chế định trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam - Pdf 29

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trách nhiệm hình sự là một trong những chế định cơ bản, trung tâm
và quan trọng nhất của luật hình sự Việt Nam. Tính chất và mức độ thể hiện
của các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam nh pháp chế, nhân đạo,
dân chủ xã hội chủ nghĩa... phụ thuộc chủ yếu vào việc giải quyết vấn đề
trách nhiệm hình sự.
Bộ luật hình sự năm 1999, kế thừa và phát triển Bộ luật hình sự năm
1985, là bớc phát triển mới trong việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự
trong luật hình sự nớc ta. Nhiều quy phạm của chế định trách nhiệm hình sự
đã đợc sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn, tạo điều kiện cho các cơ
quan áp dụng pháp luật đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả. Tuy
nhiên, một số quy phạm của chế định trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình
sự hiện hành, ở các mức độ khác nhau, vẫn bộc lộ những hạn chế, thiếu sót
nhất định. Mặt khác, công tác giải thích, hớng dẫn áp dụng pháp luật hình sự
trong thời gian qua cha đợc quan tâm đúng mức nên một số quy phạm pháp
luật hình sự, trong đó có các quy phạm của chế định trách nhiệm hình sự, còn
có những nhận thức không thống nhất, gây khó khăn cho việc áp dụng pháp
luật trong hoạt động thực tiễn.
Thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về những vấn đề
liên quan đến chế định trách nhiệm hình sự của các tác giả trong và ngoài n-
ớc. Tuy nhiên, cho đến nay, nhiều nội dung của chế định trách nhiệm hình sự
còn có những nhận thức khác nhau. Mặt khác, cùng với sự phát triển trên các
lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội của đất nớc, nhiều vấn đề của luật hình sự,
trong đó có vấn đề trách nhiệm hình sự, cũng luôn vận động và phát triển đòi
hỏi phải đợc tiếp tục nghiên cứu, giải quyết.
1
Trớc tình hình đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn
đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chế định trách nhiệm hình sự, trên cơ sở
đó đa ra những giải pháp để tiếp tục hoàn thiện Bộ luật hình sự hiện hành và
giải quyết những vớng mắc của thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự là việc

- Tội phạm trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, 1991; Một số hình thức đặc biệt của tội phạm (trong sách Tội phạm
học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1994); Cấu thành tội phạm - lý luận và thực tiễn, Nxb T pháp, Hà
Nội, 2004 của PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa.
- Hoàn thiện chế định cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự (Tạp
chí Luật học, số 6/1996); Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự
(Tạp chí Luật học, số 5/1997); Về trách nhiệm hình sự của hành vi chuẩn bị
phạm tội và phạm tội cha đạt (Tạp chí Luật học, số 4/2002) của TS. Lê Thị
Sơn.
- Trách nhiệm hình sự và hình phạt của tập thể tác giả do PGS.TS
Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001.
- Trách nhiệm hình sự và hình phạt của TS. Trơng Quang Vinh
(trong sách Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Trờng Đại học Luật Hà Nội,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2000).
- Trách nhiệm hình sự của PGS.TS Trần Văn Độ (trong sách Giáo
trình luật hình sự Việt Nam Phần chung, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà
Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001)...
Các công trình nghiên cứu khoa học trên đã đa ra bàn luận và giải
quyết nhiều vấn đề bức xúc mà lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự
đặt ra. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của các công trình này cũng cho thấy,
chế định trách nhiệm hình sự mặc dù là một trong những chế định cơ bản,
quan trọng nhất của luật hình sự nhng cũng là một trong những chế định còn
3
nhiều nội dung cha đạt đến sự đồng thuận và gây tranh luận sôi nổi nhất
trong giới khoa học luật hình sự từ trớc đến nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận
án
* Mục đích:
Mục đích của luận án là làm sáng tỏ một cách có hệ thống về mặt lý

nhiệm hình sự trong đồng phạm; trách nhiệm hình sự của ngời cha thành niên
phạm tội.
