Một số đề xuất nâng cao hiệu quả hoạt động các tổ chức xúc tiến xuất khẩu chính phủ việt nam - Pdf 29

CHƯƠNG 1 - MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN 1.1. Những khái niệm liên quan
1.1.1. Khái niệm về xúc tiến XK (XTXK)
Hiện nay trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau về XTXK. Có thể tạm chia
ra làm hai loại khái niệm về XTXK: khái niệm truyền thống (khái niệm hẹp) và khái niệm
hiện đại (khái niệm rộng).
1.1.1.1. Khái niệm truyền thống về XTXK
Cách tiếp cận này xem XTXK là một "P" của Marketing hỗn hợp, bao gồm sản
phẩm (Product), giá cả (Price), phân phối (Place) và xúc tiến (Promotion). Đồng thời, chủ
thể của hoạt động XTXK là DN trong mối tương quan với khách hàng. Một số khái niệm
tiêu biểu thuộc loại này:
1) Philip Kotler [1] "Xúc tiến là hoạt động thông tin tới khách hàng tiềm năng. Đó
là các hoạt động trao truyền, chuyển tải tới khách hàng những thông tin cần
thiết về DN, sản phẩm của DN, phương thức phục vụ và những lợi ích khác mà
khách hàng có thể thu được từ việc mua sản phẩm hay dịch vụ của DN cũng như
những thông tin phản hồi lại từ phía khách hàng để từ đó, DN tìm ra cách tốt nhất
nhằm thoả mãn yêu cầu của khách hàng"
2) Theo Viện Nghiên cứu Thương mại [2], các nhà lý luận của các nước tư bản
quan niệm xúc tiến là hình thái quan hệ giữa người bán và người mua, là một
lĩnh vực hoạt động định hướng vào việc chào hàng một cách nă
ng động và hiệu
quả nhất. Các nhà kinh tế học ở các nước Đông Âu thì cho rằng xúc tiến là một công
cụ, một chính sách thương mại nhằm làm năng động và gây ảnh hưởng định hướng

Chính phủ và các tổ chức XTXK Phát triển XK
hỗ trợ thương mại (TSIs)

Quan niệm này của ITC là rất rộng và chứa đựng tất cả các biện pháp nhằm phát triển XK
trên bình diện quốc gia. Có hai loại biện pháp là gián tiếp và trực tiếp. Các biện pháp gián
tiếp nhằm cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao tính cạnh tranh bền vững cho DN
như cải thiện năng suất, chất lượng, cải cách hệ thống thuế, tài chính, hành chính, cơ sở hạ
tầng, giảm chi phí đầu vào ... Các biện pháp trực tiếp nhằm kích thích nhu cầu, bao gồm
nội dung XTXK truyền thống cùng với nỗ l
ực của chính phủ trong đàm phán hội nhập
kinh tế quốc tế.
2) G. Albaum, J. Strandskov và E. Duerr trong “Quản trị XK và Marketing quốc
tế” [5] quan niệm XTXK bao gồm các chính sách và chương trình do các tổ
chức của chính phủ thực hiện nhằm đẩy mạnh hoạt động XK. Các chương trình
này có thể được tài trợ và thực hiện một cách độc lập bởi chính phủ hoặc phối hợp giữa
chính phủ với các DN.
3) Đị
nh nghĩa của Todaro Micheal [6] "XTXK là những nỗ lực có chủ đích của
chính phủ nhằm gia tăng khối lượng XK của một quốc gia thông qua những
chính sách khích lệ và các biện pháp khác, qua đó thu được nhiều ngoại tệ để
cải thiện cán cân thanh toán quốc gia"
2

Tác giả hoàn toàn tán đồng quan điểm XTXK theo nghĩa rộng. Đó không còn là công việc

