Niềm tin tôn giáo trong đạo Phật của người Việt - Pdf 29

Phạm Thị Thương Lớp K48 Tâm Lý học
PHẦN 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế –xã hội dường như tôn giáo, tín
ngưỡng đang có xu hướng hồi phục và phát triển. Theo khảo sát của các công trình
nghiên cứu của ban tôn giáo chính phủ, viện nghiên cứu tôn giáo cho thấy: số
lượng các tín đồ của các tôn giáo đang không ngừng tăng lên, hoạt động tín ngưỡng
dân gian cũng diễn ra hết sức sôi động ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa lẫn các
đô thị lớn (5;1). Lý giải cho điều này, phần lớn các ý kiến đều cho rằng “do đời
sống của đa số dân cư ngày càng được cải thiện và nâng cao, người dân có điều
kiện tốt hơn để thoả mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần. Tuy nhiên kinh tế thị
trường cũng tạo ra hàng loạt các vấn đề xã hội khác như: tình trạng thất nghiệp, phá
sản, cạnh tranh gay gắt, ô nhiễm môi trường, các tệ nạn xã hội như: ma tuý, mại
dâm, làm ăn theo kiểu chụp giật… những khó khăn bế tắc đẩy con người đến
những stress và khủng hoảng trong cuộc sống. Họ tìm cách giải toả bằng các hình
thức khác nhau. Nhu cầu giải toả tâm lý, tìm chỗ dựa tinh thần. Việc cúng lễ của
người dân ngày một cao hơn, kể cả những người là tín đồ và không phải là tín đề
(Lê Minh Thiện – Viện nghiên cứu tâm lý). Nhưng sự phục hồi và phát triển của tín
ngưỡng tôn giáo đang gây ra những vấn đề phức tạp. Bên cạnh những đóng góp
tích cực của các tổ chức tôn giáo và các cộng đồng cùng tín ngưỡng vào tín trình
bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc, chống lại sự xâm thực của các luồng văn hoá
ngoại lai trong xu thế hội nhập quốc tế củng cố tình đoàn kết dân tộc thì vẫn xuất
hiện và tồn tại một số nhóm, cộng đồng tín ngưỡng tôn giáo đã bị thế lực thù địch,
các tổ chức chính trị phản động lợi dụng để chống phá và chia rẽ khối đại đoàn kết
dân tộc ở nước ta và nhằm mục đích tuyên truyền mê tín dị đoan. Mặc dù trong bối
cảnh chung đó dưới sự định hướng của Đảng và Chính phủ đạo phật ở nước ta vẫn
phát triển mạnh mẽ và có những đóng góp quan trọng trong việc xây dựng, rèn
luyện nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển.
Niềm tin tôn giáo trong đạo Phật của người Việt Nam
1
Phạm Thị Thương Lớp K48 Tâm Lý học

Việt. Tuy nhiên các tín đồ đi theo Đạo Phật có phải vì niềm tin vào sự hiện hữu của
đức phật, các bậc thần tiên hay không vẫn là một câu hỏi lớn cho các nhà nghiên
cứu cũng như các nhà khoa học quan tâm. nhằm tìm hiểu và trả lời cho câu hỏi này,
tôi thực hiện để tài nghiên cứu “Niềm tin tôn giáo trong đạo Phật của người Việt”.
2. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ
TÀI
2. 1. Mục đích.
Mục đích của niên luận là đưa ra một kết luận có ý nghĩa về niềm tin tôn
giáo của các tín đồ trong Đạo Phật. Từ đó đưa ra kiến nghị một số giải pháp nhằm
phát huy những ảnh hưởng tích cực và khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của
niềm tin tôn giáo đỗi với sự phát triển của cá nhân và cộng đồng, xã hội.
2. 2 Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích nêu trên, đề tài cần phải thực hiện được
nhữngnhiệm vụ cụ thể sau:
 Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến đề tàI
 Tim hiểu niềm tin tôn giáo biểu hiện trong đạo phật thông qua một số
tài liệu có liên quan
 Chỉ ra những ảnh hưởng tích cực va tiêu cực của niềm tin tôn giáo
trong đời sống của cá nhân, cộng đồng, xã hội. Từ đó đưa ra nhưng giải pháp cụ thể
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài niên luận này là “ Niềm tin tôn giáo” được
biểu hiện trong Đạo Phật.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vấn đề niềm tin tôn giáo là một trong những vấn đề được rất nhiều ngành
khoa học quan tâm trong đó nổi bật là các ngành khoa học tôn giáo, triết học, dân
tộc học, văn hoá học, tâm lý học… Do đặc điểm của đề tài này là nghiên cứu niềm
tin tôn giáo trong đạo phật thể hiện ở góc độ khoa học tâm lý. Cụ thể là ở khía cạnh
Niềm tin tôn giáo trong đạo Phật của người Việt Nam
3
Phạm Thị Thương Lớp K48 Tâm Lý học