Chế định trách nhiệm hình sự liên quan đến nhiều vấn đề khác của
luật hình sự và luật tố tụng hình sự nh hình phạt, quyết định hình phạt, các
giai đoạn thực hiện tội phạm, đồng phạm, miễn trách nhiệm hình sự, miễn
hình phạt, các biện pháp ngăn chặn và các biện pháp cỡng chế hình sự khác...
Việc đề cập đến các vấn đề trên của luật hình sự và luật tố tụng hình sự cũng
chỉ nhằm giải quyết một cách có hệ thống và làm rõ hơn chế định trách
nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam.
* Phạm vi nghiên cứu:
Luận án nghiên cứu chế định trách nhiệm hình sự theo luật hình sự
Việt Nam dới góc độ của luật hình sự. Đồng thời, cũng đề cập đến một số
quy phạm của luật tố tụng hình sự nhằm giải quyết nhiệm vụ và đối tợng
nghiên cứu.
4. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu của luận án
Cơ sở lý luận của luận án là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, t t-
ởng Hồ Chí Minh, đờng lối, chính sách của Đảng về Nhà nớc, pháp luật, về tội
phạm, hình phạt; những thành tựu của các khoa học triết học, lịch sử các học
5
thuyết chính trị và pháp lý, luật hình sự, luật tố tụng hình sự, lôgíc học... Luận
án đợc trình bày trên cơ sở nghiên cứu các văn bản pháp luật hình sự, tố tụng
hình sự; các văn bản hớng dẫn áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nớc có
thẩm quyền; các văn bản pháp lý khác; những luận điểm khoa học trong các
công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nớc.
Trên cơ sở phơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, luận án đặc biệt chú trọng các phơng pháp nghiên cứu
nh phơng pháp hệ thống, lịch sử, lôgíc, phân tích, so sánh, tổng hợp để chọn
lọc kinh nghiệm thực tiễn, tri thức khoa học trong và ngoài nớc.
5. Những đóng góp mới của luận án
Đây là luận án tiến sĩ luật học đầu tiên trong khoa học luật hình sự đề

phân tích có hệ thống những nội dung cơ bản của chế định trách nhiệm hình
sự theo luật hình sự Việt Nam với những đóng góp về mặt khoa học đã nêu trên.
Về mặt thực tiễn:
Luận án góp phần vào việc xác định đúng đắn nội dung, cơ sở, điều
kiện của việc truy cứu, áp dụng trách nhiệm hình sự đối với ngời phạm tội
trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan nhà nớc có thẩm
quyền trong hoạt động tố tụng hình sự nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của
cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm ở nớc ta.
Ngoài ra, luận án có thể đợc sử dụng làm tài liệu tham khảo trong
việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập tại các cơ sở nghiên cứu và đào tạo chuyên
ngành luật ở nớc ta.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án
gồm có 3 chơng, 8 mục.
7
Chơng 1
Khái niệm trách nhiệm hình sự và mối quan hệ giữa
trách nhiệm hình sự với miễn trách nhiệm hình sự
1.1. Khái niệm trách nhiệm hình sự
Trong sách báo cũng nh thực tiễn chính trị, pháp lý, thuật ngữ "trách
nhiệm" thờng đợc hiểu theo hai nghĩa. Thứ nhất, trách nhiệm là nghĩa vụ,
bổn phận của một ngời trớc ngời khác, trớc xã hội hoặc Nhà nớc. Ví dụ, trách
nhiệm của công dân trong việc bảo vệ môi trờng sống; trách nhiệm của bố
mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục con cái v.v... Thứ hai, trách nhiệm là hậu
quả bất lợi mà một ngời phải gánh chịu trớc ngời khác, trớc xã hội hoặc Nhà
nớc do đã có hành vi vi phạm nghĩa vụ, bổn phận nào đó.
