thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự ở Việt Nam - Pdf 29

mở đầu
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Bản án, quyết định của Tòa án nhân danh Nhà nớc khi đợc chấp hành
nghiêm chỉnh có tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với pháp luật.
Vì vậy, hoạt động thi hành án có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giữ
vững kỷ cơng phép nớc, củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa,
đảm bảo cho quyền lực t pháp đợc thực thi trên thực tế. Hiến pháp 1992 khẳng
định: "Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật
phải đợc các cơ quan nhà nớc, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ
trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những ngời và đơn vị hữu quan
nghiêm chỉnh chấp hành".
Nhận thức đợc tầm quan trọng trong công tác này, Đảng và Nhà nớc ta
đã đề ra mục tiêu trong những năm tới đây là phải: "Tiếp tục tạo sự chuyển biến
mạnh mẽ trong công tác thi hành án dân sự, nâng cao hiệu quả công tác thi
hành án, giải quyết căn bản tình trạng án tồn đọng. Đổi mới tổ chức và hoạt
động của hệ thống cơ quan thi hành án dân sự, nâng cao vai trò trách nhiệm của
các cơ quan thi hành án" [1].

Nhiều năm qua, Chính phủ đã xác định công tác
thi hành án dân sự là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và đã đa ra nhiều
giải pháp hiệu quả nhằm tạo sự chuyển biến cơ bản trong công tác này. Do vậy,
công tác thi hành án dân sự trong những năm qua đạt đợc một số kết quả đáng
khích lệ, mà kết quả nổi bật nhất theo đánh giá của Chính phủ là: "Hệ thống cơ
quan thi hành án dân sự đợc hình thành trong cả nớc, công tác thi hành án dân
sự đã đợc triển khai và hoạt động có hiệu quả bớc đầu" [35]. Tuy nhiên, bên
cạnh đó, công tác thi hành án dân sự hiện vẫn đang đứng trớc những khó khăn,
thử thách to lớn với nhiều vấn đề tồn tại, bất cập đang đặt ra cần đợc giải quyết.
Hiệu quả công tác thi hành án dân sự cha cao, cha đáp ứng đợc yêu cầu nhiệm
1
vụ, và sự quan tâm, mong mỏi của Đảng, Nhà nớc và nhân dân; hoạt động thi
hành án cha thật sự đảm bảo đợc tính công bằng và nghiêm minh của pháp luật.

Những năm gần đây, trớc những đòi hỏi khách quan của công tác thi hành
án dân sự, đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề thi hành án dân
sự, cụ thể là: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ "Những cơ sở lý luận và thực
tiễn về chế định Thừa phát lại", mã số 95-98-114/ĐT do Viện Nghiên cứu
Khoa học Pháp lý - Bộ T pháp và Sở T pháp Thành phố Hồ Chí Minh chủ trì
thực hiện; Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: "Mô hình quản lý thống nhất công tác thi
hành án", mã số 96-98- 027/ĐT do Cục Thi hành án dân sự - Bộ T pháp chủ trì
thực hiện; Đề tài cấp Nhà nớc đang thực hiện: "Luận cứ khoa học của việc đổi
mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới" do Bộ T
pháp chủ trì; Đề tài: "Thi hành án dân sự, thực trạng và hớng hoàn thiện của Dự
án VIE/98/001" do Bộ T pháp chủ trì thực hiện dự án. Một số luận án và công
trình nghiên cứu khác nh: Luận văn thạc sĩ luật học: "Các biện pháp cỡng chế
thi hành án dân sự, thực tiễn áp dụng và hớng hoàn thiện" của tác giả Nguyễn
Công Long; Luận văn thạc sĩ luật học "Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân
sự" của tác giả Nguyễn Thanh Thủy; Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Lê Xuân
Hồng về "Xã hội hóa thi hành án dân sự ở Việt Nam"; Luận văn thạc sĩ luật học
của tác giả Nguyễn Quang Thái về "Đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án
dân sự ở Việt Nam"; Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Lê Anh Tuấn về "Đổi
mới thủ tục thi hành án dân sự ở Việt Nam"... Bên cạnh đó là Giáo trình môn
Luật tố tụng dân sự của trờng Đại học luật Hà Nội và các trờng Đại học có
chuyên ngành luật; một số bài viết đăng trên các tạp chí Dân chủ và pháp luật,
Tạp chí Luật học, Tạp chí Nhà nớc và pháp luật
Các công trình nêu trên đã có nội dung nghiên cứu về thi hành án dân sự
ở những góc độ, khía cạnh và mức độ khác nhau. ở một số công trình cũng đã
đề cập đến vấn đề thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án
3
dân sự, nhng cha có công trình nào nghiên cứu vấn đề đó một cách toàn diện,
chuyên sâu.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục tiêu

