BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
PHẠM VĂN HOẰNG
SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC
MÔN GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ Ở CÁC TRƯỜNG
TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Giáo dục Chính trị
Mã số : 62.14.01.11
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Hà Nội - Năm 2015
Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Trần Đăng Sinh
2. TS. Nguyễn Thị Toan
Phản biện 1: PGS.TS. Trương Quốc Chính
Học viện Hành chính Quốc gia
Phản biện 2: GS.TS. Nguyễn Đình Kháng
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Phản biện 3: TS. Quách Tất Kiên
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Luận án sẽ được bảo vệ tại hội đồng chấm luận án cấp trường
họp tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Vào hồi… giờ…ngày…tháng…năm 2015
Có thể tìm hiểu luận án tại:
1. Thư viện quốc gia Việt Nam
2. Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội
3
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Đổi mới phương pháp dạy học là việc làm cần thiết nhằm thực hiện chủ
trương đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo. Giáo dục Việt Nam đang
thực hiện bước chuyển từ giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của
người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc người học học được cái gì đến chỗ quan
tâm người học vận dụng được cái gì qua việc học. Công nghệ thông tin đã làm thay
đổi toàn diện nội dung, phương thức dạy và học. Nó đã trở thành một phương
tiện hiệu quả để tiến tới một xã hội học tập. Mặt khác, giáo dục và đào tạo không
chỉ là đối tượng ứng dụng CNTT mà còn là động lực thúc đẩy sự phát triển của
CNTT thông qua việc cung cấp nguồn nhân lực cho CNTT. Như vậy CNTT vừa
là phương tiện vừa là mục đích của giáo dục và đào tạo.
1.2. Trong các trường TCCN ở nước ta môn GDCT là môn học có vai trò rất
quan trọng trong việc hình thành thế giới quan, nhân sinh quan cách mạng, bồi dưỡng
tư tưởng đúng đắn và xây dựng tình cảm cao đẹp cho học sinh.Việc sử dụng CNTT
trong dạy học môn GDCT ở các trường TCCN trong thời gian qua đã có những mặt
thành công nhất định nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập.
1.3. Từ thực trạng trên, việc đổi mới phương pháp dạy học môn GDCT ở các
trường trung cấp chuyên nghiệp là rất cần thiết. Tuy nhiên, việc sử dụng CNTT trong
dạy học môn GDCT còn thiếu bài bản, hệ thống, chưa đúng quy trình. Xuất phát, từ
tầm quan trọng của việc sử dụng CNTT trong dạy học môn GDCT ở các trường
TCCN, nghiên cứu sinh chọn “Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo
dục chính trị ở các trường trung cấp chuyên nghiệp” làm đề tài luận án của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Luận án nghiên cứu cơ sở lí luận, thực tiễn và đề xuất các biện pháp sử dụng
CNTT trong dạy học môn GDCT nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn
học này ở các trường TCCN hiện nay.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học môn GDCT ở các trường trung cấp chuyên nghiệp.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
6.2.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát: Quan sát thái độ, sự chú ý, biểu hiện hứng thú, tính tích
cực của HS trong dạy học có sử dụng CNTT qua các buổi dự giờ, giảng dạy.
Phương pháp điều tra xã hội học: Sử dụng phiếu hỏi với GV, HS để thu thập
thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp phỏng vấn giáo viên, học sinh, nhà quản lí
Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến các nhà khoa học trong xây dựng đề
cương, lựa chọn phương pháp xây dựng bộ phiếu khảo sát thực trạng.
Phương pháp thực nghiệm: Thực nghiệm sư phạm để phân tích, đánh giá, so
sánh nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng thông qua tác động của thực nghiệm, nêu
kết luận và kiến nghị.
6.2.3. Các phương pháp hỗ trợ
Sử dụng toán thống kê và phần mềm toán học để xử lý các số liệu thu được trong
điều tra thực trạng và thực nghiệm sư phạm nhằm rút ra những kết luận cần thiết.
7. Những luận điểm cần bảo vệ
7
Tính tất yếu khách quan của việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học
môn Giáo dục chính trị ở các trường trung cấp chuyên nghiệp.
Thực tiễn DH môn GDCT giáo viên đã sử dụng CNTT, tuy nhiên do chưa có
biện pháp tốt do đó hiệu quả đạt được chưa cao.
Việc xác lập một hệ thống biện pháp sử dụng CNTT trong DH môn GDCT ở các
trường TCCN một cách đồng bộ, hiệu quả sẽ góp phần nâng cao chất lượng DH môn học.
8. Những đóng góp của luận án
Luận án góp phần xây dựng cơ sở khoa học của việc sử dụng CNTT trong dạy học
môn GDCT ở các trường TCCN.
Phân tích nguyên nhân, thực trạng và đánh giá việc sử dụng CNTT trong DH môn
GDCT ở các trường TCCN.