giác ngộ có nghĩa là đã phát hiện được nguyên nhân của nỗi đau nhân thế và cách
vứt bỏ nó Ông lấy hiệu là Buddha. Người ta gọi ông là Sakia – Muni nghĩa là thích
ca Muni và cũng có nghĩa là nhà hiền triết của xứ Sakia (6. 7) và theo lịch sử của
Phật giáo, thế giới hiện hành từ trước năm 544 nhưng đây là lấy năm Phật nhập
Niết Bàn làm lễ kỷ niệm gọi là ngày Phật đản. Chính ra phải thêm 80 năm
Niềm tin tôn giáo trong đạo Phật của người Việt Nam
5
Phạm Thị Thương Lớp K48 Tâm Lý học
“544+80” là 624 năm. Thuyết 624 năm thuộcmột trong 15 thuyết cổ truyền đã tìm
ra từ đời trước. Tính đến năm 2006 thì đạo phất đã có 2550 năm lịch sử. Và là một
tôn giáo lớn có ảnh hưởng rất lớn ở Ấn Độ và các vùng trên thế giới.
2. Giáo lý cơ bản của Đạo Phật
Phật giáo vừa là một tôn giáo, vừa là một trào lưu triết học, trong đó triết học
phật giáo là cơ sở cho những giáo lý Đạo Phật.
Triết học phật giáo là một hệ thống phức tạp, nó đề cập đến nhiều vấn đề của
giới tự nhiên, xã hội và tư duy. Trong triết học phật giáo chứa đựng cả những quan
niệm duy vật và quan niệm duy tâm, đặc biệt nó đã xây dựng được phương phap
biện chứng sâu sắc. theo đánh giá của Angghen; tư duy biện chứng của duy vật có
rất sớm ở các nhà triết học duy vật HiLạp cổ đại và ở các tín đồ của phật giáo sơ
kỳ.
Nếu coi phật giáo là một tôn giáo giải thoát và việc giải thoát gắn với vai trò
của con người thì giáo lý cơ bản của phật giáolà “Tứ diệu đế” và “Niết Bàn”. Vì tứ
diệu đế lý giải vấn đề khổ và sự diệt khổ, và diệt khổ là để đến thế giới niết bàn.
- Tứ diệu đế được phật giáo coi là 4 chân lý hay 4 nền tảng, gồm khổ
đế, tập đế, diệt đế và đạo đế.
- Khổ đế: phật giáo coi cuộc đời của con người là khổ, theo quan niệm
này “cái khổ” bao gồm cả cái khổ và cái vui của đời sống trần tục, vì cái vui cũng
chỉ là giả tạm. cho nên nghĩa chung của chữ khổ ở đây là “ Vô thường”. Phật giáo
cũng đã cố gắng chỉ ra những cái khổ của đời sống trần tục và quy nó vào “bát
khổ” (tám cái khổ). Đó là: sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, sở cầu bất đắc khổ (muốn