i hoá phương thức kinh doanh phù
3

hợp với xu thế mới của thương mại thế giới. Đẩy mạnh hoạt động tiếp thị, XTTM,
thông tin thị trường bằng nhiều phương tiện và tổ chức thích hợp, kể cả các cơ quan
đại diện ngoại giao ở nước ngoài. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài
nước tham gia các hoạt động môi giới, khai thác thị trường quốc tế …”[9]
e Quan điểm của chính phủ “... . Công tác thị trường, XTTM có ý nghĩa rất quan
trọng, phải được triển khai mạnh mẽ nhằm tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho
XK. Các chương trình XTTM, mở rộng thị trường cần được cụ thể hóa và gắn
với hoạt động đối ngoại, tranh thủ ngoại giao hỗ trợ việc ký kết các Hiệp định khung,
các Thỏa thuận và các Hợp đồng dài h
ạn có giá trị lớn với các quốc gia, các Tổ chức
quốc tế, các thị trường lớn để tạo đầu ra ổn định và từ đó có cơ sở cho đầu tư đổi mới
công nghệ, nâng cao giá trị nội địa hóa, giá trị gia tăng hàng XK…”[10]
Xét cho cùng, việc đồng nhất XTXK với XTTM cũng không trái với nguyên lý chung là
XTXK là một bộ phận của XTTM. Để diễn tả chính xác nội dung sự việc, tác giả v
ẫn sử
dụng thuật ngữ XTXK. Nhưng để tôn trọng nguyên tắc khách quan, tác giả sẽ giữ nguyên
cách sử dụng thuật ngữ XTTM của tài liệu được trích dẫn.
1.1.3. Xúc tiến XK và phát triển XK
Khái nịêm phát triển XK khác với XTXK ở chỗ phát triển XK nhắm đến việc sản xuất ra
các sản phẩm mới và/hoặc xâm nhập vào những thị trường mới. Mục tiêu của các hoạt
động phát triển XK là xác định các cơ hội đang có và khuyến khích sự phát triển của các

e Giúp phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại với tất cả các quốc gia trên thế giới. Như vậy,
XTXK không chỉ là một nhiệm vụ kinh tế thuần tuý nhưng thật sự là một yêu cầu cấp bách
và khách quan đối với tất cả các quốc gia đang phát triển hoặc đang trong giai đoạn
chuyển đổi kinh tế.
1.2. Phân loại xúc tiến XK
Có thể phân loại XTXK theo nội dung (thông tin, khảo sát thị trường, quảng cáo,
hội chợ, triển lãm …) hoặc chủ thể của hoạt động XTXK (DN, chính phủ, cơ quan
XTXK, các hiệp hội DN …) … Luận văn sẽ phân loại XTXK theo chủ thể của hoạt
động này.
1.2.1. Xúc tiến XK của DN
DN luôn phải giải quyết ba vấn đề quan trọng trong kinh doanh :
1) Có nên tham gia vào thị trường quốc tế không ? Điều này tuỳ thuộc tình hình
cạnh tranh trên thị trường nội địa; tình hình hội nhập kinh tế; các cơ hội mới trên
thị trường quốc tế; thông tin; vận tải …
2) Đâu là thị trường mục tiêu cho sản phẩm, dịch vụ của DN ? Đó có thể là một
quốc gia, một khu vực hoặc thị trường toàn cầu. Điều này phụ thuộc vào chiến
lược của DN.

5

3) Công ty sẽ xâm nhập thị trường mục tiêu bằng phương thức nào để đưa sản
phẩm, dịch vụ đến với người tiêu dùng ?
Dựa trên các thông tin kinh tế có độ tin cậy cao và kết quả khảo sát thị trường, các DN có
thể ra quyết định về chiến lược, chính sách phù hợp xâm nhập thị trường mục tiêu. Một Hầu hết các quốc gia ngày này đều nỗ lực mở cửa thị trường, tham gia hội nhập kinh tế
quốc tế vì những lợi ích to lớn do thương mại quốc tế mang lại. Các học thuyết lợi thế so
sánh của David Ricardo (1772 - 1823) và của E. Hecksher - B. Ohlin khẳng định thương
mại quốc tế có tính tất yếu khách quan và mang lại lợi ích cho mọi quốc gia, giàu cũng
như nghèo, tuy mức độ có khác nhau.
Chính vì thế, các t
ổ chức quốc tế ngày nay đang thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tự do hoá
thương mại và đầu tư trên phạm vi toàn cầu. Các nỗ lực XTXK của quốc tế được thực hiện
thông qua nhiều phương thức khác nhau:
1) Pháp chế hoá hoạt động thương mại quốc tế thông qua các cơ quan hàng đầu
như Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO),
Phòng Th
ương mại Quốc tế (ICC)
2) Thúc đẩy các hoạt động nhằm thuận lợi hoá môi trường thương mại quốc tế
thông qua vai trò của các cơ quan như Tổ chức Hải quan Quốc tế (WCO), Tổ
chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hoá (ISO)
3) Hỗ trợ cơ chế đối thoại, các khu vực mậu dịch tự do nhằm thúc đẩy tiến trình hội
nhập thương mại quốc tế diễn ra nhanh hơn như Diễn đàn về Thương mại và
Phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNCTAD), Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF),
Diễn dàn Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), các khu vực mậu dịch tự do như
Asean, EU, Nafta.
4) Hỗ trợ các quốc gia kém phát triển về kỹ thuật XTTM thông qua Trung tâm
Thương mại quốc tế (ITC), về tài chính thông qua Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và
Ngân hàng Thế giới (WB)
Ngoài ra, còn có s
ự tham gia tích cực của nhiều tổ chức XTXK quốc tế khác. Tất cả đã