Xây dựng hệ thống các biện pháp sử dụng CNTT trong DH môn GDCT góp phần
nâng cao chất lượng DH môn học ở nhà trường hiện nay.
9. Kết cấu luận án
Ba là, với tư cách là phương tiện dạy học, CNTT làm thay đổi cách dạy và cách
học, hỗ trợ đắc lực cho việc đổi mới PPDH, nâng cao chất lượng dạy học. Máy tính,
mạng Internet cùng với các phần mềm dạy học đã tạo ra môi trường dạy học đa phương
tiện, mô hình học tập mới làm cho người học có thể học tập bất cứ ở đâu, bất cứ thời
điểm nào, từ đó, có thể tích cực hoá, cá biệt hoá quá trình học tập của học sinh.
1.2. Một số công trình nghiên cứu về sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học
môn Giáo dục chính trị
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc sử dụng CNTT vào quá trình dạy
học, trong đó có việc sử dụng CNTT vào dạy học các môn Lý luận chính trị, tuy
nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu vấn đề sử dụng CNTT trong dạy học
môn Giáo dục chính trị ở trường TCCN. Đây chính là khoảng trống mà tác giả luận
án cần nghiên cứu để bổ sung và hoàn thiện trong luận án này.Tác giả luận án đã kế
thừa một số kết quả của các công trình khoa học nói trên; đó là tư liệu quý giá để quá
trình nghiên cứu luận án thêm cơ sở.
1.3. Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu
Một là, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn việc sử dụng CNTT trong
dạy học nói chung và dạy học môn GDCT ở các trường TCCN nói riêng; luận chứng ưu
thế của CNTT trong dạy học môn GDCT; về việc có thể sử dụng công nghệ thông tin ở
các hình thức, các khâu trong quá trình dạy học môn GDCT ở các trường TCCN;
Hai là, điều tra, đánh giá thực trạng của việc sử dụng CNTT trong dạy học môn
Giáo dục chính trị ở các trường TCCN.
Ba là, đề xuất một số nguyên tắc và biện pháp sử dụng công nghệ thông tin
trong dạy học môn GDCT ở các trường TCCN, các nhóm biện pháp chuẩn bị các
điều kiện để tổ chức dạy học theo hướng có sử dụng CNTT, nhóm các biện pháp sử
dụng CNTT để tổ chức dạy học trên lớp, nhóm các biện pháp sử dụng CNTT để
hướng dẫn học sinh tự học, nhóm các biện pháp sử dụng CNTT để tổ chức kiểm tra
đánh giá việc học tập môn GDCT.
Bốn là, tổ chức thực nghiệm sư phạm đánh giá hiệu quả các biện pháp đã đề
xuất trong luận án.
CHƯƠNG 2
sinh tương tác trong quá trình dạy và học. Giáo viên sử dụng CNTT tìm tài liệu hỗ trợ
dạy học và thiết kế, sử dụng giáo án điện tử, còn người học sử dụng CNTT làm
phương tiện trả bài theo yêu cầu của giáo viên.
CNTT là môi trường học tập tạo nên sự đa dạng về hình thức, phong phú về nội
dung và phương pháp; chuyển vai trò chủ động về người học. Giáo viên đóng vai trò cố
vấn, hướng dẫn; học sinh chủ động trong học tập về mặt thời gian, địa điểm, cách thức;
có thể nói, đây là môi trường xây dựng trường ảo, lớp ảo phục vụ cho việc học thật.
2.1.2. Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học
10
2.1.2.1. Mục tiêu sử dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao chất lượng dạy học
môn Giáo dục chính trị
Theo quan điểm tiếp cận thông tin thì bản chất của quá trình dạy và học chính là
quá trình truyền thông và thông tin. Do đó, trong dạy học quá trình truyền thông và
thông tin được thực hiện tốt thì quá trình dạy và học cũng sẽ thu kết quả tốt. CNTT là
tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện nhằm tổ chức, khai thác và sử
dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin. Các phương tiện chủ yếu là máy
tính, hệ thống máy tính và các thiết bị truyền thông. Với phương tiện này thì việc lựa
chọn, xử lý, lưu trữ và phân phối (truyền thông) thông tin rất nhanh chóng, chính xác
và hiệu quả. Nói cách khác, CNTT là phương tiện hữu hiệu hỗ trợ, tạo điều kiện
thuận lợi nhất cho quá trình thông tin và truyền thông. Vì vậy, có thể nói, CNTT là
phương tiện hữu hiệu hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho quá trình dạy học, nhằm
đạt được mục tiêu của dạy học, tức là đảm bảo được chất lượng dạy học.
Mặt khác, CNTT cũng là một phần trong nội dung dạy học ở nhà trường hiện
nay. Do đó, khi chất lượng dạy học được đảm bảo sẽ là tiền đề, động lực cho việc sử
dụng CNTT làm cho việc sử dụng CNTT vào quá trình dạy học càng đi vào chiều sâu
và hiệu quả hơn.