Trách nhiệm pháp lý, trong đó có trách nhiệm hình sự, đợc dùng theo
nghĩa thứ hai. Tuy nhiên, cho đến nay, xung quanh khái niệm trách nhiệm
hình sự vẫn còn những quan điểm khác nhau.
Quan điểm thứ nhất: Trách nhiệm hình sự là một loại quan hệ pháp

các biện pháp cỡng chế nhà nớc của ngời phạm tội do việc ngời đó thực hiện tội
phạm và bắt đầu từ thời điểm ngời phạm tội thực hiện tội phạm.
Về bản chất, nghĩa vụ pháp lý và trách nhiệm pháp lý là khác nhau.
Khi đề cập đến nghĩa vụ pháp lý của một ngời là đề cập đến khả năng ngời
đó có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý, còn khi nói đến trách nhiệm pháp lý
của một ngời chính là nói đến việc thực hiện nghĩa vụ pháp lý của ngời đó
9
trái với ý chí của họ. Trách nhiệm hình sự, với tính cách là một dạng của
trách nhiệm pháp lý, không phải là nghĩa vụ mà một ngời có thể phải chịu
hậu quả pháp lý bất lợi do việc ngời đó thực hiện tội phạm mà chính là việc
phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của ngời phạm tội trớc Nhà nớc trong tình
trạng bị cỡng chế do việc ngời đó đã thực hiện tội phạm. Đúng nh Bratux X.
N. đã viết:
Trách nhiệm - đó không phải là nghĩa vụ phải chịu những
hậu quả phát sinh từ sự vi phạm pháp luật mà chính là hậu quả của
nó trong tình trạng bị cỡng chế... Trách nhiệm - đó là nghĩa vụ đã
đợc thực hiện bằng cỡng chế. Nghĩa vụ thì có thể đợc thực hiện
hoặc không đợc thực hiện, nhng khi đã bắt đầu trách nhiệm, nghĩa
là khi bộ máy cỡng chế đã đi vào hoạt động thì ngời có trách nhiệm
không đợc lựa chọn. Ngời đó không thể không thực hiện hành vi
tạo thành nội dung của nghĩa vụ phải thực hiện [57, tr. 103].
Thời điểm ngời phạm tội thực hiện tội phạm là thời điểm bắt đầu phát
sinh mối quan hệ pháp luật hình sự giữa Nhà nớc và ngời phạm tội. Từ khi
đó, Nhà nớc có quyền áp dụng các biện pháp cỡng chế cần thiết, có quyền
buộc ngời phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự. Ngời phạm tội có nghĩa vụ
phải chịu các biện pháp cỡng chế, chịu trách nhiệm hình sự do Nhà nớc áp
dụng. Nhng nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm hình sự của ngời phạm tội sẽ
không đợc thực hiện trên thực tế nếu tội phạm không bị phát hiện, tội phạm đã
hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc ngời phạm tội đợc miễn trách
nhiệm hình sự theo quy định của luật hình sự.

đó các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã ra các quyết định nh:
quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án vì hành vi của bị can không
11
cấu thành tội phạm; quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án vì có
căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự cho bị can hoặc Tòa án tuyên bố bị cáo
vô tội hoặc tuyên bị cáo đợc miễn trách nhiệm hình sự tại phiên tòa.