bình đẳng đối với mọi DN, đặc biệt khuyến khích sự vương lên của các DNVVN.
WTO đã có những quy định riêng về các GTCs để hạn chế sự lạm dụng vị thế của
nó. Dưới sức ép của WTO và tình hình cạnh tranh quốc tế, chính phủ các nước buộc
phải cải tổ lại các GTCs. Sự suy yếu của các GTCs có tác động gián tiếp đến XK
của quốc gia và của các DNVVN do trước đây họ thường XK thông qua các GTCs
này.
Trong bối cảnh đó, vai trò của các DN tư nhân và DNVVN trong XK đang ngày được đề
cao. Tuy nhiên, do các DN này còn thiếu kinh nghiệm và khả năng để tự làm XTXK, do
đó họ phải dựa vào các tổ chức XTXK chính phủ, hiệp hội dianh nghiệp và các tổ chức hỗ
trợ thương mại khác. Vì thế, vai trò của các tổ chức XTXK chính phủ sẽ ngày càng trở nên
quan trọng hơn.
1.3.2. Chức năng của các tổ chức XTXK chính phủ
Các tổ chức XTXK chính phủ có thể đảm nhiệm nhiều chức năng khác nhau tuỳ theo quốc
gia, tuy nhiên chức năng chính của họ vẫn là XTXK
1) Hỗ trợ tổng quát hoạt động XK quốc gia, hỗ trợ các DN xác định sản phẩm xuất
.khẩu và thị trường tiêu thụ, tiến hành các hoạt động xúc tiến, quảng bá thương
hiệu, giúp thuận lợi hoá thương mại và các hoạt động khác liên quan.

8

2) Lãnh đạo việc phối hợp soạn thảo, theo dõi thực hiện và điều chỉnh chiến lược
XK quốc gia, thiết kế các mối liên hệ chức năng nhằm thực hiện chiến lược hiệu
quả, tư vấn cho chính phủ về chính sách thương mại hiện hành và kiến nghị
những sửa đổi nếu cần thiết.


9

Tất cả các điều kiện trên đều quan trọng, nhưng quan trọng nhất vẫn là quyền tự chủ và
ngân sách phải được đảm bảo để các tổ chức XTXK chính phủ có thể tự chủ hoàn toàn
trong hoạt động.
1.3.4. Vị trí của tổ chức XTXK trong bộ máy chính phủ
Qua khảo sát các tổ chức XTXK trên thế giới, UNESCAP đã khái quát như sau
1) 33% trong tổng số các tổ chức XTXK trực thuộc một bộ trong chính phủ. Tuy
nhiên, các tổ chức XTXK đó thường bị lệ thuộc vì nhiều ràng buộc khác nhau.
2) 10% trong tổng số các tổ chức XTXK độc lập hoàn toàn với chính phủ. Các tổ
chức XTXK này có quyền tự chủ cao trong hoạt động nhưng trong nhiều trường
hợp, họ lại thực hiện nhiều chức năng ngoài phạm vi của XTXK.
3) 7% trong tổng số các tổ chức XTXK là hoàn toàn do cộng đồng DN lập và điều
hành, có thể trực thuộc phòng thương mại hoặc hiệp hội DN. Số lượng các tổ
chức XTXK này ít vì khả năng tài trợ của các DN có hạn.
4) Phần còn lại (50%) là các tổ chức XTXK tuy vẫn do chính phủ thành lập và
được ngân sách tài trợ hoàn toàn nhưng có quyền tự chủ cao (tuy thực tế không
phải lúc nào họ cũng có quyền tự chủ hoàn toàn do thiếu kinh phí hoặc can thiệp
từ chính phủ). Đây được xem là mô hình tốt nhất hiện nay cho các tổ chức XTXK
chính phủ. Đa số các tổ chức thuộc loại này đều có mối quan hệ đặc biệt với một bộ
trong chính phủ, thường là bộ Thương Mại và/hoặc Bộ Công Nghiệp, cũng có khi là
bộ Ngoại thương, Ngoại giao hoặc Tài chính.
1.3.5. Cơ cấu tổ chức
Trong thực tế, không có một mô hình tổ chức lý t
ưởng duy nhất cho mọi cơ quan XTXK.
Cơ cấu này cần được điều chỉnh theo điều kiện cụ thể của từng quốc gia. Nhìn chung, một

