chính sách xóa đói giảm nghèo ở địa phương - Pdf 29

Niên luận năm 3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghèo đói đang là một vấn đề nóng bỏng luôn được thế giới quan tâm.
Cùng với sự phát triển của quá trình toàn cầu hóa, nền kinh tế thế giới đã có
bước chuyển biến mạnh mẽ, đời sống của người dân khắp các quốc gia đã
được nâng lên rõ rệt. Nhưng bên cạnh đó đói nghèo vẫn là vấn đề xã hội bức
xúc của các quốc gia trên thế giới. Số liệu điều tra cho thấy mỗi ngày trên thế
giới có đến 35000 trẻ em phải chết vì những căn bệnh có thể chữa khỏi bằng
các phương pháp dinh dưỡng và sự chăm sóc y tế sơ đẳng nhất. Các quốc gia
phát triển, giàu có cũng không tránh khỏi điều đó. Liên minh một nước có tỉ
lệ nghèo đói cao châu âu (EU) có 12% số hộ sống dưới mức nghèo. Tại Hợp
chủng quốc Hoa Kỳ những năm 80 của thế kỷ 20 đã có thêm 4 triệu trẻ em rơi
vào cảnh bần hàn. Nhưng nạn nghèo đói đặc biệt nghiêm trọng ở các quốc gia
đang phát triển. Việt Nam cũng nằm trong bối cảnh như vậy. Trên thực tế, từ
sau đại hội đại biểu lần thứ VI (T12/1986) toàn Đảng, toàn dân tiến hành công
cuộc đổi mới và đã đạt được thành tựu đáng kể. Cũng chính sự thay đổi đó đã
khiến nhiều người Việt Nam có thể cải thiện được cuộc sống của mình hay
bắt đầu sự cải thiện đó. Các cá nhân, hộ gia đình và các tổ chức kinh tế, xã hội
cũng như các công ty ngày càng kiểm soát được nguồn lực phát triển. Song
song với điều đó là sự có mặt ngày càng tăng của các loại hàng hóa dịch vụ.
Tuy vậy ở nước ta vẫn tồn tại những yếu kém nhất định về kinh tế xã hội: một
số nhóm lại không ở vị thế tốt để có thể tận dụng được các thị trường và kiểm
soát nguồn lực. Sự thay đổi của nền kinh tế đã gây nên sự chênh lệch ngày
càng lớn giữa các giai tầng xã hội. Vì vậy trong xã hội xuất hiện sự chênh
lệch giữa nhóm giàu và nhóm nghèo. Nhóm giàu tập chung chủ yếu ở đô thị.
Nhóm nghèo tập chung chủ yếu ở nông thôn, trung du, miền núi. Hiện nay ở
Việt Nam mức nghèo vẫn chiếm tỷ lệ cao. Theo báo cáo về tình hình phát
triển quốc tế của ngân hàng thế giới (WB), Việt Nam vẫn đứng thứ 19 kể từ
nước nghèo nhất (1999). Qua nguồn số liệu điều tra mức sống dân cư ở Việt
SVTH: Hồ Thị Ánh Tuyền - Lớp : CTXHK32

xã Lộc Trì – huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế - thực trạng, nguyên nhân
SVTH: Hồ Thị Ánh Tuyền - Lớp : CTXHK32
2
Niên luận năm 3
và giải pháp. Nhằm làm rỏ hơn về những khó khăn, thực trạng nghèo đói của
người dân nơi đây, từ đó có thể đóng góp một phần nào đó vào công cuộc
XĐGN của địa phương.
2. Ý nghĩa nghiên cứu vấn đề
2.1. Ý nghĩa lý luận
Việc nghiên cứu là cơ sở lý luận khoa học vân dụng những kiến thức đã
học vào các hoạt đông thực thực tiễn một cách có hiệu quả, là nền tảng cho
các hoạt động nghề nghiệp cho bản thân.
Kết quả nghiên cứu góp phần hướng sự quan tâm phù hợp của đảng và
nhà nước đối với vấn đề nghèo đói
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua kết quả nghiên cứu được có thể giúp cho xã hội nhìn nhận
một cách toàn diện về đói nghèo. Đặc biệt là các cán bộ chuyên môn trong
công tác xóa đói giảm nghèo.
Ngoài ra vấn đề nghiên cứu giúp cho nhà nước hoạch định điều chỉnh,
bổ sung cho các chính sách xóa đói giảm nghèo cho quốc gia nhằm phát triển
ổn định bền vững.
3. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Kể từ khi đất nước độc lập, vấn đề giảm nghèo được nhà nước rất quan
tâm. Chính sách xóa đói giảm nghèo được nhà nước soạn thảo và áp dụng với
nhiều đối tượng phù hợp với đặc điểm, tình trạng và nguyên nhân nghèo đói.
Hiện nay có các dự án, chương trình nhằm hỗ trợ cho các địa phương nghèo
trên cả nước được áp dụng rất đa dạng với mục tiêu là nâng cao chất lượng
cuộc sống cho người dân trong công đồng. Vấn đề nghèo đói hiện nay đang là
một đề tài đang được rất nhiều nhà khoa học quan tâm, nhiều nhà xã hội
nghiên cứu.