Nếu nh chấp nhận quan điểm cho rằng, trách nhiệm hình sự bắt đầu
từ khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một ngời, nghĩa là từ khi khởi tố
bị can, thì trong trờng hợp này, phải chăng trớc khi có bản án mà Tòa án
tuyên miễn trách nhiệm hình sự đối với một ngời, ngời đó đã phải chịu một
phần trách nhiệm hình sự? Điều này khó có thể đợc coi là phù hợp. Khi nói
đến miễn trách nhiệm hình sự là nói đến miễn toàn bộ hậu quả pháp lý thể
hiện nội dung của trách nhiệm hình sự mà đáng ra ngời phạm tội phải chịu tr-
ớc Nhà nớc chứ không phải là miễn một phần trách nhiệm hình sự. Một ngời
đã phải chịu trách nhiệm hình sự thì không thể nói đến miễn trách nhiệm
hình sự đối với ngời đó nữa. Nếu ngời phạm tội đã phải chịu trách nhiệm
hình sự trớc khi có bản án của Tòa án, thì Tòa án sẽ không thể nhân danh
Nhà nớc tuyên miễn trách nhiệm hình sự đối ngời đó tại phiên tòa.
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nớc ta, trớc khi bị kết tội,
một ngời có thể đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng những biện pháp
ngăn chặn nh: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi c trú, bảo lĩnh, đặt tiền
hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Những biện pháp này đợc áp dụng nhằm
mục đích ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ
gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng
nh khi cần bảo đảm thi hành án. Về bản chất, các biện pháp ngăn chặn không
phải là sự thể hiện của trách nhiệm hình sự mà chỉ là các biện pháp cỡng chế
có tính chất tố tụng hình sự để ngăn chặn tội phạm, bảo đảm hiệu quả của
việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc bảo đảm cho việc thực hiện trách nhiệm
hình sự sau này (bảo đảm thi hành án). Mặc dù các biện pháp ngăn chặn chỉ
có thể đợc áp dụng đối với ngời phạm tội, nhng chúng không phải là hậu quả

trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng
một ngày tù.
Nh vậy, khi ngời phạm tội bị Tòa án kết tội bằng bản án kết tội có
hiệu lực pháp luật thì các biện pháp tạm giữ, tạm giam đã áp dụng đối với ng-
ời phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đợc chuyển
thành một bộ phận cấu thành của việc chấp hành hình phạt, nghĩa là chuyển
thành một bộ phận của việc thực hiện trách nhiệm hình sự.
Cũng giống các biện pháp ngăn chặn, các biện pháp t pháp cũng có
thể đợc áp dụng đối với ngời phạm tội trớc khi có bản án kết tội của Tòa án
có hiệu lực pháp luật. Nhng bản thân việc áp dụng các biện pháp t pháp
không phải bao giờ cũng thuộc nội dung của việc thực hiện trách nhiệm hình
sự. Ngời bị áp dụng biện pháp t pháp vẫn có thể đợc miễn trách nhiệm hình
sự nếu có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của luật hình sự.
Thậm chí, biện pháp t pháp có thể áp dụng cả đối với ngời không có năng lực
trách nhiệm hình sự. Ví dụ, theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Bộ luật hình
sự, biện pháp t pháp bắt buộc chữa bệnh đợc áp dụng cả đối với ngời thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng không có năng lực trách
nhiệm hình sự. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 44 Bộ luật hình sự, nếu ng-
ời phạm tội đã bị áp dụng biện pháp t pháp bắt buộc chữa bệnh mà sau đó bị
kết án phạt tù thì "thời gian bắt buộc chữa bệnh đợc trừ vào thời hạn chấp
hành hình phạt tù". Điều này chứng tỏ việc thực hiện biện pháp bắt buộc
chữa bệnh của ngời phạm tội trớc khi bị kết án, giống nh biện pháp tạm giữ,
tạm giam, cũng có thể đợc chuyển thành một bộ phận của việc thực hiện
trách nhiệm hình sự.