vốn đầu tư nước ngoài FDI. Ví dụ Phòng xúc tiến đầu tư của Kotra aøv Jetro.
7) Bộ phận đào tạo cho tổ ch
ức XTXK và các DN XK. Tuy nhiên, theo
UNESCAP thì tốt hơn nên uỷ thác việc này cho một tổ chức chuyên môn độc
lập và chỉ đáp ứng những nhu cầu đào tạo đặc biệt. Ví dụ : Phòng phát triển
nhân lực của Kotra
8) Bộ phận quản trị về quản lý ngân sách, kế toán, nhân sự. Bộ phận này có thể
báo cáo trực tiếp cho cấp lãnh đạo cao nhất.
Cơ cấu tổ chức cũng không nên bất di bất dịch mà cần được xem xét lại hàng năm nhằm
đáp ứng yêu cầu của thực tế hoạt động XK tốt hơn.
1.3.6. Mạng lưới thương vụ ở nước ngoài
Đây là cánh tay nối dài hết sức quan trọng của tổ chức XTXK. Thương vụ có vai trò cung
cấp thông tin về thị trường nước sở tại, hỗ trợ các đoàn tham gia hội chợ, khảo sát thị
trường và theo dõi các chính sách thươ
ng mại của nước sở tại. Có nhiều hình thức tổ chức
thương vụ ở nước ngoài.
1) Nếu tổ chức XTXK chính phủ được tự chủ trong hoạt động thì nên trực tiếp thiết
lập, bổ nhiệm nhân sự và cấp ngân sách cho hệ thống thương vụ. Đây là cách

11

làm tốt nhất đảm bảo tổ chức XTXK có toàn quyền chỉ đạo và kiểm soát hoạt động của
thương vụ ở nước ngoài.
2) Nếu tổ chức XTXK là cơ quan trực thuộc một bộ trong chính phủ, họ cần phải

12
Sơ đồ 1 - Mô hình tổ chức của một cơ quan XTXK

Cơ quan quản trị cao cấp
e Định hướng chiến lược e
Quyết định chính sách
Bộ phận hành chính,
tài chính và nhân sự

Bộ phận phát triển
thị trường, nghiên
cứu và tư vấn
Bộ phận phát triển sản
phẩm, nghiên cứu công
nghiệp, các chương trình
XK

Bộ phận hoạch định và nghiên cứu
e Giám sát sự phát triển thương mại
quốc tế
.

1.3.7. Cơ quan điều hành tổ chức XTXK
Cơ quan điều hành tổ chức XTXK có hai chức năng quan trọng: lãnh đạo tổ chức XTXK
và liên kết tổ chức XTXK với cộng đồng DN.
Tốt nhất nên có các đại diện của cả chính phủ lẫn các DN và các TSIs trong cơ quan điều
hành. Nếu cơ quan điều hành chỉ gồm toàn các quan chức chính phủ, hiệu quả hoạt động
của tổ chức XTXK thường kém hiệu quả do không nắm chắc nhu cầu
13