Việc sử dụng CNTT trong DH có tác dụng tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả
từng bài học và chất lượng DH bộ môn. Công việc này nếu được vận dụng thường
xuyên không chỉ giúp GV từng bước nâng cao trình độ chuyên môn, khả năng sử
dụng phương tiện kỹ thuật trong DH, mà còn tiết kiệm thời gian, sử dụng CNTT
chương, từng bài, từng đơn vị kiến thức.
Mức 4: Tích hợp CNTT vào quá trình dạy học. GV sử dụng máy tính ở tất cả
các khâu của quá trình dạy học, từ xây dựng kế hoạch dạy học, tổ chức thực hiện và
kiểm tra đánh giá đều được thực hiện trên máy tính, mạng máy tính.
Mức 5: Trường học thông minh,xây dựng các chương trình dạy học trên mạng,
HS có thể học mọi lúc, mọi nơi, mọi thứ, đây là xu thế trường học trong tương lai.
2.1.3.Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục chính trị ở các
trường trung cấp chuyên nghiệp
2.1.3.1.Khái quát chung về môn Giáo dục chính trị ở trường trung cấp chuyên nghiệp.
Giáo dục chính trị gồm những nội dung cơ bản của các môn khoa học Triết học
Mác-Lênin, Kinh tế chính trị Mác - Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tư tưởng Hồ Chí
Minh và Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chương trình môn Giáo
dục Chính trị có 75 tiết, gồm: Chương mở đầu Nhập môn Giáo dục chính trị (2 tiết);
Chương 1. Chủ nghĩa Mác- Lênin (20 tiết); Chương 2. Tư tưởng Hồ Chí Minh (10 tiết);
Chương 3. Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam (38 tiết); Chương 4. Tu
dưỡng, rèn luyện để trở thành người công dân tốt, người lao động tốt (5 tiết).
Đặc thù của môn học mang tính lý luận khái quát, tính trừu tượng, nội dung kiến
thức khó gắn với thực tiễn nên nội dung kiến thức dễ bị lạc hậu. Mặt khác thực tiễn
luôn vận động làm cho mâu thuẫn giữa kiến thức hàn lâm với tính thực tiễn của môn
học ngày càng tăng. Bên cạnh đó tâm lý học sinh, sinh viên coi môn học khó, khô
khan, khó tiếp thu, khó vận dụng vào thực tiễn khiến cho môn học càng thiếu sức hấp
dẫn với người học.
2.1.3.2. Khả năng sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục chính trị
ở các trường trung cấp chuyên nghiệp
Trong khâu thiết kế bài giảng, giáo viên dựa vào nội dung bài học, kết hợp
lượng thông tin bổ sung sẽ tự tìm cách thiết kế bài giảng phù hợp với đặc điểm tâm
sinh lí của học sinh và điều kiện thực tế của trường.
12
Trong tiến trình dạy học trên lớp, sau quá trình tìm kiếm, lựa chọn thông tin và
thiết kế bài giảng để tiến hành giảng trên lớp. bài giảng với các tư liệu được khai thác
Đối với học sinh:Người học phải có đủ trình độ nhận thức theo chuẩn mực chung
tức là người học phải đảm bảo một cách khách quan về trình độ nhận thức theo quy định
chung. Nếu người học không đủ trình độ nhận thức sẽ gặp nhiều khó khăn trong học tập,
quan trọng hơn là người dạy phải có phương pháp dạy học phù hợp để dạy được cả
người đủ trình độ nhận thức và người có trình độ nhận thức dưới mức quy định.
Đối với cán bộ quản lý: Lãnh đạo nhà trường phải có nhận thức cao về vai trò,
tầm quan trọng của CNTT trong việc nâng cao chất lượng dạy học, chủ động đổi mới
tư duy, phải hiểu rõ đây chính là xu thế tất yếu của thời đại, là cách tiếp cận đi tắt,
13
đón đầu, rút ngắn khoảng cách với các nền giáo dục chất lượng trên thế giới, từ đó, có
sự nhất trí và quyết tâm trong chủ trương đẩy mạnh sử dụng CNTT trong dạy học ở
nhà trường.
