A. LỜI NÓI ĐẦU
-Tính cấp thiết của đề tài:
Trong chu trình quản lý chi NSNN, việc thiết lập một cơ chế kiểm soát chi
NSNN khoa học, hợp lý nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm soát chi
NSNN cũng có vai trò quan trọng góp phần không nhỏ trong việc nâng cao hiệu
quả sử dụng các nguồn lực tài chính. Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện
nay, khi nguồn thu ngân sách còn nhiều hạn chế thì việc kiểm soát chặt chẽ các
khoản chi nhằm đảm bảo các khoản chi được sử dụng đúng, tiết kiệm và hiệu
quả là rất quan trọng.
Gần đây, Đảng và Nhà nước đã có rất nhiều biện pháp kịp thời và hiệu quả trong
việc nâng cao hiệu quả quản lý chi NSNN. Điều đó được thể hiện bằng việc
Quốc hội đã thông qua Luật NSNN ngày 16/12/2002, có hiệu lực thi hành từ
năm ngân sách 2004. Đây là một đạo luật quan trọng trong hệ thống luật pháp về
tài chính của nước ta. Luật NSNN năm 2002 được xây dựng dựa trên cơ sở kế
thừa và phát huy các ưu điểm và khắc phục các nhược điểm của các văn bản luật
trước đó, với mục tiêu quản lý thống nhất, có hiệu quả nền tài chính quốc gia;
tăng cường phân cấp, nâng cao tính củ động và trách nhiệm của các cơ quan, tổ
chức, cá nhân trong việc quản lý và sử dụng NSNN; tăng tích lũy và tiềm lực tài
chính quốc gia nhằm thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp ứng
yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo quốc
phòng, an ninh, đối ngoại; thực hiện cải cách hành chính trong việc lập, chấp
hành, kế toán và quyết toán ngân sách; củng cố kỷ luật tài chính, sử dụng tiết
kiệm, có hiệu quả ngân sách và tài sản của Nhà nước. Qua thời gian triển khai
luật NSNN năm 2002, công tác kiểm soát chi NSNN đã bộc lộ không ít các hạn
chế từ trong khâu lập dự toán, chấp hành kế toán và quyết toán. Do đó, em xin
chọn đề tài “Kiểm soát chi ngân sách nhà nước trong tình hình Việt Nam
hiện nay” làm tiêu đề cho đề án sắp trình bày.
- Mục đích của đề án:
1
Đề án đi sâu nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng về công tác kiểm soát chi
NSNN qua hệ thông KBNN trong giai đoạn hiện nay. Từ đó rút ra các nguyên
Chi NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng các nguồn lực tài chính tập trung vào
việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước.
3
Chi NSNN có quy mô rộng và mức độ rộng lớn, bao trùm nhiều lĩnh vực, nhiều
địa phương, nhiều cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước
- Phân loại chi NSNN:
Có nhiều tiêu thức để phân loại
+ Theo chức năng nhiệm vụ, chi ngân sách nhà nước gồm:
* Chi đầu tư phát triển kinh tế và kết cấu hạ tầng, trong đó phần lớn là xây
dựng cơ bản, khấu hao tài sản xã hội
* Chi bảo đảm xã hội, bao gồm:
* 1) giáo dục
* 2) y tế
* 3) công tác dân số
* 4) khoa học và công nghệ
* 5) văn hóa
* 6) thông tin đại chúng
* 7) thể thao
* 8) lương hưu và trợ cấp xã hội
* 9) các khoản liên quan đến can thiệp của chính phủ vào các hoạt động kinh
tế
* 10) quản lý hành chính
* 11) an ninh, quốc phòng
* 12) các khoản chi khác
* 13) dự trữ tài chính
4
* 14) trả nợ vay nước ngoài, lãi vay nước ngoài
+ Theo đối tượng thì chi NSNN được chia thành: chi đầu tư, chi thường xuyên
và chi khác.
+ Theo mục đích kinh tế thì chi NSNN được chia thành chi tiêu dùng và chi đầu
Trên thế giới, cơ chế quản lý chi NSNN ở mỗi nước là khác nhau. Nhưng có thể
thấy cơ chế quản lý chi NSNN có một số đặc điểm chủ yếu sau:
+ Chi NSNN được quản lý bằng luật pháp và theo dự toán. Đây là đặc điểm
quan trọng nhất. Nhìn nhận và đánh giá đúng đặc điểm này sẽ giúp Nhà nước và
các cơ quan chức năng đưa ra các cơ chế quản lý, điều hành chi NSNN đúng
luật, đảm bảo có hiệu quả và công khai, minh bạch. Và mọi quốc gia trên thế
giới đều quản lý chi NSNN thông qua luật.