thực sự của DN. Ngược lại, nếu cơ quan điều hành chỉ gồm đại diện của giới DN, tổ chức
XTXK sẽ thiếu sự quan tâm, hỗ trợ của chính phủ trong hoạt động.
Theo Profiles of TPO do ITC xuất bản thì có rất ít tổ chức XTXK chính phủ chỉ có toàn
đại diện của chính phủ hoặc của giới DN trong cơ quan điều hành. Đa số trường hợp là có
đại diện của cả hai bên. Dĩ nhiên, cộng đồng DN sẽ có ưu thế hơn nếu các đại diện của họ
chiếm đa số trong cơ quan điều hành.
Đại diện chính phủ tham gia cơ quan điều hành có thể đến từ bộ Thương mại, bộ Công
nghiệp, bộ Tài chính hay Bộ Ngoại giao. Ngân hàng trung ương cũng nên có đại diện
trong cơ quan điều hành.
Nếu tổ chức XTXK trực thuộc một bộ trong chính phủ thì không có ban điều hành vì Bộ
trưởng hoặc vụ trưởng sẽ trực tiếp lãnh đạo tổ chức XTXK. Đây là trường hợp của
Vietrade hiện nay.
1.3.8. Ngân sách hoạt động
Ngân sách của tổ chức XTXK có thể từ nhiều nguồn khác nhau. Bản chất của ngân sách
có ảnh hưởng đến tính ổn định và hiệu quả của các chương trình XTXK Vì XTXK là dịch
vụ công nên chính phủ thường tài trợ phần lớn cho các hoạt động của tổ chức XTXK Tuy

trợ giúp đặc biệt từ thương vụ nước ngoài.
Thu từ các chương trình hợp tác kỹ thuật quốc tế có thể là một nguồn quan trọng của tổ
chức XTXK ở các nước đang phát triển. Cần lưu ý là nguồn tài trợ
này chỉ có với một số
hoạt động đặc biệt và chỉ nên xem là nguồn bổ sung, không phải là nguồn thay thế.
Tóm lại, tổ chức XTXK nên có nhiều nguồn thu ngoài ngân sách. Tuy nhiên, không phải
lúc nào các nguồn phụ thu này cũng khả thi nên chính phủ vẫn phải đảm bảo phần lớn kinh
phí hoạt động. Các nguồn thu khác chỉ nên xem là nguồn phụ. Chiến lược quản trị tốt nhất
của một tổ chức XTXK là phát triển một nguồn tài chính hỗn hợp để tránh bị phụ thuộc
vào một nguồn thu duy nhất.
1.4. Một số kinh nghiệm của các tổ chức XTXK nước ngoài
“Xúc tiến thương mại theo lối truyền thống đã không còn đủ để nâng cao tính cạnh tranh
quốc tế. Nếu chiến lược XK quốc gia chỉ xoay quanh những chương trình hành động nay
cũng không còn khả năng đáp ứng với những thách thức mà chúng ta đang đối mặt ...”
J. Denis Bélisle, Giám đốc điều hành ITC, Geneve
Những thay đổi liên tục và to lớn trong môi trường thương mại quốc tế đòi hỏi các nhà
hoạch định chiến lược của DN lẫn chính phủ cần phải đánh giá lại, và có thể phải định
nghĩa lại cách tiếp cận của họ về XTXK. Tác giả xin giới thiệu một số kinh nghiệm của
các tổ chức XTXK nước ngoài có thể áp dụng vào Việt Nam.
1.4.1. Các đặc điểm của một tổ chức XTXK thành công
1) Có tính chất của một cơ quan công lập lẫn tính chất của một hiệp hội DN. 2)
Nhân sự không bị lệ thuộc vào chính phủ.
15 16
Bảng 1 - Lựa chọn đối tượng phục vụ của tổ chức XTXK
Tiềm năng XK của DN
Thấp Trung bình Cao
Nhu cầu cần hỗ Thấp X
trợ từ tổ chức
Trung bình Y Y
XTXK
Cao Z Y Y
dạng và rất khác biệt so với nhóm X. Các tổ chức XTXK thường có khuynh hướng không
chú ý đến nhóm này. Nhưng xét theo quan điểm toàn diện, họ nên tập trung hỗ trợ nhóm Y.
Tuy nhiên do số DN nhóm Y rất nhiều, khó có khả năng phục vụ từng DN nên tốt nhất là
hỗ trợ thông qua hiệp hội doanh nghiệp hoặc theo nhóm liên quan (cluster), qua đó giúp
củng cố các mối liên hệ giữa các DN với nhau.
Nhóm Z : Nhóm DN có nhu cầu hỗ trợ rất lớn nhưng tiềm năng XK lại thấp. Về mặt logic
thì họ không có đủ điều kiện để được hỗ trợ. Trong thực tế các DN nhà nước thường rơi
vào nhóm này nên chính phủ vẫn dành ưu đãi cho họ vì nhiều lý do tuy hiệu quả hỗ trợ là
rất thấp..
1.4.5. Nâng cao năng lực sản xuất của các DN trung bình
Nếu chọn nhóm Y làm đối tượng phục vụ chính, tổ chức XTXK phải chú trọng nâng cao
năng lực sản xuất song song với phát triển thị trường XK.