2.2. Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn
Giáo dục chính trị ở trường trung cấp chuyên nghiệp
2.2.1. Vài nét về các trường trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn khảo sát
Trường trung cấp chuyên nghiệp (Căn cứ Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 năm
2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục ngày 25 tháng 11 năm
2009) là những cơ sở đào tạo nhân lực lao động kỹ thuật có cơ cấu ngành nghề và
trình độ chuyên môn đa dạng, đáp ứng nhu cầu đa dạng và ngày càng cao của thị
trường lao động và đời sống xã hội trong điều kiện tiến bộ nhanh chóng của cuộc
cách mạng khoa học - công nghệ. Chất lượng đào tạo trong các trường trung cấp
chuyên nghiệp được hình thành trong quá trình tuyển sinh, tổ chức đào tạo và được
phản ánh trong kết quả học tập và rèn luyện đặc biệt là thể hiện qua năng lực hành
nghề, khả năng thích ứng và phát triển nghề nghiệp của học sinh tốt nghiệp. Đồng
thời, chất lượng đào tạo TCCN còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó các điều
kiện đảm bảo chất lượng chương trình, giáo viên, đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất có
vai trò quan trọng.
Nét chung của các trường trung cấp chuyên nghiệp đóng trên địa bàn Hà Nội
được thừa hưởng những điều kiện kinh tế -Xã hội với hạ tầng cơ sở vật chất tốt. Hà
Nội là trung tâm chính trị văn hóa của cả nước. Vì vậy mà các trường trung cấp
được vai trò quan trọng của việc dạy học môn GDCT bằng CNTT, nhằm phát huy
tính tích cực, chủ động cho HS góp phần nâng cao chất lượng dạy học hiện nay.
Tìm hiểu về nhận thức của HS đối với vị trí, ý nghĩa của môn học, thái độ học
tập của HS với môn học cũng như các PPDH mà GV đã áp dụng để dạy học môn
GDCT, HS hiểu như thế nào về việc sử dụng CNTT trong dạy học, các khó khăn mà
các em gặp phải khi áp dụng CNTT. Mặt khác, tác giả tiến hành đối chiếu, kiểm
nghiệm các dữ liệu thu thập từ GV. Hình thức, biện pháp GV và HS sử dụng CNTT
trong DH môn GDCT (phụ lục 4)
Kết quả điều tra 1197 HS cho thấy, có 1025 em (chiếm 85.6%) cho rằng GV chủ
yếu sử dụng CNTT khi DH các bài học nội khóa, trọng tâm là khâu tổ chức cho HS
nghiên cứu kiến thức mới. Việc sử dụng CNTT hỗ trợ cho hoạt động ngoại khóa hay tổ
chức các dạng trò chơi về môn học ít được quan tâm (chỉ có 252 ý kiến, chiếm 21.6%).
Do cơ sở vật chất và điều kiện học tập của HS hiện còn gặp nhiều khó khăn, những
hình thức, biện pháp GV yêu cầu các em sử dụng CNTT hỗ trợ cho việc học tập môn
học rất khó thực hiện. Tính phổ biến của các hình thức, biện pháp này chưa nhiều, chỉ
có thể áp dụng tại một số trường (có 95/1197 ý kiến, chiếm 7.9%). Chính vì điều kiện
khách quan chưa cho phép nên có tới (707/1197 ý kiến chiếm 59,2% ý kiến HS cho
rằng thầy, cô giáo chưa bao giờ yêu cầu HS sử dụng CNTT vào học tập. Tìm hiểu về
mức độ thường xuyên của việc sử dụng CNTT của GV qua ý kiến của HS (Phụ lục 5).
Nhìn vào bảng trên chúng ta thấy có 60 ý kiến chiếm (5.2%) số HS cho rằng GV
chỉ sử dụng CNTT một lần trên một tháng, có 201 ý kiến chiếm (16.7%) số HS cho
rằng GV chỉ sử dụng CNTT hai lần trên một than, có tới 593 ý kiến chiếm (49.5%) số
HS cho rằng thầy cố chỉ sử dụng CNTT vào thi hội giảng hay thi giáo viên dạy gỏi và
có tới 258 ý kiến chiếm (21.5%) số HS cho rằng chưa bao giờ GV sử dụng CNTT. Từ
các kết quả trên cho thấy, cách thức dạy học của GV còn nặng về PPDH truyền
thống, mức độ vận dụng các PPDH tích cực trong đó có CNTT còn hạn chế nên kết
quả dạy và học chưa cao.
Tìm hiểu về mức độ cần thiết và những khó khăn mà HS gặp phải khi học môn
GDCT có sử dụng CNTT . Số học sinh được hỏi cho rằng việc DH môn GDCT có sử
dụng CNTT là cần thiết. CNTT không những làm cho bài học thêm sinh động, hấp
mềm này muốn sử dụng được nhiều tính năng phải đăng ký mua bản quyền. Công ty
Bạch Kim cũng có trang web chứa thư viện GAĐT rất hữu ích để GV tham khảo.