Mô tả chung về nghèo đói tại xã Lộc Trì và từ đó đề xuất một số giải
pháp nhằm góp phần vào công tác xóa đói giảm nghèo ở địa phương.
SVTH: Hồ Thị Ánh Tuyền - Lớp : CTXHK32
4
Niên luận năm 3
5.2. Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu nhu cầu của người dân.
- Tìm hiểu được những nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng đến công
cuộc của địa phương.
- Các vấn đề nội tâm trong cuộc sống của con người.
- Dự báo xu hướng thay đổi của địa phương.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1.Phương pháp thu thập thông tin
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã sử dụng một số phương pháp
thu thập thông tin như: quan sát, phỏng vấn, đọc và phân tích tài liệu.
6.1.1.Phương pháp quan sát
Trong thời gian thực tế, làm việc với người dân ở địa phương, tôi đã
tiến hành quan sát, vãng gia, từ đó rút ra các điều kiện ảnh hưởng trực tiếp
hay gián tiếp đến địa phương việc quan sát này rất có ý nghĩa trong việc thu
thập thông tin để đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề đang tồn tại
của địa phương.
6.1.2. Phương pháp phỏng vấn
Đề tài đã tiến hành phỏng vấn trao đổi ý kiến với lãnh đạo xã và người
dân nhằm hiểu rõ sâu hơn về vấn đề nghèo đói.
6.1.3. Phương pháp đọc và phân tích tài liệu
Tiến hành thu thập, đọc và phân tích một số tài liệu, bài viết liên quan
trên báo chí, các tài liệu thống kê của thôn xã.
6.2. Phương pháp phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và rủi ro
 Điểm mạnh: là những năng lực hoặc thuận lợi mà phía cộng đồng có,
là nội lực bên trong của người dân.

Nông nghiệp là: 627,6 ha
Lâm nghiệp: 5177 ha
Nuôi trồng thủy sản: 11,5 ha
Khí hậu và nhiệt độ
Khí hậu tương đối mát mẻ, trong một năm có hai mùa rõ rệt là mùa
mưa và mùa nắng.
Nhiệt độ trung bình của năm là từ 25-26
0
C, tháng cao nhất là tháng 6
nhiệt độ là 35
0
C, thấp nhất là vào mùa đông là 15
0
C. Nhiệt độ tương đối ổn
định, phù hợp với sự thích nghi của người dân nơi đây. Tạo điều kiện thuận
lợi cho việc sản xuất nông nghiệp, trồng rừng và nuôi trồng thủy sản.
Địa hình:
Đây được xem là một khu vực trời phú, vừa có núi vừa có đầm phá. Tại
đây có vườn quốc gia Bạch Mã có độ cao 1450m so với mực nước biển, Bạch
Mã có khí hậu mát mẻ như ở Đà Lạt, Tam Đảo, động thực vật rất phong phú
SVTH: Hồ Thị Ánh Tuyền - Lớp : CTXHK32
7
Niên luận năm 3
và đa dạng, ngoài ra còn có các thác như: Nhị Hồ, Thủy điện, phục vụ cho
phát triển du lịch ở địa phương.
Ngoài ra còn có địa điểm Khe Su được chọn để chọn để xây dựng cáp
treo nối với khu du lịch Bạch Mã, bên cạch các trụ du lịch thì địa hình nơi đây
khá là trắc trở, có đèo Phước Tượng nằm trên tuyến đường quốc lộ 1A vào
TP Đà Nẵng. Một điều thuận lợi ở đây chính là nằm gần vùng ven Cầu Hai
với diện tích là 22000 ha lớn nhất Đông Nam Á.