đường lớn và con đường nhỏ của sự thoát khổ. Nếu xem xét từ những nguyên nhân
dẫn tói cái khổ thì co con dường của hoạt động hiện thực, con đường của nhận thức
và con đường của việc thực hành các giới luật. Nếu xem xét con đường thoát khổ từ
mối quan hệ giữa con người với các vị Phật (với tư cách là đấng siêu nhiên thần
Niềm tin tôn giáo trong đạo Phật của người Việt Nam
7
Phạm Thị Thương Lớp K48 Tâm Lý học
thánh ) thì có con đường của sự tự lực (ở đây Phật chỉ là phương tiện ) và con
đường cua thế lực (ở đây Phật là thần thánh có thể trợ giúp cho con người trong
việc thoát khổ).
- Niết bàn; Niết bàn được Phật giáo coi là trạng thái vắng lặng, tịch diệt,
nếu con người đạt tới thì sẽ sống an nhiên tự tại, vô ngã vị tha. Đây là một trạng
thái lý tưởng. Về cơ bản có hai cách giải thích về sự tồn tại của niết bàn :cách thứ
nhất cho rằng niết bàn tồn tại ở nơi mà sau khi con người ta chết nếu tu hành đắc
đạo linh hồn sẽ đựơc siêu thoát về thế giới Niết bàn. Niết bàn ở đay cũng co nhiều
bậc khác nhau. Theo cách hiểu thông thường của các tín đồ theo đạp phật thì cho
rầng đó là tây phương cực lạc. cách giải thích thú hai cho răng Niết bàn có thể tồn
tại ngay tại thế giói trần tục. (sinh tử là niết bàn, Niết bàn là sinh tử) con người có
thể đạt tới trạng thái Niết bàn này khi con người đã loại được “tham, sân, si’ khi
con người đã loại thoát khỏi vô minh, và sống an nhiên tụ tại, vô ngã vị tha, ... Như
vậy ở cách giải thích thứ nhất nó chủ yếu hướng con người tói thế giói siêu nhiên, ở
cách hiểu thứ hai nó chủ yếu hướng con người vào đòi sống trần tục trên quan niêm
phật giáo.
Đối lập với Niết bàn là Địa nguc, việc giải thich về địa ngục cũng giống như
sự giải thích về sự tồn tại của Niết ban. vậy xét đến cùng thì theo cách nói của phật
giáo la “rốt ráo ‘thì chăng có Địa ngục hay niết bàn. Do vậy lý thuyết về niết bàn và
địa ngục chủ yéu có giá trị về mật hướng thiện.
3. Phật giáo ở Việt Nam
Hiện nay, phật giáo có khoảng trên 300 triệu tín đồ, phân bố chủ yếu ở Đông
Á, Nam Á và Đông Nam Châu Á. Và đang có xu thế lan rộng sang Châu Âu và

càng vào phía trong lại chia ra làm nhiều tông phái : Đại thùa, TIểu thùa, Khất sĩ,
phật giáo cổ truyền (6;8)
Niềm tin tôn giáo trong đạo Phật của người Việt Nam
9
Phạm Thị Thương Lớp K48 Tâm Lý học
Cho đến nay, phật giáo là tôn giáo có ảnh hưởng sâu rộng nhất, có số lượng
tín đồ đông đảo nhất ở Việt Nam. Theo số liệu của Ban tôn giáo Chính Phủ thì số
lượng tín đồ phật tử xuất gia khoảng 3 triệu người, số thường xuyên đến chùa tham
gia các phạt sự khoảng 10 triệu người, còn số chịu ảnh hưởng của phật gần gũi và
thân thiết với người Việt Nam đến nỗi dường như một người Việt Nam bất kỳ, nếu
không theo tôn giáo nào thì ắt hẳn theo phật. Pho tượng lớn đồng lớn nhất được đúc
trong thời kỳ hiện đại cũng là tượng phật. Đó là tượng phật A_DI_Đà cao 4m,
trọng lượng tính cả toà sen la 14 tấn, pho tượng do phường đúc đồng Ngũ xã thực
hiện trong 3 năm (1949-1952) hiện đặt ở chùa Thần Quang ở làng Ngũ Xã (Hà
Nội) (3 ;463 ).
Theo thống kê của UBMTTQVN cả nước có 13. 923 ngôi chùa. Số tỉnh,
thành phố có số lượng chùa cao nhất tập trung ở vùng Đồng Bằng Sông Hồng xung
quan Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, vùng Khơme. Số tỉnh ít chùa tập trung chủ
yếu ở miền ngược. Và vốn có đầu óc thực tế, người Việt Nam coi trọng việc sống
phúc đức, trung thực hơn là đi lễ chùa “thứ nhất tu tại gia, thứ nhì tu tại chợ, thứ ba
tu tại chùa. “dù xây chín bậc phù đồ, không bàng làm phúc cứu cho một người (ca
dao). Coi trọng truyền thống thờ cha mẹ ông bà hơn thờ phật “tu đâu cho bằng tu
nhà, thờ cha kinh mẹ mói là chân tu. Người Việt Nam đã đồng hoá ông bà, cha mẹ
mình vói các bậc thánh thần.
Những nét khái quát trên về đạo phật đã cho thấy rằng Đạo phật không còn
là Đạo phật của ấn Độ hay Trung Hoa nũa mà là Đạo phật của người Việt Nam,
phù hợp với lối sống, văn hoá và hoàn cảnh của người Việt Nam. Cùng với những
tín ngưỡng như; tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, Đạo mẫu …hay các tôn giáo như; Nho
giáo, Đạo giáo, Kyto giáo… Phật giáo đã và đang góp phần không nhỏ trong việc
giáo dục và rèn luyện nên nhân cách cho người Việt. Tạo nên những nét đặc sắc