Ngoài ra, GV còn sử dụng các phần mềm dạy học khác để thiết kế GAĐT
(chiếm 6,5%), tùy theo điều kiện và khả năng sử dụng CNTT của bản thân. Mặc dù,
số lượng GV sử dụng ít, nhưng những phần mềm dạy học này phục vụ chuyên sâu
cho dạy học bộ môn. Nếu GV biết sử dụng phần mềm dạy học bộ môn này thiết kế
GAĐT và giảng dạy thì hiệu quả mang lại rất cao. Muốn khai thác tốt những tính
năng hữu ích phục vụ dạy học của các phần mềm này đòi hỏi GV phải có trình độ
nhất định về CNTT, đồng thời phải dành nhiều thời gian tự học, nghiên cứu.
Phần lớn GV tự lực thiết kế GAĐT cho riêng mình (chiếm 42,2%). Điều này dễ
hiểu vì nó tuân thủ quy định ở trường TCCN, giáo án phải là hồ sơ riêng của từng GV.
16
Việc hợp tác với đồng nghiệp để thiết kế GAĐT chung cũng được nhiều GV lựa
chọn và thực hiện (chiếm 36,9%). Đây là việc làm hợp lý bởi vì thiết kế GAĐT đối
với nhiều GV cũng gặp nhiều khó khăn. Và qua cách này, GV có dịp được trao đổi
kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau về chuyên môn, về CNTT nhiều hơn.
Phân công theo nhóm trong tổ chuyên môn trong việc thiết kế GAĐT cũng được
một bộ phận GV đồng ý (chiếm 20,9%). Điều này chứng tỏ hiệu trưởng một số
trường cũng có quan tâm, chỉ đạo tổ chuyên môn hỗ trợ GV trong việc thiết kế
GAĐT. Đây là biện pháp rất đúng đắn để khuyến khích, động viên cũng như tăng
tính hiệu quả của việc giảng dạy bằng GAĐT.
Nguồn học liệu chủ yếu mà GV dùng để thiết kế GAĐT chính là sự hỗ trợ từ
đồng nghiệp, tổ chuyên môn (chiếm 58,2%). Việc GV tự lực khai thác trên mạng
Internet, đĩa CD-ROM còn hạn chế (chiếm 33,5%). Điều này cho thấy, đa số GV
thích trao đổi các học liệu với các đồng nghiệp hơn là phải tự mày mò, khai thác học
liệu trên mạng Internet. Do đó dễ dẫn đến sự giống nhau rập khuôn, không mới mẻ,
sáng tạo trong các GAĐT.
Việc sử dụng kho học liệu điện tử của trường trong việc thiết kế GAĐT còn ít
(chiếm 8,3%). Qua tìm hiểu, nguyên nhân là do các trường TCCN chưa xây dựng
được kho học liệu điện tử riêng, còn nếu có thì không được cập nhật thường xuyên
trên đây đã phần nào phản ánh thực trạng việc sử dụng CNTT và các PPDH khác
trong dạy học môn GDCT ở các trường trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn Hà Nội
hiện nay.
Tìm hiểu về mục đích sử dụng CNTT ( Phụ lục 1). Kết quả trên cho thấy, GV đã
quan tâm đến việc giúp HS lĩnh hội tri thức mới 100%) và liên hệ kiến thức lý luận với
thực tiễn 67,7%, hình thành kỹ năng kỹ xảo 51,0% trong khi sử dụng CNTT. Tuy
nhiên các mục đích khác thì chưa được quan tâm đúng mức. Chẳng hạn như: ôn tập và
củng cố kiến thức 14,7%, khái quát và hệ thống hoá kiến thức 16,7%. Đây là một hạn
chế cần khắc phục nếu sử dụng CNTT chỉ nhằm mục đích là lĩnh hội tri thức mới thì
chưa thể phản ánh và khai thác hết tất cả những ưu thế và hiệu quả của CNTT.
Khi tìm hiểu những khó khăn mà GV gặp phải trong quá trình dạy học có sử
dụng CNTT (Phụ lục 5). Những hạn chế, khó khăn và cách khắc phục của GV khi sử
dụng CNTT trong DH môn GDCT. Ở câu hỏi này, GV gặp nhiều khó khăn, hạn chế
khi sử dụng CNTT trong DH, như: đời sống của GV thấp, điều kiện cơ sở vật chất
của nhà trường chưa đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng CNTT cho tất cả các bộ môn
(90.7%); trình độ tin học của GV, do chưa được đào tạo đồng bộ và phù hợp với
chuyên ngành (86.4%). Tuy HS tỏ ra hào hứng sôi nổi nhưng các em không chép kịp,
chỉ thích xem hình ảnh (82.2%). Để khắc phục những hạn chế và khó khăn này, 95%
ý kiến cho rằng GV cần phải nắm vững kiến thức chuyên môn và kỹ năng sử dụng
CNTT có 94.9% đồng ý phải được trang bị đầy đủ lý luận, PPDH bộ môn, có kỹ năng
và nghiệp vụ sư phạm tốt. Đồng thời, GV phải nhận thức đúng đắn về vai trò, ý nghĩa
của CNTT để vận dụng vào nâng cao chất lượng DH môn GDCT (91.5%).