+ Biển là 840 tấn.
- Về nuôi tôm: diện tích nuôi tôm là 4 ha, năng suất 9 tạ/ha, sản lượng
3,6 tấn/ha.
- Công tác định canh định cư dân thủy điện ven đầm phá chỉ tiêu trong
năm 2010 là 12 hộ, hiện còn 3 hộ đã chuyển đi nơi khác; số kinh phí được hỗ
trợ để đinh canh định cư là 14,5 triệu đồng/nhà.
- Về công tác sắp xếp lại nò sáo trên đầm phá thực hiện quyết định
1135/QĐ-UBND của UBND tỉnh và quyết định của ủy ban nhân dân huyện
đã tuyên truyền, vận động, thuyết phục và phát động ra quân để giải tỏa, tổng
số 44/ 35 trộ đạt 125,7%, vượt 9 hộ theo kế hoạch tỉnh, huyện giao, sắp xếp
26 trộ, hiện còn 45 trộ, giảm 50% số trộ đã tổ chức công tác sơ kết giải tỏa nò
sáo trên đầm phá đã hoàn thành chỉ tiêu. Tổng số tiền giải tỏa, sắp xếp lại, hỗ
trợ gạo, học nghề là 1.443.368.000 đồng.
Tiểu thủ công nghiệp-dịch vụ du lịch
Hoạt động tiểu thủ công nghiệp tiếp tục có sự chuyển biến, nhà máy
gạch tuynel đã đi vào hoạt động, đã cho ra sản phảm với số lượng trên 3 triệu
viên, số công nhân hiện có 120 người, góp phần tạo công ăn việc làm cho
người lao động ở địa phương. Một số lĩnh vực khác như khai thác cát sạn,
mộc, nề, cơ khí, và vận chuyển ngày càng phát triển.
Hoạt động du lịch dịch vụ tiếp tục được chú trọng và đầu tư, nâng cấp
các tuyến đường vào Nhị Hồ, các điểm dịch vụ du lịch, tu sửa các quán để
đón khách đến thăm quan, tắm suối, số lượng khách đến thăm quan tắm suối
trong năm 2010, đặc biệt là năm có nhiều ngày kỷ niệm và lễ hội lớn diễn ra
SVTH: Hồ Thị Ánh Tuyền - Lớp : CTXHK32
9
Niên luận năm 3
nên lượng khách đến tham quan tắm suối tăng 1,7 lần so với cùng kỳ, thu hút
khoảng 17500 lượt khách.
Xây dưng cơ bản
Trong năm các công trình xây dựng trên địa bàn gồm:

mức đầu tư trong năm 2010 là 18,2 tỷ đồng.
Công tác tài chính
Thu ngân sách đã có nhiều cố gắng, trong năm 2010 đạt 5.645.554.000
đồng, đạt tỉ lệ 196% so với kế hoạch năm và bằng 99,9% so với cùng kì năm
2009. Trong đó thu tại xã là 59.300.000 đồng, đạt 102%s so với kế hoạch và
81% so với cùng kì năm 2009, cụ thể:
- Qũy QP-AN đã thu 12.400.000 đồng/ 8.000.000 đồng đạt tỉ lệ 155%
- Phí, lệ phí chứng thư đã thu là 20.000.000 đồng/15.000.000 đồng đạt
tỉ lệ 133%.
- Hoa lợi công thu 11.000.000 đồng/20.000.000 đồng đạt tỉ lệ 55%.
- Thu khác 12.000.000 đồng/12.000.000 đồng đạt tỉ lệ 100%.
- Quỹ đất 5% 3.250.000 đồng/3.000.000 đồng đạt tỉ lệ 108%.
- Thuế nhà đất 19.000.000 đông/19.000.000 đồng đạt tỉ lệ 100%.
Về hoạt động tính dụng: thực hiện chế độ làm việc tại cơ sở hàng tháng
vào ngày 14 của ngân hàng chính sách xã hội từ đó giải quyết được công việc
của các hộ vay vốn được thuận tiện hơn. Tổng số tiền dư nợ là 15,5 tỷ đồng
trong đó:
+ Ngân hàng chính sách xã hội là 7,5 tỷ đồng, gồm có 21 hộ, 655 hộ vay.
+ Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn là 8 tỷ đồng, 410 hộ vay.
1.1.4. Điều kiện văn hóa xã hội
Y tế - dân số - giáo dục và trẻ em
Cơ sở vật chất thiết bị vật chất của sở y tế được tăng cường cả về số
lượng lẫn chất lượng, đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân,
mạng lưới y tế thôn bản tiếp tục được cũng cố. Đã triển khai tháng hành động
vì vệ sinh an toàn thực phẩm, tổ chức kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm ở
các quán trên địa bàn, qua đó đã phát hiện một số quán vẫn chưa đảm bảo vệ
sinh an toàn thực phẩm. Đã cấp giấy vệ sinh an toàn thực phẩm cho 5 cơ sở.
SVTH: Hồ Thị Ánh Tuyền - Lớp : CTXHK32
11
Niên luận năm 3