Các nghiên cứu đều chứng minh rằng chi phí để tìm một khách hàng mới thường lớn gấp
ba lần chi phí để duy trì một khách hàng cũ. Điều này cho thấy chiến lược phát triển thị
trường cũng cần phải thay đổi. Thay vì giúp các nhà XK tìm khách hàng mới theo từng
hợp đồng riêng lẻ (spot business) như khuynh hướng của nhiều chương trình hỗ trợ hiện
nay, tổ chức XTXK nên hỗ trợ các DN xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng, tập
trung vào các công ty đa quốc gia và các công ty khác phải dựa vào dịch vụ ngoài
(outsourcing) để duy trì hoạt động sản xuất của họ.
1.4.9. Kết hợp XTTM và xúc tiến đầu tư
Đối với nhiều nước đang phát triển, thu hút vốn FDI là con đường ngắn nhất để có năng
lực XK đạt tiêu chuẩn quốc tế, tiếp cận thị trường XK và có lợi thế cạnh tranh nhanh nhất.
Chủ tịch Hiroshi Yokokawa của Jetro lập luận "Thương mại và đầu tư ngày nay không
còn có thể tách rời trong kinh tế toàn cầu. Các tổ chức XTXK khó mà XTTM hi
ệu quả nếu
không quan tâm đến xu thế đầu tư toàn cầu... Ví dụ, FDI sẽ làm gia tăng sản lượng hàng
hoá của nước chủ nhà. Không thể kể hết những ví dụ chứng minh FDI đã góp phần lớn
vào XK ở các quốc gia đang phát triển. Nói tóm lại, thương mại và đầu tư là hai mặt
không thể tách rời và do đó, các biện pháp xúc tiến chung cả hai lĩnh vực này là phù hợp"
[11]. Đó là lý do Jetro, Kotra và các tổ chức XTXK đã kết hợp XTXK và xúc tiến đầu tư
trong hoạt động của họ.
1.4.10. Vai trò của tổ chức XTXK trong chiến lược XK quốc gia
18

Theo phân tích của ITC, có ba nguyên nhân chính làm hoạt động XTXK ở các quốc gia
đang phát triển kém hiệu quả là:


19

Sơ đồ 2 - Mạng lưới liên kết trong thực hiện chiến lược XK quốc gia CHƯƠNG 2 - THỰC TRẠNG CÁC TỔ CHỨC XTXK CHÍNH PHỦ
2.
2.1. Khái quát
Việt Nam bắt đầu tiến hành cải cách kinh tế từ năm 1986, tuy nhiên hoạt động xúc tiến XK
(XTXK) của Việt Nam đến đầu thập niên 90 vẫn còn mang tính tự phát và tản mạn, vai trò
XTXK của chính phủ trong giai đoạn này còn chưa thể hiện rõ.
Ngày 18/11/1996, Bộ Chính trị đã ra nghị quyết số 01-NQ/TW về mở rộng và nâng cao
hiệu quả kinh tế đối ngoại, yêu cầu chính phủ "Nghiên cứu thành lập trung tâm khuếch
trương thương mại để làm tốt công tác thúc đẩy XK và là đầu mối đặt quan hệ, trao đổi
kinh nghiệm với các tổ chức tương tự ở một số nước trong khu vực và trên thế giới, có kế
hoạch cụ thể cho các tổ chức kinh tế của ta đặt VPĐD ở nước ngoài để nghiên cứu thị
trường, tìm đối tác XK".
Sau khi có chủ trương của Đảng, hoạt động XTXK đã phát triển nhanh chóng trong những