Để đánh giá thực trạng sử dụng CNTT trong dạy học môn GDCT chúng tôi điều
tra 1197 HS và 118 GV ở 5 trường TCCN trên địa bàn Hà Nội với 2 câu hỏi về nhận
thức, hiểu biết của GV và HS về môn GDCT và chất lượng DH . Theo bảng điều tra,
mặc dù GV và HS đều nhận thức được vai trò, ý nghĩa của môn GDCT trong việc hình
thành thế giới quan và phương pháp luận cho học sinh theo (điều tra có 797 ý kiến,
chiếm 66.7%, nhưng quan niệm môn phụ, môn học thuộc vẫn còn (161 ý kiến, chiếm
13.4%). Chính vì thế, cho dù chất lượng DH đã được cải thiện nhưng chưa tương xứng
với vị trí của môn học, nhiều em chán học và điểm thi còn thấp (866 ý kiến, chiếm
kiểm tra đánh giá. Những năm gần đây, các trường TCCN đều đã chú trọng vào
đổi mới phương pháp dạy học môn GDCT. Vì có đổi mới căn bản phương pháp
dạy học thì chúng ta mới có thể tạo được sự đổi mới thực sự trong giáo dục, mới
có thể đào tạo được lớp người năng động, sáng tạo có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ
trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức.Trong
những năm qua, có rất nhiều giáo viên ở trường TCCN là những người yêu nghề,
say sưa với công tác giảng dạy, lo lắng, đầu tư cho chuyên môn, tìm mọi biện pháp
để có giờ dạy tốt, học tốt.
Nhiều giảng viên đã cố gắng vượt qua những khó khăn về cơ sở vật chất, về đời
sống để sáng tạo các hình thức tổ chức dạy học, đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng tích cực, tìm cách truyền cho người học những cảm hứng trong giờ học. Nhiều
trường đã tổ chức nhiều hoạt động chuyên môn, sinh hoạt chuyên đề, hội thảo về đổi
mới PPDH, ứng dụng công nghệ thông tin vào trong dạy học, tổ chức khai thác kênh
19
hình, kênh tiếng, bổ sung thêm nguồn tư liệu dạy học, tổ chức hội giảng, viết sáng
kiến kinh nghiệm.
Những hoạt động chuyên môn đó ít nhiều đã đạt hiệu quả bước đầu. Nhiều giờ
học đã diễn ra sinh động, hấp dẫn hơn, người học tích cực làm việc, không khí học
tập sôi nổi, hứng thú hơn.Thực tiễn DH môn GDCT ở trường TCCN những năm gần
đây cho thấy có bước tiến đáng kể về mặt nhận thức, nội dung, PP và chất lượng DH.
Số liệu những cuộc thi GV dạy giỏi, thi Olympic môn GDCT, thi HS giỏi các cấp và
thi tốt nghiệp môn GDCT hàng năm chứng tỏ sự quan tâm của các cấp, các ngành và
của xã hội về vị trí, vai trò của môn học. Việc đổi mới nội dung chương trình, giáo
trình của Bộ GD&ĐT theo hướng tăng kênh hình, giảm kênh chữ đã tạo ra sự hứng
thú và giảm bớt áp lực cho HS khi học môn GDCT.
Những mặt hạn chế: Bên cạnh những mạt đạt được nói trên, vẫn còn những
vấn đề tồn tại, yếu kém, bất cập trong việc đổi mới nói chung, đổi mới PPDH nói
riêng.Hạn chế đó đã ảnh hưởng lớn tới chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy bộ
môn GDCT ở các trường TCCN.Nhìn chung, phương pháp dạy học môn GDCT ở
trường TCCN vẫn chậm biến đổi. Việc đổi mới phương pháp dạy học không diễn
hứng thú học tập cho người học.
Thứ năm, một bộ phận người học hiện nay chưa nhận thức đúng về vị trí, vai
trò của môn GDCT trong nhà trường, Nhiều em khi được hỏi “Học GDCT để làm
gì ?” thì tỏ ra khá mơ hồ, không xác định được. Vì không hiểu nên không yêu
thích, không say mê và chỉ học để đối phó với thi cử, kiểm tra. Phương pháp học
cũng rất hạn chế, phần lớn người học chỉ học thuộc lại những gì GV cho ghi trên
lớp, hoặc chi tiết hơn thì học trong giáo trình.