Theo khoản 4 Điều 69 Bộ luật hình sự, khi xét xử, nếu thấy không
cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với ngời cha thành niên phạm tội thì Tòa
14
án áp dụng một trong các biện pháp t pháp là giáo dục tại xã, phờng, thị trấn
hoặc đa vào trờng giáo dỡng. Thực chất, đây là quy định về việc Tòa án
không áp dụng hình phạt mà áp dụng các biện pháp t pháp thay thế hình phạt

đối với ngời thực hiện hành vi phạm tội, còn hình phạt chỉ là một trong những
biện pháp cỡng chế chủ yếu của trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm hình sự,
theo luật hình sự Việt Nam, đã đợc phân ra thành hai loại: loại có hình phạt
và loại không có hình phạt (miễn hình phạt). Trong trờng hợp có hình phạt,
trách nhiệm hình sự mà ngời phạm tội phải chịu trớc hết thể hiện ở bản án kết
tội kèm theo việc quyết định hình phạt của Tòa án đối với ngời phạm tội. Ng-
ời phạm tội không chỉ bị kết tội, "bị coi là có tội" mà còn phải chịu hình phạt
do Tòa án quyết định trong bản án kết tội đó. Trong trờng hợp miễn hình
phạt, trách nhiệm hình sự đợc thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án mà không
có quyết định hình phạt đối với ngời phạm tội. Ngời phạm tội bị Tòa án, nhân
danh Nhà nớc, kết án vì đã thực hiện hành vi phạm tội. Với bản án kết tội có
hiệu lực pháp luật, ngời phạm tội chính thức "bị coi là có tội" nhng ngời đó
không bị Tòa án quyết định hình phạt mà đợc miễn hình phạt.
Vì những lẽ đó, không thể coi trách nhiệm hình sự là việc thực hiện
chế tài pháp lý hình sự, phát sinh từ khi áp dụng hình phạt đối với ngời phạm
tội.
Theo quan điểm chúng tôi, để xác định khái niệm trách nhiệm hình
sự trớc hết phải làm rõ các đặc điểm vốn có của nó.
Đặc điểm thứ nhất: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của
việc thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm.
16
Trách nhiệm hình sự là một loại trách nhiệm pháp lý chỉ có thể đợc
áp dụng đối với ngời thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm, nghĩa
là việc thực hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đợc
quy định trong luật hình sự. Không có việc thực hiện hành vi bị luật hình sự
coi là tội phạm thì không thể có trách nhiệm hình sự.
Trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự, để quy kết hành vi nào đó
là tội phạm và buộc ngời thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự, ng-
ời áp dụng pháp luật phải trên cơ sở đối chiếu hành vi đã thực hiện với các
dấu hiệu của cấu thành tội phạm đợc quy định trong Bộ luật hình sự, chứ

đáng kể thì hành vi đó là tội phạm và ngời phạm tội phải chịu trách nhiệm
hình sự. Còn nếu hành vi nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì hành vi đó
chỉ là vi phạm pháp luật và ngời thực hiện hành vi chỉ có thể phải chịu trách
nhiệm pháp lý khác ngoài trách nhiệm hình sự.
Xác định hành vi thực hiện có tính nguy hiểm cho xã hội đáng kể là
yếu tố cần thiết, quan trọng để xác định tội phạm. Trên cơ sở đó buộc ngời
phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong quá trình làm luật, nhà làm
luật đã cố gắng đa ra những tiêu chí (dấu hiệu) cụ thể để xác định tính chất,
mức độ nguy hiểm cho xã hội đáng kể của nhiều loại tội phạm, giúp cho các
cơ quan áp dụng pháp luật và ngời áp dụng pháp luật có cơ sở để đánh giá,
phân định giữa hành vi đến mức nào là nguy hiểm đáng kể cho xã hội bị coi
là tội phạm với hành vi nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, không phải tội
phạm. Tuy nhiên, khó có thể quy định đợc hết các tiêu chí đánh giá cụ thể về
tính nguy hiểm cho xã hội đáng kể trong tất cả các loại tội phạm. Trong
những trờng hợp điều luật quy định về tội phạm cụ thể nào đó mà những tiêu
chí để đánh giá về tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đó không cụ thể
thì đòi hỏi ngời áp dụng pháp luật trong quá trình xem xét một hành vi nào
18
đó để kết luận có phải tội phạm hay không phải đánh giá tổng hợp các tình
tiết có liên quan.