hành án và thi hành án dân sự, góp phần bổ sung, làm phong phú thêm cho hoạt
động nghiên cứu khoa học về pháp luật thi hành án.
- Từ việc đánh giá thực trạng pháp luật thi hành án dân sự, tác giả đã đa
ra đợc những điểm bất cập cần sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống pháp
luật thi hành án dân sự.
- Từ việc đánh giá thực tiễn thi hành án dân sự, tác giả đã phân tích
những nguyên nhân và đa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành
án dân sự.
7. Kết cấu của luận văn
ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chơng:
Chơng 1: Cơ sở lý luận về thi hành án dân sự.
Chơng 2: Thực trạng pháp luật thi hành án dân sự và thực tiễn thi hành
án dân sự.
Chơng 3: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự.
5
Chơng 1
Cơ sở lý luận về thi hành án dân sự
1.1. Khái niệm, bản chất thi hành án dân sự
1.1.1. Khái niệm, bản chất thi hành án
Kể từ khi hoạt động thi hành án dân sự đợc chuyển giao từ Tòa án nhân
dân các cấp sang các cơ quan của Chính phủ thì khái niệm thi hành án (nhất là
thi hành án dân sự) trở thành đề tài tranh luận sôi nổi trên diễn đàn khoa học
pháp lý. Có nhiều quan điểm khác nhau dựa trên những lập luận và cách tiếp
cận khác nhau về thi hành án nhng trong đó nổi lên hai quan điểm cơ bản, đó là
quan điểm coi thi hành án là giai đoạn tố tụng và quan điểm coi thi hành án là
hoạt động hành chính - t pháp [27].
Quan điểm thứ nhất cho rằng, thi hành án là giai đoạn cuối cùng của
quá trình tố tụng. Theo quan điểm này thì thi hành án là giai đoạn nằm trong
quá trình giải quyết vụ án, theo đó giai đoạn tố tụng trớc của giai đoạn xét xử là

Bởi vì, gốc của hoạt động thi hành án là bản án, quyết định của Tòa án và các
quyết định theo quy định của pháp luật. Khi thực hiện nhiệm vụ, Cơ quan thi
hành án phải thi hành theo đúng quyết định của Tòa án chứ không phải theo
mệnh lệnh hành chính. Thi hành án phần lớn thông qua vai trò hoạt động của
các cá nhân những ngời đợc Nhà nớc giao trách nhiệm thi hành các bản án,
quyết định nh Chấp hành viên, Giám thị viên hoặc các cơ quan tổ chức và ngời
có thẩm quyền khác. Hoạt động hành chính trong lĩnh vực thi hành án chẳng
qua cũng chỉ để đảm bảo phục vụ cho chức năng chính của cơ quan thi hành án
là tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật. Nếu cho rằng thi hành án
(nhất là thi hành án dân sự) là giai đoạn độc lập có tính hành chính - t pháp vì
7
hoạt động thi hành án đợc thực hiện chủ yếu bởi các cơ quan của Chính phủ là
không hợp lý vì một hoạt động mang bản chất nh thế nào không thể phụ thuộc
nhiều vào chủ thể thực hiện nó.
Quan điểm thứ t, coi thi hành án là thủ tục tố tụng t pháp [38, tr. 11]. Theo
tác giả thì không nên hiểu "tố tụng" chỉ là "tha kiện tại Tòa án nói chung", là hoạt
động của cơ quan Tòa án xét xử để đi tìm "chân lý", mà cần xem xét đến bản
chất của tố tụng. Đó là việc thực hiện các quy định của pháp luật hình thức theo
thủ tục nhất định để giải quyết các quan hệ xã hội theo đúng sự điều chỉnh của
pháp luật nội dung nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nớc, quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân. Tố tụng đợc thực hiện bởi nhiều cơ quan, hoạt động nào
tuân theo thủ tục do pháp luật hình thức quy định là hoạt động tố tụng. Do đó có
nhiều loại tố tụng: tố tụng dân sự, tố tụng hình sự, tố tụng hành chính, tố tụng
thi hành án. Ngoài ra, khi xem xét về tính chất của việc thi hành án, thì tất cả
các bản án, quyết định của Tòa án và của Trọng tài đều có tính chất t pháp hiểu
theo nghĩa rộng, tức không chỉ là việc xét xử mà bao gồm cả lĩnh vực bổ trợ t
pháp. Vì tất cả những lý do nêu trên thi hành án đợc hiểu theo nghĩa rộng là thủ
tục tố tụng t pháp.
Mỗi quan điểm trên đều có những lập luận và cơ sở khoa học riêng. Tuy
nhiên, theo chúng tôi, quan điểm thứ hai coi thi hành án là hoạt động hành chính-