việt nam 20/11 đối với các thầy,cô giáo của các trường trên địa bàn toàn xã.
SVTH: Hồ Thị Ánh Tuyền - Lớp : CTXHK32
12
Niên luận năm 3
Kết quả thi tốt nghiệp năm học 2009-2010:
- Cấp tiểu học: 205/205 em, tỷ lệ 100%.
- Cấp THCS: 173/174 em đạt tỷ lệ 99,4%.
- Cấp THPT: Trường THPT Phú Lộc đạt tỉ lệ 98,73%, riêng học sinh
Lộc Trì tỉ lệ đậu tốt nghiệp là 100%.
Văn hóa thông tin – thể dục thể thao
Đã tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao để chào
mừng các ngày lễ lớn của dân tộc; kỷ niệm 80 năm ngày thành lập cách mạng
Việt Nam; 35 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền nam thống nhất đất nước,
các hoạt động chào mừng đại hội đảng bộ lần thứ X, nhiệm kỳ 2010-2015.
Tổ chức đại hội thể dục thể thao lần thứ 2 năm 2010. Tiến hành điều tra
hiện trạng phổ cập dịch vụ điện thoại, Internet và nghe nhìn toàn quốc năm
2010 theo quyết định 420/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ đã điều tra:
Tổng số thôn điều tra: 9 thôn.
Tổng số người trong xã có điện thoại di động: 1039
Tổng số hộ trong xã có điện thoại cố định: 882, trong đó:
+ Điện thoại không dây: 449
+ Điện thoại có dây: 433
Tổng số hộ có máy vi tính: 41, trong đó số lượng máy vi tính 65; máy
vi tính có nối mạng là 26.
Số người biết dùng Internet: 118
Số người có máy thu thanh: 48
Số hộ có máy thu hình: 1296, trong đó:
+ Ti vi dùng ăng ten chảo: 24
+ Ti vi dùng ăng ten dàn: 1270
+ Ti vi dùng cáp: 02