+ Quản lý chi NSNN sử dụng tổng hợp các biện pháp nhưng biện pháp quan
trọng nhất là biện pháp tổ chức hành chính. Biện pháp này tác động vào đối
tượng quản lý theo hai hướng:
Chủ thể quản lý ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định tính chất,
mục tiêu, quy mô, cơ cấu tổ chức, điều kiện thành lập, mối quan hệ trong và
ngoài tổ chức,…
Chủ thể quản lý đưa ra các quyết định quản lý bắt buộc cấp dưới và cơ quan
thuộc phạm vi điều chỉnh phải thực hiện những nhiệm vụ nhất định.
Đặc trưng của phương pháp quản lý hành chính là cưỡng chế đơn phương của
chủ thể quản lý. Đặc điểm này thể hiện rõ nét trong cơ chế quản lý chi NSNN ở
6
Việt Nam. NSNN Việt Nam là ngân sách thống nhất từ cấp trung ương tới địa
phương, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm. Trung
ương thống nhất việc ban hành cơ chế, chính sách về quản lý từ khâu lập dự
toán, chấp hành dự toán, hạch toán và quyết toán các khoản chi NSNN.
- Hiệu quả, chất lượng công tác quản lý chi NSNN khó đo được bằng các chỉ
tiêu định lượng. Hiệu quả, chất lượng quản lý chi NSNN không đồng nghĩa với
hiệu quả chi NSNN. Nếu hiệu quả so sánh kết quả đạt được với số tiền mà Nhà
nước bỏ ra, thì hiệu quả công tác quản lý NSNN được thể hiện bằng việc so sánh
giữa kết quả công tác quản lý chi NSNN thu dc với số chi phí mà Nhà nước đã
chi cho công tác quản lý chi NSNN.
- Nguyên tắc quản lý chi NSNN
Quản lý chi NSNN phải tuân thủ các nguyên tắc trong chu trình quản lý chi
NSNN phải đảm bảo chi đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả. Trong điều kiện
hiện nay, khi khả năng của NSNN còn khá hạn hẹp mà nhu cầu chi phát triển
kinh tế xã hội ngày càng tăng thì việc kiểm soát chặt chẽ các khoản chi NSNN
thực sự là mối quan tâm hàng đầu của Nhà nước, các ngành và các cấp. Thực
hiện tốt công tác này có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện tiết kiệm chống
lãng phí nhằm tập trung mọi nguồn lực tài chính để phát triển kinh tế, xã hội,
góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ và lành mạnh hóa nền tài chính
quốc gia; đồng thời, cũng góp phần nâng cao trách nhiệm cũng như phát huy
được vai trò của các ngành các cấp, các cơ quan, đơn vị có liên quan đến công
tác quản lý và điều hành NSNN. Đặc biệt là hệ thống KBNN sẽ kiểm soát, thanh
toán trực tiếp từng khoản chi NSNN cho các đối tượng sử dụng đúng chức năng
nhiệm vụ đã được Nhà nước giao, góp phần lập lại kỉ cương, kỉ luật tài chính
8
- Do hạn chế từ chính bản thân cơ chế quản lý chi NSNN: cơ chế quản lý chi
NSNN tuy đã thường xuyên được sửa đổi hoàn thiện, nhưng vẫn chỉ qui định
được những vấn đề chung nhất mang tính nguyên tắc, dẫn tới không thể bao
quát hết tất cả các hiện tượng phát sinh trong quá trình thực hiện quản lý kiểm
soát chi NSNN. Mặt khác, cùng với sự phát triển không ngừng của các hoạt
động kinh tế - xã hội, các nghiệp vụ chi NSNN cũng ngày càng đa dạng và phức
tạp hơn. Do vậy cơ chế quản chi NSNN nhiều khi không theo kịp với biến động
của hoạt động chi NSNN. Từ đó, một số đơn vị, cá nhân tìm cách lợi dụng, khai
thác những kẽ hở của cơ chế nhằm tham ô, trục lợi, tư túi gây lãng phí tài sản và
công quỹ Nhà nước. Từ thực tế đó, đòi hỏi phải có các cơ quan có thẩm quyền,
thực hiện kiểm trả, giám sát quá trình sử dụng kinh phí NSNN của các cơ quan,
đơn vị nhằm ngăn chặn tiêu cực, phát hiện những điểm chưa phù hợp trong cơ
chế quản lý để từ đó kiến nghị với các ngành các cấp sửa đổi, bổ sung kịp thời
để cơ chế quản lý và kiểm soát chi NSNN ngày càng được hoàn thiện, phù hợp
và chặt chẽ hơn.