- Thi hành án chủ yếu do cơ quan t pháp (theo nghĩa rộng) tiến hành.
Có nhiều cơ quan tham gia vào quá trình thi hành án, nhất là trong việc
tổ chức thi hành án các bản án và quyết định phức tạp. Nhng thực tế đã chứng
minh vai trò của các cơ quan t pháp là hết sức quan trọng. Trong hoạt động thi
hành án dân sự, cơ quan thi hành án là Phòng Thi hành án thuộc Sở T pháp, Đội
Thi hành án thuộc phòng T pháp..... Ngoài ra còn có sự phối hợp của các cơ
quan, tổ chức khác nh Công an, tài chính...
9
- Hoạt động của cơ quan thi hành án phần lớn thông qua vai trò của các
cá nhân nh Chấp hành viên, Giám thị viên... những ngời đợc Nhà nớc giao trách
nhiệm thi hành các bản án, quyết định của Tòa án. Khi thi hành nhiệm vụ họ
chỉ tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trớc pháp luật và đợc pháp luật bảo vệ.
Điều đó thể hiện tính độc lập rất cao trong hoạt động nghiệp vụ thi hành án.
- Cơ sở để tiến hành các hoạt động thi hành án. Bao gồm các quy định
của pháp luật (đợc thể hiện trong các văn bản qui phạm pháp luật) và các bản
án, quyết định của Tòa án và các quyết định khác theo quy định của pháp luật
(văn bản áp dụng pháp luật).
- Mục đích của hoạt động thi hành án là đảm bảo cho nội dung của các
bản án, quyết định nói trên đợc thực thi trên thực tế.
Xuất phát từ những đặc điểm nêu trên của thi hành án, có thể hiểu thi
hành án là hoạt động hành chính - t pháp của Nhà nớc, do các cơ quan Nhà
nớc, ngời có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục luật định, nhằm đảm
bảo thi hành các bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định khác của cơ
quan có thẩm quyền.
1.1.2. Khái niệm, bản chất thi hành án dân sự
Vì thi hành án dân sự là một loại hình của thi hành án, nên cũng có thể
hiểu thi hành án dân sự là hoạt động hành chính - t pháp của Nhà nớc, do cơ
quan thi hành án tiến hành theo một trình tự, thủ tục luật định, nhằm đảm bảo
thi hành các bản án, quyết định về dân sự của Tòa án hoặc quyết định khác
của cơ quan có thẩm quyền.