gia công tác diễn tập công tác phòng chống lũ lụt của huyện tại Vinh Hiền,
đơn vị Lộc Trì được khen thưởng.
Về tình hình an ninh chính trị- trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tiếp
tục được duy trì và giữ vững, phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc
SVTH: Hồ Thị Ánh Tuyền - Lớp : CTXHK32
14
Niên luận năm 3
được chú trọng. Đã xây dựng thôn 3 không “không tệ nạn, không tội phạm,
không vi phạm an toàn giao thông” thôn Trung An, Phước Thượng nâng tổng
số thôn lên 9/9 thôn. Tai nạn giao thông 5 vụ, trong đó 2 vụ nghiêm trọng,
làm 2 người chết, giảm 2 vụ so với năm 2009; va quẹt nhẹ; làm bị thương 3
người; trật tự an toàn xã hội 9 vụ; phạt vi phạm hành chính 1.330.000 đồng.
Tuần tra kiểm soát trật tự an toàn giao thông 22 lượt, phát hiện 5 trường
hợp vi phạm, phạt tiền 1.730.000 đồng. Việt kiều về thăm quê 14 trường hợp.
Tuy nhiên trong thời gian qua, tình hình đánh bạc trên mạng đã có xảy ra, một
số đối tượng tại thôn Đông Lưu. UBND xã đã mời các ban nghành, đoàn thể
của thôn làm việc và nắm cụ thể tình hình để có biện pháp ngăn ngừa.
Các lĩnh vực khác
Phối hợp với UBMTTQVN tổ chức các cuộc họp thôn để lấy ý kiến
cuả nhân dân và tổ chức hội nghị lấy phiếu tín nhiệm các chức danh Chủ tịch,
Phó chủ tịch HĐND và Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND.
Tổ chức Đại hội các thôn nhiệm kỳ 2010-2013 ở 9 thôn và đã bầu ra
ban thôn mới, trong đó có 6 trưởng thôn tái nhiệm và 3 trưởng thôn mới.
Tổ chức vận động nhân dân quyên góp ủng hộ đồng bào lũ lụt bức
miền trung với số tiền là 9.400.000 đồng.
1.2. Một số khái niệm liên quan
1.2.1. Nghèo
Tại hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do
ESCAP tổ chức tại Băng Cốc ( Thái Lan ) tháng 9/1993 đã đưa ra định nghĩa
chung về đói nghèo như sau:

+ Khu vực thành thị: 25 kg gạo.
* Chuẩn nghèo giai đoạn 1998 – 2000.
Thu nhập bình quân đầu người trên 1 tháng.
+ Khu vực nông thôn,miền núi: < 15 kg gạo/ 55.000 đồng.
+ Khu vực nông thôn đồng bằng: <20 kg gạo/ 70.000 đồng.
+ Khu vực thành thị: < 25 kg gạo/ 90.000 đồng.
SVTH: Hồ Thị Ánh Tuyền - Lớp : CTXHK32
16
Niên luận năm 3
* Chuẩn nghèo giai đoạn 2001 – 2005
Thu nhập bình quân đầu người:
+ Khu vực nông thôn,miền núi: 80.000 đồng / tháng.
+ Khu vực nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng / tháng.
+ Khu vực thành thị: 150.000 đồng / tháng.
* Chuẩn nghèo giai đoạn 2006 – 2010.
Thu nhập bình quân đầu người.
+ Khu vực nông thôn: 200.000 đồng / tháng.
+ Khu vực thành thị: 260.000đồng / tháng.
( Theo quyết định của thủ tướng chính phủ Việt Nam 170/2005/QĐ –
TTG ký ngày 8 tháng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho
giai đoạn 2006 – 2010 ). Nhưng trong giai đoạn 2009 Bộ thương binh và xã
hội cũng đưa ra chuẩn nghèo mới trong năm 2009.
+ Khu vực nông thôn: < 400.000 đông / tháng.
+ Khu vực thành thị: < 500.000 đồng / tháng.
1.3. Một số lý thuyết liên quan
1.3.1. Thuyết nhu cầu
Thuyết nhu cầu của A. Maslow là thuyết đạt tới đỉnh cao trong việc
nhận dạng các nhu cầu tự nhiên của con người nói chung. Cho đến nay, chưa
có thuyết nào thay thế tốt hơn thuyết này mặc dù cũng có khá nhiều người
muốn thay thế.