Niềm tin tôn giáo trong đạo Phật của người Việt Nam
11
Phạm Thị Thương Lớp K48 Tâm Lý học
động sống của con người. Hệ thống niềm tin đó thể hiện sự phản ánh thế giới trong
nhận thức của con người. Hệ thống niềm tin đó là sự phản ánh hư ảo về những lực
lượng bên ngoài, thống trị con người trong cuộc sống hàng ngày. Sự phản ánh
trong đó các lực lượng trần thế đã mang hình thức của các lực lượng siêu trần thế.
Tôn giáo là một phần không thể thiếu được trong đời sống tinh thần của con người.
2. Niềm tin tôn giáo
2.1 Khái niệm niềm tin
Theo tác giả Nguyễn Đăng Duy “niềm tin là sự tín nhiệm, khâm phục ở một
con người với một con người, một sự việc, một học thuyết, một tôn giáo được thể
hiện ra bằng hành động theo một lẽ sống” trong định nghĩa này, Nguyễn Đăng Duy
mới chỉ ra được đối tượng của niềm tin tôn giáo và hình thức biểu hiện của niềm tin
mà chưa chỉ ra được thành phần cấu tạo của niềm tin cũng như ảnh hưởng của nó
đến đời sống của con người.
Niềm tin là định hướng giá trị được xác định vững chắc trong nhận thức và
chi phối hành động của cá nhân. Niềm tin có vai trò hết sức quan trọng đối với con
người. Nó không chỉ tác động đến trí tuệ mà còn tác động đến tình cảm, nó có thể
làm thay đổi ý thức, động cơ và lối sống của cá nhân. Đối với bất kỳ tôn giáo nào
niềm tin tôn giáo bao giờ cũng chiếm vị trí trung tâm.
Với cách tiếp cận sinh học thì R. V. Berxoi cho rằng “niềm tin tôn giáo mang
tính di chuyền đặc biệt, chúng có cơ sở sinh học nằm trong cấu trúc của vỏ não và
mang tính vô thức. Còn Sfeud đã giảI thích nguồn gốc tôn giáo bằng “mặc cảm
Odip”
Như vậy các nhà tâm lý theo khuynh hướng sinh học đã giải thích niềm tin
tôn giáo như hiện tượng mang tính bản năng và vô thức. Quan niệm này bị các nhà
tâm lý học Maxit phản đối.
Ở góc độ tâm lý học, PGS. TS Nguyễn Ngọc Phú cho rằng “niềm tin là sự
hoà quyện một cách hữu cơ giữa kiến thức “sự hiểu biết”, tình cảm, ý chí và mang

13

Trích đoạn nghĩa của niềm tin trong đạo phật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status