Nhà nớc đợc trở thành hiện thực, công lý xã hội đợc thực hiện. Quá trình giải
quyết một vụ án chỉ kết thúc khi bản án quyết định của Tòa án đợc thi hành
kịp thời và đầy đủ. Nếu công tác thi hành án dân sự không đợc quan tâm và
không có hiệu quả thì sẽ ảnh hởng tiêu cực, tác động đến toàn bộ hoạt động
11
của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, trật tự kỷ cơng xã hội bị vi phạm, quyền
lực nhà nớc bị xem thờng, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm hại.
Thi hành án dân sự đạt hiệu quả sẽ mang lại niềm tin cho nhân dân đối với
tính nghiêm minh của pháp luật, góp phần lập lại kỷ cơng, tăng cờng pháp chế
xã hội chủ nghĩa. Ngợc lại, một bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực
pháp luật mà không đợc thi hành trên thực tế cho thấy sự thiếu nghiêm minh
của pháp luật, dễ gây ra sự mất đoàn kết, xung đột kéo dài trong nhân dân, tạo
kẽ hở để các phần tử phản động lợi dụng tuyên truyền lôi kéo nói xấu chế độ,
kích động thù hận, gây chia rẽ trong nội bộ nhân dân.
* Thi hành án là thớc đo hiệu quả hoạt động xét xử của Tòa án và
hoạt động t pháp khác
Hoạt động điều tra, truy tố và xét xử diễn ra rất phức tạp và tốn kém,
song những hoạt động đó có thể chỉ là con số không nếu nh bản án, quyết định
của Tòa án không đợc đa ra thi hành trên thực tế. Với ý nghĩa đó, thi hành án
dân sự là một hoạt động không thể thiếu đợc trong quá trình bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của đơng sự. Thông qua thi hành án, kết quả của công tác xét xử
đợc củng cố, hiệu lực các bản án, quyết định của Tòa án đợc đảm bảo. Mặt
khác, thi hành án dân sự còn là giai đoạn kiểm nghiệm qua thực tiễn những
phán quyết của Tòa án, phản ánh, trung thực chất lợng và hiệu quả của hoạt
động xét xử. Vì nếu nh bản án tuyên đúng với bản chất, hiện thực khách quan,
có lý, có tình thì trong quá trình thi hành án sẽ thuận lợi hơn những trờng hợp
bản án, quyết định của Tòa án không đúng sự thật, không phù hợp với thực tế
khách quan. Thực tế cho thấy có nhiều vụ việc đơng sự không tự nguyện thi
hành hoặc gửi đơn khiếu nại, tố cáo đi nhiều nơi không phải vì cơ quan thi hành
án làm sai mà vì không đồng tình với quyết định của Tòa án nên cố tình trì hoãn

13
Sau Cách mạng tháng tám 1945, Nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa ra
đời, hệ thống t pháp mới đợc thiết lập trong cả nớc. Trên cơ sở Sắc lệnh ngày
10/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc giữ tạm thời các luật, lệ hiện
hành ở Bắc, Trung, Nam bộ cho đến khi ban hành những Bộ luật chung thống
nhất cho toàn quốc, nếu những đạo luật ấy "không trái với những nguyên tắc độc
lập của Nhà nớc Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa", chế định Thừa phát
lại tiếp tục đợc duy trì. Tại Nghị định số 37 ngày 01/12/1945 về tổ chức Bộ T
pháp, phòng giám đốc Hộ vụ đợc thành lập, trong đó có Ban công lại thực hiện
nhiệm vụ quản lý Thừa phát lại. Cũng theo tinh thần Sắc lệnh 10/10/1945 nói
trên, những quy định về thủ tục thi hành án dân sự tiếp tục đợc áp dụng, đáp
ứng yêu cầu hoạt động t pháp trong những năm đầu của chính quyền cách mạng
[6]. Ngày 20/11/1994, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa
ký Sắc lệnh số 13 về tổ chức các Tòa án và các ngạch thẩm phán đã đặt cơ sở
pháp lý đầu tiên cho tổ chức thi hành án dân sự Việt Nam. Tại khoản 3, Điều 3
của Sắc lệnh qui định: Ban t pháp xã có quyền thi hành những mệnh lệnh của
thẩm phán cấp trên.
Nh vậy, tổ chức thi hành án dân sự đã đợc hình thành ngay trong những
năm đầu Cách mạng tháng Tám thành công và tồn tại dới hai hình thức là: Thừa
phát lại và Ban t pháp xã. Tuy tồn tại hai lực lợng thi hành án, nhng việc thực
hiện thi hành án do Thừa phát lại hay Ban t pháp xã tiến hành, đều thể hiện
quyền lực nhà nớc và đợc đảm bảo bởi sức mạnh cỡng chế của Nhà nớc. Điều
này đợc thể hiện tại Sắc lệnh số 130 ngày 19/7/1945 của Chủ tịch Chính phủ
Việt Nam dân chủ cộng hòa. Điều thứ nhất của Sắc lệnh này quy định: "Các bản
toàn sao hoặc trích sao bản án hoặc mệnh lệnh do các phòng Lục sự phát cho
các đơng sự để thi hành bản án, hoặc mệnh lệnh của các Tòa án hộ đều có thể
thức thi hành, ấn định". "Vậy, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa
truyền cho các Thừa phát lại theo yêu cầu của đơng sự thi hành bản án này, các
ông Chởng lý, và Biện lý kiểm sát việc thi hành án, Cai thị chỉ huy binh lực giúp
đỡ mỗi khi đơng sự chiếu luật yêu cầu".