Ví dụ, trong Điều 136 Bộ luật hình sự về tội cớp giật tài sản, nhà làm
luật không quy định những tiêu chí cụ thể làm ranh giới để phân biệt tội cớp
giật tài sản với hành vi cớp giật tài sản chỉ là vi phạm hành chính. Trong tr-
ờng hợp này, ngời áp dụng pháp luật phải xem xét tổng hợp các tình tiết có
liên quan để kết luận hành vi đó có nguy hiểm đáng kể cho xã hội hay không.
Nếu là nguy hiểm đáng kể cho xã hội thì là tội phạm và nếu không có căn cứ
để miễn trách nhiệm hình sự thì phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ng-
ời phạm tội. Nếu hành vi đã thực hiện nguy hiểm cho xã hội không đáng kể
thì không thể coi hành vi đó là hành vi phạm tội.
Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đã xảy ra những trờng hợp do

Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã giảm hình phạt cho
Nguyễn Thị Vân còn 18 tháng tù, giữ nguyên hình phạt đối với Phùng Văn
Hiệp.
Tại Quyết định số 59/UBTP-HS ngày 5/9/2002, ủy ban Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao đã tuyên Nguyễn Thị Vân và Phùng Văn Hiệp không
phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân với nhận định: Quan hệ
giữa vợ chồng Vân, Hiệp với ông Niếu là quan hệ dân sự, hai bên cho nhau
vay mợn tài sản, không phải bị cáo thế chấp đất để vay tiền ông Niếu. Vân,
Hiệp có quyền dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp vay tiền
ông Khiêm nên Vân, Hiệp không phạm tội lừa đảo (không có hành vi lừa đảo
ông Khiêm). Mặt khác, việc thế chấp đất để vay tiền của ông Khiêm cha đầy
đủ thủ tục pháp lý, chỉ là quan hệ dân sự (nguyên đơn là ông Khiêm và bị
đơn là vợ chồng Vân, Hiệp). Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm kết án Nguyễn
Thị Vân và Phùng Văn Hiệp phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công
dân là không đúng pháp luật.
Vụ án trên cho thấy, các cơ quan tiến hành tố tụng đã không đánh giá
đúng bản chất của quan hệ giữa vợ chồng Vân, Hiệp với ông Niếu và ông
20
Khiêm chỉ là quan hệ dân sự. Vân, Hiệp không có thủ đoạn gian dối để
chiếm đoạt tài sản của ông Khiêm. Bởi vậy, ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao tuyên Nguyễn Thị Vân và Phùng Văn Hiệp không phạm tội lừa
đảo chiếm đoạt tài sản của công dân là đúng.
Ngời thực hiện hành vi chỉ có thể bị coi là tội phạm và phải chịu trách
nhiệm hình sự nếu họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội khi đã đạt độ
tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.
Theo Điều 12 Bộ luật hình sự nớc ta, ngời từ đủ 16 tuổi trở lên phải
chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; ngời từ đủ 14 tuổi trở lên, nhng
cha đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do
cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự nớc ta đã có trờng hợp các cơ

vì khi thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy Hanh cha đủ 16 tuổi.
Nh vậy, sai lầm của các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh L là ở chỗ khi
Công an bắt quả tang Hanh mua bán trái phép chất ma túy, Hanh mới có 15
tuổi 10 tháng 3 ngày, Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các cơ quan tiến hành
tố tụng tỉnh L đã không quan tâm làm rõ tổng trọng lợng mua bán trái phép
chất ma túy của Hanh là bao nhiêu, có đến 5 gam hêrôin (mức khởi điểm để
truy tố theo điểm h khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự) không? Việc truy tố,
xét xử Hanh theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự (tình tiết phạm tội
nhiều lần) là không đúng quy định của pháp luật. Bởi vậy, Tòa phúc thẩm
Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội tuyên bố Hanh không phạm tội mua bán
trái phép chất ma túy là đúng.