2.2.2.6. Các nguyên nhân ảnh hưởng đến việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy
học môn Giáo dục chính trị ở các trường trung cấp chuyên nghiệp
Về nội dung môn học: Nội dung, chương trình môn học ôm đồm, mang tính lý
luận cao. Kiến thức tổng hợp gồm nhiều nội dung về: Triết học, Kinh tế chính trị,
Đường lối cách mạng Việt Nam, Tư tưởng Hồ Chí Minh. Tri thức của môn học là
những khái niệm, nguyên lý, quy luật, phạm trù rất trừu tượng, khó hiểu, trong khi đó
thì thời gian quy định ít, vì là môn học chung cho tất cả các ngành, thường là lớp
ghép, số lượng học sinh đông. Một số nội dung của môn học ngày càng lạc hậu, nặng
tính tư biện. Hiện tượng bảo thủ, lạc hậu, chậm đổi mới về PPDH của một bộ phận
GV cũng ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng bộ môn.
Về phía giáo viên: Việc đào tạo GV môn GDCT cho các trường TCCN chưa
đồng bộ. GV ở trường TCCN hiện nay được đào tạo từ nhiều nguồn: ĐHSP Hà Nội,
ĐHSP vùng, địa phương nhưng chưa được kiểm định chất lượng kỹ ở đầu ra. Chương
trình và chất lượng giữa các cơ sở đào tạo lại có nhiều khác biệt, nên chất lượng GV
không đồng đều. Nhưng trong thực tế, theo số liệu điều tra cho thấy, vẫn còn những
GV thiếu kiến thức cả về lý thuyết lẫn thực tiễn xã hội, năng lực sư phạm còn hạn
chế, hơn nữa không linh hoạt trong việc vận dụng các PPDH, tiếp cận các PPDH mới
trong đó có sử dụng CNTT còn lúng túng, trình độ của các GV không đồng đều, sử
dụng CNTT được đánh giá là một PPDH tích cực, song với thực tế việc sử dụng CNTT
không phải dễ dàng với mọi GV, với mọi bài học
Về phía học sinh: Hầu hết học sinh vào học các trường TCCN là những học sinh
không đủ điểm vào các trường Đại học, Cao đẳng, trình độ kiến thức phổ thông chỉ
đạt mức trung bình trở xuống. Do cấp học chỉ là nơi chờ thi đại học vào năm sau, hơn
Thứ hai, cách thức dạy học phải phù hợp tâm sinh lý lứa tuổi. Dạy học là một
nghệ thuật, mỗi GV khi đứng trên bục giảng với những thủ thuật dạy học sẽ hướng
người học đi từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, đưa quá trình
nhận thức của HS từ cụ thể đến trừu tượng, có như vậy mới phù hợp với khả năng
tiếp thu của đối tượng. .
Thứ ba, cần phân loại đối tượng người học để có phương pháp DH phù hợp. Mỗi
lớp học, đối tượng người học không đồng đều với nhiều mức độ nhận thức khác
nhau. Có những HS mức độ nhận thức khá nên khi GV giảng dạy hoặc nêu vấn đề
trên lớp, những HS này tiếp thu bài học nhanh chóng, cũng có nhiều HS mức độ nhận
thức ở mức trung bình và có cả những HS nhận thức chậm hơn các bạn. Chính vì
mức độ nhận thức không đều, nên GV phải biết phân loại đối tượng để áp dụng
PPDH phù hợp.
22
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ
Nguyên tắc này khi sử dụng CNTT trong DH môn GDCT, cần vận dụng các PP và
phương tiện DH hiện đại đúng lúc, đúng chỗ và đúng độ. Đúng lúc là việc chọn thời điểm
sử dụng thích hợp, phù hợp với nội dung kiến thức và các PPDH đặc trưng, cũng như
nhu cầu và trạng thái tâm lý của HS. Nghĩa là, dạy tới đơn vị kiến thức nào liên quan,
GV kích chuột cho đối tượng xuất hiện, rồi hướng dẫn HS khai thác kiến thức.
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả
Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu GV phải quán triệt, để
không biến giáo án điện tử thành bài chiếu chép. Hiệu quả của việc sử dụng CNTT trong
dạy học phụ thuộc rất lớn vào GV, trong đó có ý tưởng sư phạm. GV hãy coi CNTT là
một công cụ dạy học như các công cụ khác và khai thác nó ở những khả năng mà các
công cụ khác thể hiện chưa tốt, hay không thể hiện được, chứ đừng lạm dụng nó.
3.2. Các nhóm biện pháp sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo
dục chính trị ở các trường trung cấp chuyên nghiệp
3.2.1. Nhóm biện pháp chuẩn bị các điều kiện để sử dụng CNTT trong dạy môn
Giáo dục chính trị
3.2.1.1. Bồi dưỡng nâng cao trình độ sử dụng công nghệ thông tin cho giáo viên dạy
nâng cao chất lượng DH môn GDCT.