Nhà nớc không tổ chức cơ quan thi hành án dân sự riêng mà chỉ đặt
Chấp hành viên tại các Tòa án nhân dân địa phơng để thực hiện chuyên trách
việc thi hành án dân sự. Chấp hành viên có nhiệm vụ thi hành những bản án,
quyết định về dân sự, những khoản xử phạt tiền, tịch thu tài sản, bồi thờng, hoàn
trả lại tài sản trong các bản án, quyết định hình sự; giúp Chánh án Tòa án nhân
dân đôn đốc, kiểm tra công tác thi hành án tại các Tòa án nhân dân cấp dới.
Chấp hành viên thực hiện nhiệm vụ dới sự chỉ đạo của Chánh án Tòa án nhân
dân nơi mình công tác. Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, Chấp hành viên có
quyền định cho đơng sự một thời hạn để thi hành án, áp dụng biện pháp cỡng chế
mà pháp luật cho phép sau khi có sự thỏa thuận của Chánh án nơi Chấp hành
viên công tác, yêu cầu lực lợng bảo vệ trật tự trị an giúp sức khi cần thiết, đề nghị
Tòa án cấp có thẩm quyền hoãn, tạm đình chỉ thi hành án. Đồng thời, Chấp hành
viên có trách nhiệm thi hành đầy đủ và nhanh chóng bản án, quyết định của Tòa án
(Điều 4, Điều 5 Quyết định số /86/ TC ngày 13/10/1972).
Ngoài ra, pháp luật còn quy định trách nhiệm của ủy ban hành chính xã,
phờng cùng các cơ quan có liên quan trong việc tổ chức hỗ trợ thi hành án.Viện
kiểm sát nhân dân các cấp kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc chấp
hành bản án, quyết định của Tòa án nhân dân (Điều7 Luật tổ chức Viện kiểm
sát nhân dân).
* Thời kỳ 1981 - 1989
Hiến pháp 1980 ra đời đã tạo tiền đề cho sự ra đời các văn bản pháp luật
khác. Trong đó có các Đạo luật về tổ chức của bộ máy nhà nớc, nhằm kiện toàn
bộ máy nhà nớc, phân tích rõ chức năng của từng loại cơ quan, tăng cờng hiệu
lực quản lý nhà nớc bằng pháp luật. Theo qui định tại Điều 16 Luật tổ chức Tòa
án nhân dân năm 1981 thì việc quản lý Tòa án nhân dân địa phơng về mặt tổ
chức đợc giao cho Bộ T pháp. Nghị định số 143 /HĐBT ngày 22/11/1981 của
Hội đồng Bộ trởng (nay là Chính phủ) đã qui định: Bộ T pháp có chức năng
16
quản lý Tòa án nhân dân địa phơng về mặt tổ chức, trong đó bao gồm cả việc
quản lý công tác thi hành án dân sự.