80/NQ-CP về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ 2011 - 2020.
Bộ lao động, Thương binh và xã hội công bố kết quả tổng điều tra hộ
nghèo, hộ cận nghèo trên toàn quốc năm 2010 theo chuẩn nghèo mới (thu
nhập hàng tháng của hộ gia đình nghèo là 400.000 đồng trở xuống ở nông
thôn và 500.000 đồng trở xuống ở thành thị).
Theo đó, tổng số hộ nghèo cả nước là 3.055.566 hộ, hộ cận nghèo là
1.612.381 hộ. Như vậy, tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam đã giảm từ 22% năm
2005 xuống còn 9,45% năm 2010. Xét về tỷ trọng số người nghèo ở từng
vùng so với tổng số hộ nghèo trên cả nước, với 77.802 hộ nghèo, chiếm tỷ
trọng 2,55%, khu vực Đông Nam Bộ là khu vực có số lượng hộ nghèo thấp
SVTH: Hồ Thị Ánh Tuyền - Lớp : CTXHK32
18
Niên luận năm 3
nhất. Khu vực Đông Bắc Bộ có số lượng hộ nghèo lớn nhất cả nước với
581.560 hộ, chiếm 19,03%.
Điện Biên là tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất với mức 50,01%; ba tỉnh
tỷ lệ hộ nghèo từ trên 40% đến dưới 50% là Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang.
Năm tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo dưới 5% là Thành phố Hồ Chí Minh (0,01%),
Bình Dương 0,005%, Đồng Nai 1,45%, Bà Rịa – Vũng Tàu 4,35%, Hà Nội
4,97%. Cũng theo chuẩn nghèo mới, cả nước có 81 huyện nghèo thuộc 25
tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo trên 50%, trong đó bao gồm 54 huyện nghèo theo Nghị
quyết 30A năm 2008. Kết quả cuộc tổng điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo trên
toàn quốc là cơ sở để thực hiện các chính sách an sinh xã hội trong giai đoạn
2011 - 2015.
Cũng tại hội nghị, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã tổ chức giới
thiệu Nghị quyết số 80 về định hướng giảm nghèo bền vững trong giai đoạn
2011-2020 do Chính phủ cũng đã ban hành ngày 19/5.
Với chiến lược này, Chính phủ Việt Nam kỳ vọng sẽ từng bước cải
thiện và nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là ở khu vực
miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thu nhập bình quân đầu người của

số tăng cao.
Lao động dư thừa ở nông thôn không được khuyến khích ra thành thị
lao động, không được đào tạo để chuyển sang khu vực công nghiệp, chính
sách quản lý bằng hộ khẩu đã dùng biện pháp hành chính để ngăn cản nông
dân di cư, nhập cư vào thành phố.
Thất nghiệp tăng cao trong một thời gian dài trước thời kỳ đổi mới do
nguồn vốn đầu tư thấp và thiếu hệu quả vào các công trình thâm dụng vốn của
Nhà nước.
•Các nguyên nhân theo vùng địa lý
Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, cơ cấu sản xuất đa phần dựa vào nghề
nông. Đa số người nghèo sống bằng nghề nông nên dễ bị ảnh hưởng bởi thiên
tai, điều kiệnthời tiết không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.
Bên cạnh đó, khả năng đối phó và khắc phục rủi ro này của người
nghèo rất kém do nguồn thu nhập thấp, bấp bênh và khả năng tích lũy kém
nên họ khó có khả năng chống chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống
(mất mùa, thiên tai, mất nguồn lao động, mất sức khỏe,...). Với năng lực kinh
SVTH: Hồ Thị Ánh Tuyền - Lớp : CTXHK32
20
Niên luận năm 3
tế mong manh của các hộ gia đình nghèo trong khu vực nông thôn, những đột
biến này sẽ tạo ra những bất ổn trong cuộc sống của họ và tất nhiên người
nghèo thì càng nghèo hơn.
Ngoài ra người nghèo chủ yếu sản xuất nông nghiệp năng suất thấp do
không có trình độ áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. khả năng nâng
năng suất là rất khó khăn trong khi do áp lực của đô thị hóa ngày càng mạnh,
diện tích đất canh tác ngày càng thu hẹp.
Những tác động của chính sách vĩ mô đến người nghèo chưa hợp lý, tỷ
lệ đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn còn thấp. Việc phân phối lợi ích tăng
trưởng trong các nhóm dân cư gồm cả các nhóm thu nhập phụ thuộc vào đặc
tính của tăng trưởng chưa hợp lý. Thông thường, người giàu hưởng lợi từ tăng