3.2.2. Nhóm biện pháp sử dụng công nghệ thông tin để tổ chức dạy học môn Giáo
dục chính trị
3.2.2.1. Sử dụng công nghệ thông tin để tổ chức dạy học môn Giáo dục chính trị trên
lớp
Thứ nhất, sử dụng CNTT để kiểm tra kiến thức GDCT. Kiểm tra bài cũ cần áp
dụng trắc nghiệm kết hợp với tự luận; tránh dùng những câu hỏi trực quan, cảm tính
để vừa thể hiện sự kế thừa trong PP kiểm tra đánh giá truyền thống, vừa đổi mới PP
kiểm tra đánh giá với sự hỗ trợ của CNTT.
Thứ hai, sử dụng CNTT để hướng dẫn học sinh học kiến thức mới.
Thứ ba, sử dụng CNTT để hướng dẫn HS khai thác tư liệu phù hợp với chức
năng, mục đích sử dụng kênh hình theo loại: loại minh họa, cụ thể hóa nội dung sự kiện
quan trọng; loại cung cấp thông tin; loại vừa cung cấp thông tin, vừa minh họa cho kênh
chữ; loại dùng để rèn luyện kỹ năng thực hành và kiểm tra kiến thức HS đã học.
Thứ tư, sử dụng CNTT để hướng dẫn học sinh khai thác sơ đồ, biểu đồ từ đơn
giản đến phức tạp để minh họa, hay cụ thể hóa kiến thức, góp phần nâng cao hiệu quả
bài học.
Thứ năm, sử dụng CNTT để hướng dẫn học sinh khai thác phim tài liệu ghi lại
diễn biến sự kiện xảy ra với hình ảnh chân thực, lời bình, âm thanh, hoạt cảnh và tình
tiết giáo dục cao.
Thứ sáu, sử dụng CNTT để hướng dẫn học sinh củng cố và mở rộng kiến thức giúp
HS “tự tái hiện lại”, khái quát lại kiến thức bài học bằng ngôn ngữ diễn đạt của mình
nhằn giúp HS tự mình ôn lại kiến thức vừa học theo hệ thống góp phần nâng cao chất
lượng giờ học.
3.2.2.2. Sử dụng công nghệ thông tin để hướng dẫn học sinh tự học, tổ chức các hoạt
động ngoại khóa môn Giáo dục chính trị ở các trường trung cấp chuyên nghiệp
Một là tìm kiếm tư liệu liên quan đến chủ đề, địa điểm thăm quan, thực tế trên
mạng, sát với việc chuẩn bị học bài mới trên lớp hoặc sau khi đã học nhằm mở rộng,
hiểu sâu hơn kiến thức đã học.
Hai là hưởng ứng kỷ niệm các ngày lễ lớn bằng cách dùng CNTT tìm hiểu đất
CHƯƠNG 4
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
4.1. Kế hoạch thực nghiệm sư phạm
4.1.1.Mục đích thực nghiệm sư phạm
Xác nhận tính đúng đắn của giả thuyết khoa học và việc đổi mới PPDH môn
GDCT ở các trường TCCN có sự hỗ trợ của CNTT là cần thiết. Kiểm nghiệm tính hiệu
quả, khả thi về các biện pháp sử dụng CNTT nhằm nâng cao chất lượng DH môn
GDCT ở trường TCCN trên địa bàn Hà Nội mà Luận án đã đề xuất.
4.1.2. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm sư phạm
Đối tượng TN là HS các năm học 2011-2012, 2012-2013, 2013-2014
25
Địa bàn TN là các trường TCCN trên địa bàn thành phố Hà Nội nên có tính đa
dạng, phổ biến.
Tiêu chí lựa chọn lớp học TN và ĐC phải tương đương nhau về số lượng, trình
độ, năng lực nhận thức của HS. Mỗi trường dạy TN đều có lớp ĐC1 và ĐC2 để tạo
cơ sở khách quan, phổ biến khi đối chiếu, so sánh với lớp TN.
4.1.3. Giáo viên thực nghiệm sư phạm
Giáo viên phải nắm vững kiến thức chuyên ngành, lý luận DH bộ môn, có nghiệp vụ
sư phạm, ủng hộ tinh thần đổi mới và am hiểu nhất định kỹ năng sử dụng CNTT trong
dạy học môn GDCT.
Nghiên cứu sinh cũng trực tiếp tiến hành TN sư phạm ở một số trường TCCN,
trong quá trình giảng dạy.
4.2. Phương pháp thực nghiêm sư phạm và quá trình chuẩn bị
4.2.1.Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Luận án sử dụng hai loại giáo án (Word và giáo án điện tử), cung cấp nguồn học
liệu điện tử để GV nghiên cứu trước, chuẩn bị tốt cho các khâu dạy học trên lớp.
Thực nghiệm sư phạm mang tính tổng hợp nhiều mặt, nên cần kết hợp nhiều
hình thức, biện pháp và các khâu khác nhau trong một tiết dạy, từ kiểm tra bài cũ đến
củng cố, cuối cùng là hướng dẫn HS làm bài tập ở nhà.
4.2.2.Quá trình chuẩn bị thực nghiệm sư phạm