Để hớng dẫn và cụ thể hóa Pháp lệnh 1981, hàng loạt những văn bản
pháp luật đã đợc ban hành nh: Thông t liên ngành số 06-89/ TTLN ngày
17/7/1989 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ T
pháp; Thông t liên ngành số 07-89/TTLN ngày 10/12/1989 của Tòa án nhân dân
tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ... Cùng với sự hoàn thiện hơn
về pháp luật, đội ngũ cán bộ làm công tác thi hành án cũng đợc củng cố và tăng c-
ờng, đợc chuyên môn hóa, có chức danh, tiêu chuẩn riêng và chịu trách nhiệm
trớc Nhà nớc về việc thực hiện các phán quyết của Tòa án.
Tuy vậy, sự điều hành chỉ đạo công tác thi hành án vẫn cha đợc thay đổi
phù hợp. Cơ quan thi hành án, Chấp hành viên thuộc Tòa án, do Tòa án trực tiếp
chỉ đạo về nghiệp vụ và chịu trách nhiệm báo cáo trớc cấp trên về kết quả hoạt
động thi hành án. Mọi quyết định quan trọng trong thủ tục thi hành án đều
thuộc thẩm quyền của Chánh án, Chấp hành viên với trách nhiệm là "ngời đợc
Nhà nớc giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định của Tòa án" thực ra chỉ
là những ngời thừa hành sự chỉ đạo của Chánh án, không có quyền năng thực sự
để đảm bảo thực thi nhiệm vụ của mình. Mặt khác, Chánh án với t cách là ngời
chịu trách nhiệm về tổ chức và hoạt động xét xử lại là ngời chỉ đạo việc thi hành
những phán quyết của Tòa án nên không khách quan và quá tải về công việc.
Đội ngũ cán bộ thi hành án luôn bị xáo trộn, không đợc qui hoạch, đào tạo bồi
dỡng thờng xuyên. Cơ sở vật chất, phơng tiện phục vụ hoạt động thi hành án
hầu nh không đợc trang bị làm ảnh hởng đến công tác thi hành án.
1.3.3. Giai đoạn từ 1993 đến nay
Để khắc phục hạn chế nói trên, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa IX
ngày 06/10/1992 đã thông qua nghị quyết về việc bàn giao công tác thi hành án
từ Tòa án nhân dân các cấp sang cơ quan của Chính phủ. Pháp lệnh thi hành án
dân sự 1993 thay thế Pháp lệnh dân sự năm 1989 đã tạo bớc ngoặt lớn về tổ
18
chức và hoạt động thi hành án, đa công tác này sang một giai đoạn mới, đáp ứng
yêu cầu của đất nớc trong thì kỳ đổi mới. Theo đó, công tác thi hành án dân sự
đợc chuyển từ Tòa án nhân dân các cấp sang các cơ quan của Chính phủ. Mô

chính t pháp hoặc cơ quan thuế.
- Cơ quan thi hành án nằm trong Tòa án
Tổ chức thi hành án ở các nớc này là một bộ phận nằm trong cơ cấu tổ
chức của Tòa án, Chấp hành viên là công chức đặt tại Tòa án do Chánh án hoặc
Bộ trởng Bộ t pháp bổ nhiệm. Toàn bộ hoạt động thi hành án đặt dới sự giám sát
chỉ đạo của Chánh án Tòa án địa phơng hoặc thẩm phán thi hành án. Mặc dù
vậy, hoạt động thi hành án đợc tiến hành theo một thứ tự chặt chẽ cho Chấp
hành viên tiến hành theo quy định của pháp luật.
Điển hình là Trung Quốc. Tòa án đảm nhiệm việc thi hành án dân sự,
bản án, quyết định dân sự và phần tài sản trong bản án, quyết định hình sự đã có
hiệu lực pháp luật do Tòa án nhân dân sơ thẩm thi hành. Những bản án, quyết
định mà pháp luật qui định do Tòa án nhân dân thi hành sẽ do Tòa án nhân dân
nơi ngời phải thi hành án c trú hoặc nơi có tài sản của ngời phải thi hành án tiến
hành. Công tác thi hành án do Thi hành viên đảm nhiệm. Căn cứ vào yêu cầu
thực tế, Tòa án nhân dân cơ sở, Tòa án nhân dân trung cấp có thể lập cơ quan
thi hành án. Chức trách của cơ quan thi hành án do Tòa án nhân dân Tối cao
quy định.
- Cơ quan thi hành án thuộc cơ quan hành chính hoặc cơ quan thuế
Các cơ quan thi hành án loại này đợc chia làm hai dạng sau:
Một là, mô hình tổ chức thi hành án dân sự công, độc lập tạo thành một
hệ thống từ Trung ơng đến địa phơng thuộc thẩm quyền quản lý của các cơ
quan quản lý hành chính t pháp.
20
Ví dụ nh Thái Lan: Tổ chức cơ quan thi hành án bao gồm: Ban th ký,
Ban tài chính, Ban thi hành án dân sự, Ban thực hiện dịch vụ theo chỉ định các
vụ phá sản; Trung tâm nhận giữ tài sản, Ban kết toán thi hành án và nhận giữ tài
sản của các khu vực và tỉnh thành.
Hai là, mô hình tổ chức thi hành án dân sự công, độc lập tạo thành một
hệ thống từ Trung ơng đến khu vực đặt dới sự quản lý của Hội đồng thuế quốc
gia.

