Hệ thống cửa hàng phân phối mỹ phẩm VICHY,
LO'REAL...) hay phân phối nhiên liệu cho các loại xe máy, xe ô tô (cửa hàng
phân phối dầu nhờn CASTROL, CALTEX, EXXON) và phổ biến nhất tại
phương Tây là các trạm xăng dầu, các đại lý bán ô tô và các công ty chuyên
sản xuất nước giải khát như Coca-cola hay Pepsi
1.3.3.2. Căn cứ theo tính chất mối quan hệ giữa bên nhượng và nhận
unit Franchise cho doanh nhân Muhammad Jamarin Salleh tại một địa điểm
khu vực Kota Bharu Kelantan. Cửa hàng McDonald’s của Muhammad hoạt
động rất hiệu quả nên sau đó Muhammad được ký hợp đồng mở thêm 2 cửa
hàng Franchise nữa, một ở Kuantan và một ở Kota Bharu.
b. Nhượng quyền phát triển khu vực (Area-development Franchise)
Đây là phương thức mua Franchise vừa có những đặc trưng của master
Franchise vừa có những đặc trưng của single-unit Franchise Cụ thể là người
mua Franchise trong trường hợp này được cấp độc quyền cho một khu vực
hay một thành phố nhỏ trong một thời gian nhất định, tuy nhiên không được
phép bán Franchise cho bất cứ ai. Dưới hình thức này, ít chủ thương hiệu nào
chịu bán cho phạm vi một tỉnh, thành phố hay một quốc gia. Người mua area
development Franchise cũng bị ràng buộc trong hợp đồng là phải mở bao
nhiêu cửa hàng trong vòng mấy năm, nếu không thực hiện được sẽ bị chủ
thương hiệu cắt hợp đồng và rút quyền kinh doanh). Trong một số trường
hợp, sau một thời gian kinh doanh tốt, người mua area development Franchise
có thể xin chuyển hợp đồng thành master Franchise nếu muốn bán Franchise
lại cho người thứ 3.
Người mua Franchise dưới hình thức area development Franchise
thường được yêu cầu thanh toán trước một khoản tiền để được độc quyền mở
cửa hàng trong một khu vực hay thành phố nào đó, giao động từ 5000-
10.000USD cho một cửa hàng tuỳ tầm cỡ và quy mô của mỗi hệ thống
Franchise. Ví dụ, nếu tổng số cửa hàng tiềm năng mà chủ thương hiệu ước
tính có thể mở tại một khu vực hay một thành phố nào đó là 5 thì mức phí cho
hợp đồng area development Franchise trong trường hợp này sẽ là 5 x 5.000 =
25.000 USD
Hầu như tất cả các thương hiệu Franchise lớn của thế giới vào Việt
Nam đều thông qua con đường master Franchise hoặc area development
Franchise. Điển hình là các thương hiệu chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh KFC,
Jolibee, Loterria và sắp tới đây là Pizza Hut, McDonald’s. Người mua