- Do ý thức của các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN: Các đơn vị thụ hưởng
NSNN thưởng có tư tưởng tìm mọi cách để sử dụng hết số kinh phí đã được cấp,
đoạn, phân tán, gây căng thẳng trong quá trình điều hành NSNN. Vì vậy, cơ chế
và chính sách kiểm soát chi NSNN phải quy định rõ ràng các điều kiện, trình tự
cấp phát theo hướng cơ quan tài chính thực hiện cấp phát kinh phí phải căn cứ
vào dự toán ngân sách năm đã được giao; về phương thức thanh toán phải đảm
bảo mọi khoản chi của NSNN được thanh toán, chi trả trực tiếp qua KBNN cho
các đối tượng thụ hưởng trên cơ sở dự toán được duyệt, được thủ trưởng cơ
quan, đơn vị sử dụng Ngân sách chuẩn chi và phù hợp với chính sách, chế độ,
tiêu chuẩn và định mức chi tiêu hiện hành của Nhà nước.
10
- Công tác quản lý và kiểm soát NSNN là một quy trình phức tạp từ lập dự toán,
phân bổ dự toán tới cấp phát, thanh toán, hạch toán và quyết toán NSNN, có liên
quan tới tất cả các Bộ, ngành, địa phương. Do đó yêu cầu công tác quản lý và
kiểm soát chi NSNN phải được tiến hành một cách chặt chẽ, thận trọng tuy
nhiên không được máy móc gấy phiền hà cho các đơn vị sử dụng kinh phí
NSNN cấp.
- Tổ chức bộ máy theo hướng gọn nhẹ, đơn giản hóa các thủ tục hành chính.
Đồng thời cũng cần phân định rõ ràng vai trò, trách nhiệm và quyền hạn của các
cơ quan quản lý ngân sách, các cơ quan Nhà nước, các đơn vị sử dụng kinh phí
NSNN, trong quá trình thực hiện chi NSNN từ khâu lập dự toán, cấp phát ngân
sách, thực hiện chi đến khâu thông tin, báo cáo, quyết toán chi NSNN để tránh
những trùng lặp, chồng chéo trong quá trình thực hiện. Mặt khác, đảm bảo sự
công khai, minh bạch và kiểm tra giám sát lẫn nhau giữa những cơ quan, đơn vị
đó trong quá trình kiểm soát chi NSNN.
- Kiểm soát chi NSNN cần được thực hiện đồng bộ, nhất quán và thống nhất với
việc quản lý NSNN từ khâu lập dự toán, chấp hành dự toán đến quyết toán
NSNN. Đồng thời phải thống nhất với việc thực hiện các chính sách, cơ chế
quản lý tài chính khác như chính sách thuế, phí và lệ phí, chính sách ổn định
phát triển kinh tế, …
1.3 Kho bạc Nhà nước và nhiệm vụ kiểm soát chi ngân sách nhà nước:
1.3.1 Chức năng nhiệm vụ của kho bạc nhà nước
Chính phủ) quyết định tại Nghị định số 155/HĐBT ngày 15/10/1988 về chức
năng nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Bộ Tài chính. Thực hiện nghị định của
Hội đồng Bộ trưởng, từ năm 1988 - 1989, Bộ Tài chính đã có đề án thành lập hệ
thống Kho bạc Nhà nước và tiến hành thử nghiệm tại hai tỉnh Kiên Giang (từ
tháng 10/1988) và An Giang (từ tháng 7/9189); kết quả cho thấy: việc quản lý
quỹ Ngân sách Nhà nước tại địa bàn hai tỉnh trên thực hiện tốt, tập trung nhanh
12