Một ngời chỉ có thể bị coi là ngời phạm tội và phải chịu trách nhiệm
hình sự nếu khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội do luật hình quy định
họ có năng lực trách nhiệm hình sự. Theo luật hình sự Việt Nam, ngời có
22
năng lực trách nhiệm hình sự là ngời thực hiện hành vi khi đã đạt độ tuổi chịu
trách nhiệm hình sự (theo Điều 12 Bộ luật hình sự) và không ở trong tình
trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (theo Điều 13 Bộ luật hình sự).
Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự về tuổi chịu trách nhiệm hình sự
và tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự, có thể xác định: ngời có
năng lực trách nhiệm hình sự là ngời thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
khi đã đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (theo Điều 12 Bộ luật hình sự), có
khả năng nhận thức đợc tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình
và có khả năng điều khiển đợc hành vi ấy.
Điều đáng lu ý là khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự khi đề cập về khái
niệm tội phạm chỉ quy định tội phạm là hành vi "do ngời có năng lực trách
nhiệm hình sự thực hiện..." chứ không quy định dấu hiệu đủ tuổi chịu trách
nhiệm hình sự. Theo chúng tôi, khái niệm ngời có năng lực trách nhiệm hình
sự đã bao hàm trong đó dấu hiệu đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự rồi. Bởi vì,
chỉ những ngời đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự mới có thể là ngời có năng

không có lỗi.
Đặc điểm thứ hai: Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của cá nhân
ngời phạm tội.
Theo luật hình sự Việt Nam, trách nhiệm hình sự chỉ có thể là trách
nhiệm của cá nhân ngời đã thực hiện hành vi mà luật hình sự coi là tội phạm.
Về nguyên tắc, trách nhiệm hình sự phải tơng xứng với tính chất và mức độ
nguy hiểm cho xã hội của tội phạm do ngời phạm tội thực hiện. Mác đã viết:
24
Nếu nh khái niệm tội phạm giả định phải có sự trừng phạt,
thì tội phạm thực tế lại giả định phải có một mức độ trừng phạt
nhất định. Tội phạm thực tế là có giới hạn. Vì vậy, cả sự trừng phạt
phải có giới hạn, dầu chỉ là để cho nó có tính chất thực tế, - nó phải
đợc hạn chế bởi nguyên tắc của pháp luật để trở thành hợp pháp.
Vấn đề là ở chỗ làm cho sự trừng phạt trở thành hậu quả thực tế
của việc phạm tội. Dới con mắt của kẻ phạm tội, sự trừng phạt phải
là kết quả tất yếu của hành vi của chính ngời đó - do đó phải là
hành vi của chính ngời đó. Giới hạn của hành vi của y phải là giới
hạn của sự trừng phạt [30, tr.169].
Ngời phải chịu trách nhiệm hình sự chỉ có thể là ngời phạm tội, nghĩa
là ngời thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự coi là tội phạm
khi đã đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có năng lực trách nhiệm hình sự
và có lỗi (cố ý hoặc vô ý). Trong trờng hợp tội phạm đợc thực hiện dới hình
thức đồng phạm thì từng ngời đồng phạm cũng phải chịu trách nhiệm hình sự
độc lập. Hình phạt quyết định đối với từng ngời đồng phạm đợc quyết định
căn cứ vào tính chất đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của
từng ngời đồng phạm.
Cùng với trách nhiệm hình sự của cá nhân, pháp luật hình sự nhiều n-
ớc cũng đã quy định cả trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Ví dụ, Mỹ, Hà Lan,
Bồ Đào Nha, Pháp, Phần Lan, Bỉ... Gần đây, Trung Quốc cũng đã quy định
trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong Bộ luật hình sự (năm 1997). Việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status