khu vực nông thôn do phải chịu nhiều rủi ro không lường trước được như
thiên tai, dịch bệnh, sâu bọ hay giá nông sản thấp.
Những người nghèo là những người thường có trình độ học vấn thấp, ít
có cơ hội kiếm được việc làm tốt và ổn định. Mức thu nhập của họ hầu như
chỉ đủ để đảm bảo cho nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu và do vậy không có điều
kiện nâng cao trình độ của mình trong tương lai để thoát nghèo.
Trình độ học vấn thấp làm hạn chế khả năng kiếm việc làm trong các
khu vực khác, trong các ngành phi nông nghiệp, những công việc mang lại
thu nhập cao và ổn định. Các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu đô thị
mới ngày càng phát triển ở khu vực ngoại thành là cơ hội cho người dân sống
nơi đây nhưng đồng thời đây cũng là thách thức lớn đối với người nghèo, bởi
lẽ do trình độ học vấn thấp họ khó có thể tìm được việc làm tốt hơn trong các
khu công nghiệp, khu chế xuất. Nếu tìm được chỗ làm cũng chỉ là lao động
phổ thông.
Người nghèo thường thiếu nhiều nguồn lực, họ bị rơi vào vòng luẩn
quẩn của sự nghèo đói và thiếu nguồn lực. Người nghèo có khả năng tiếp tục
nghèo vì họ không thể đầu tư vào nguồn nhân lực của họ, đồng thời nguồn
vốn nhân lực thấp lại cản trở họ thoát khỏi nghèo đói. Thông thường họ lựa
chọn phương án sản xuất tự cung, tự cấp, họ vẫn giữ các phương thức sản
xuất truyền thống với giá trị kinh tế thấp, thiếu cơ hội thực hiện các phương
SVTH: Hồ Thị Ánh Tuyền - Lớp : CTXHK32
22
Niên luận năm 3
án sản xuất mang lợi nhuận cao, giá trị sản phẩm và năng suất các loại cây
trồng, vật nuôi còn thấp, thiếu tính cạnh tranh trên thị trường. Xu hướng này
tất yếu dẫn tới một bộ phận không nhỏ nông dân sống ở các huyện ngoại
thành phải chuyển đổi nghề nghiệp, nhưng trên thực tế không phải nông dân
nào cũng biết cách thay đổi “phương thức sản xuất” của mình, tức là phải tăng
năng suất trên một đơn vị diện tích đất canh tác nhờ áp dụng khoa học kỹ
thuật nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế

bài bạc…). Đây là những trường rất khó để thoát nghèo cho dù cá biện pháp
chính sách có tốt đến đâu đi chăng nữa.
1.4.3. Quan điểm và mục tiêu xóa đói giảm nghèo của Việt Nam
1.4.3.1. Quan điểm của Đảng và nhà nước
Năm 1998 lần đầu tiên giảm nghèo đã trở thành một chính sách nằm
trong hệ thống chính sách xã hội của quốc gia. Từ đó đến nay, công tác xóa
đói giảm nghèo của Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định như:
luôn đạt và vượt mục tiêu đề ra qua các giai đoạn, hoàn thành vượt mức mục
tiêu thiên niên kỷ về giảm nghèo trước 10 năm…Từ năm 1992 đến năm 1998
với rất nhiều nỗ lực, tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam bình quân mỗi năm giảm từ 2
đến 3%. Đến hết năm 2010 tỷ lệ nghèo của Việt Nam là 9,45%, vượt mức
mục tiêu đề ra là 10%.
Hội nghị Trung ương lần thứ 5 (khóa VII) đã đề ra chủ trương xóa đói
giảm nghèo trong chiến lược phát triển nông thôn, nông nghiệp và nông dân
cũng như trong chiến lược phát triển chung của xã hội và đã trở thành một
chủ trương chiến lược, nhất quán, liên tục được bổ sung, hoàn thiện qua các
kỳ Đại hội của Đảng.Đại hội lần thứ VIII của Đảng một lần nữa nhấn mạnh
tầm quan trọng đặc biệt của công tác xóa đói giảm nghèo, xác định phải
nhanh chóng đưa các hộ nghèo thoát ra khỏi hoàn cảnh túng thiếu và sớm hòa
nhập với sự phát triển chung của đất nước; đề ra Chương trình quốc gia về
xóa đói giảm nghèo trong 5 năm 1996 – 2000 cùng với 10 Chương trình kinh
tế - xã hội khác.
SVTH: Hồ Thị Ánh Tuyền - Lớp : CTXHK32
24
Niên luận năm 3
Thực hiện chủ trương của Đảng, đầu năm 1998, Chính phủ chính thức
phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN (Chương trình 133) cho
giai đoạn 1998-2000. Tháng 7/1998, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục bổ sung
Chương trình 135 -Chương trình hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu các
xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Mục tiêu chính của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status