gia tăng sản phẩm chế biến và chế tạo, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao,
thúc đẩy XK dịch vụ ... mở rộng và đa dạng hoá thị trường và phương thức kinh doanh,
hội nhập thắng lợi vào kinh tế khu vực và thế giới. Chiến lược đã đề ra các chỉ tiêu XK cụ
thể như sau:
Chỉ tiêu Năm 2000 Năm 2010
Tăng trưởng XK hàng hoá và dịch vụ Bình quân 15%/năm
Kim ngạch XK hàng hoá 13,5 tỷ USD 54,6 tỷ USD
Kim ngạch XK dịch vụ 2 tỷ USD 8,1 tỷ 2010
2.2.2. Luật và các chính sách
Luật và các chính sách quan trọng liên quan đến XTXK giai đoạn 1999 ~ 2004 được tóm
tắt và trình bày theo trình tự thời gian trong phụ lục 3 của luận văn.
2.3. Mạng lưới các tổ chức XTXK chính phủ
Mạng lưới các tổ chức XTXK chính phủ của Việt Nam bao gồm :
e
Cục XTTM (Vietrade) trực thuộc Bộ Thương mại.
e
Cơ quan hỗ trợ XTXK thuộc một số bộ, ngành.
e
Trung tâm/phòng XTTM địa phương.
e
Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài.
e
Trung tâm giới thiệu hàng Việt Nam ở nước ngoài.
2.3.1. Cục Xúc tiến Thương mại (Vietrade)
2.3.1.1. Lịch sử hình thành
Tiền thân của Vietrade là Ban XTTM của Bộ Thương mại được thành lập vào tháng
12/1998. Sau đó, Thủ tướng chính phủ đã có quyết định số 78/2000/QĐ-TTg ký ngày
10/08/2000 chính thức thành lập Cục XTTM trực thuộc Bộ Thương mại. Vietrade là tổ
chức XTXK quốc gia, có vị trí tương tự các tổ chức IE Singapore, DEP (Thailand),
Matrade (Malaysia), Jetro (Nhậ

Bộ Thương Mại
Ban Tư Vấn VIETRADE
Cục Trưởng
Bộ phận XTTM và hỗ trợ DN Phòng Hợp tác quốc tế Phòng E-Commerce và Thông tin Phòng Hành chính Tổng hợp

Nguồn : Vietrade (2003), Vietnam Exports
2.3.1.3. Kinh phí hoạt động
Văn phòng đại diện trong nước
Văn phòng đại diện và Trung tâm
Thương mại nước ngoài
Các dự án hỗ trợ XK và các tổ chức
liên quan

thiệu mình với các đối tác và tạo điều kiện cho đối tác tiếp cận nhanh nhất đến DN
quân đội"[12]
2.3.2.2. XTTM ở các bộ, ngành khác
Hầu hết các bộ như Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công nghiệp, Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn ... đều có các bộ phận chuyên trách hỗ trợ các DN trực
thuộc về chính sách, khuyến khích XK. Đó có thể là các vụ chức năng, viện nghiên cứu,
các trung tâm thông tin, trường đào tạo, báo chí chuyên ngành ...hỗ trợ công tác quản lý,
phát triển sản xuất, kinh doanh.
2.3.3. Trung tâm /Phòng XTTM địa phương.
Hiện nay, toàn quốc đã có 59 Trung tâm/Phòng XTTM tại 58 tỉnh và thành phố. Danh
sách các đơn vị này được trình bày trong phần phụ lục 5.
2.3.3.1. Tình hình chung [13] 24

Tính đến tháng 9/2004, ngoài 6 tỉnh chưa có tổ chức XTTM là Hà Giang, Lai Châu, Hà
Tĩnh, Quảng Bình, Dak Nông và Trà Vinh, đa số các địa phương còn lại đều đã thành lập
xong tổ chức XTTM. Tuy nhiên, còn có sự khác biệt về mô hình tổ chức và quản lý các
trung tâm này giữa các địa phương như sau :
e 30 trung tâm XTTM thuộc sở Thương mại.
e 21 phòng XTTM thuộc Sở Thương mại.
e 5 trung tâm XTTM thuộc UBND.
e 2 trung tâm XTTM thuộc Sở Kế hoạch -Đầu tư.
e 1 trung tâm XTTM thuộc văn phòng UBND.
Về chức năng nhiệm vụ, phần lớn các trung tâm XTTM địa phương chỉ tập trung quản lý
và hỗ trợ các hoạt động XTTM nội địa, bên cạnh đó cũng có địa phương giao thêm cả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status