thi hành án. Trong quá trình thi hành án, nếu có các vấn đề tranh chấp phát sinh,
thì thẩm phán thi hành án giải quyết. Thừa phát lại không phải là công chức nhà
nớc mà là ngời đợc Nhà nớc bổ nhiệm để thực hiện sứ mệnh công, nhng theo
qui chế của ngời hành nghề tự do, không ăn lơng Nhà nớc mà tự hạch toán.
Điển hình cho mô hình này là Cộng hòa Pháp.
1.4.2. Thủ tục thi hành án dân sự một số nớc trên thế giới
Theo nghiên cứu của Thạc sĩ Nguyễn Thanh Thủy, thì thủ tục thi hành
án dân sự của một số nớc trên thế giới đợc thể hiện qua những vấn đề sau:
* Về quyền yêu cầu thi hành án
Hầu hết ở các nớc đều ghi nhận nguyên tắc tự định đoạt của đơng sự,
điều đó đợc thể hiện bằng việc pháp luật qui định về quyền yêu cầu thi hành án.
Nếu bên phải thi hành án không tự nguyện thi hành, thì ngời đợc thi hành án có
quyền yêu cầu cơ quan thi hành án cỡng chế thi hành. Cơ quan thi hành không
đợc từ chối yêu cầu của ngời đợc thi hành án nếu không có lý do đã đợc pháp
luật qui định, cho dù cơ quan thi hành án là một cơ quan nhà nớc hay hoạt động
với tính chất là tổ chức Thừa phát lại.
* Về lệ phí thi hành án
Pháp luật nhiều nớc (Pháp, Nhật, Thụy Điển...) đều cho phép cơ quan
thi hành án thu lệ phí thi hành án. Tùy điều kiện của mỗi nớc mà mức lệ phí có
22
khác nhau, nhng về nguyên tắc mức lệ phí đó thu đủ để chi phí cho hoạt động
thi hành án. Lệ phí thi hành án đợc tính trên cơ sở mức lệ phí tối thiểu (ngời yêu
cầu phải nộp khi nộp đơn yêu cầu thi hành án) và lệ phí trên giá trị tài sản thi
hành án (đợc tính theo phần trăm giá trị tài sản thi hành đợc). Ngoài ra, ngân
sách nhà nớc có thể hỗ trợ một phần cho hoạt động thi hành án, chủ yếu là việc
chi trả lơng cho Chấp hành viên, thẩm phán thi hành án nếu đó là thiết chế
thuộc bộ máy nhà nớc (Cộng hòa Liên bang Đức, Thụy Điển, Nhật Bản,
Singapore ).
Các chi phí cỡng chế thi hành án do ngời phải thi hành án chịu, trờng
hợp tài sản của ngời phải thi hành án không đủ thì có thể do ngời đợc thi hành

quyền khám nhà và những nơi cất giữ tài sản của con nợ, có quyền cho mở khóa
nhà, khóa phòng hoặc ngăn có chứa đồ đạc bị khóa, nếu thấy việc đó cần thiết
cho việc thi hành án. Nếu con nợ chống đối hoặc phản kháng lại, Chấp hành
viên có quyền dùng vũ lực và yêu cầu cảnh sát hỗ trợ. Trờng hợp đơng sự không
có tài sản gì để thi hành án thì chủ nợ đợc quyền yêu cầu Tòa thi hành án triệu
tập con nợ đến Tòa để buộc con nợ phải tuyên thệ về việc không có tài sản đó.
Nếu con nợ không chịu tuyên thệ thì chủ nợ có quyền yêu cầu Tòa án bắt giam
cho đến khi con nợ đồng ý tuyên thệ.
ở Thụy Điển, Chấp hành viên có quyền áp dụng biện pháp phạt tiền,
nếu đã phạt tiền mà con nợ vẫn không đến thì cơ quan thi hành án có quyền yêu
cầu cảnh sát bắt họ. Cơ quan thi hành án cũng có quyền yêu cầu cảnh sát tạm
bắt giữ con nợ, khi con nợ cố tình trì hoãn không lập danh sách kê khai tài sản
của mình theo yêu cầu của cơ quan thi hành án.
Cộng hòa Pháp: Theo Bộ luật tố tụng dân sự của Pháp thì: một bản án,
quyết định chỉ đợc đa ra thi hành nếu đơng sự xuất trình một bản sao có ghi "để
thi hành", trừ khi pháp luật có quy định khác; bản án chỉ đợc thi hành khi ngời
phải thi hành án đã đợc tống đạt, trừ trờng hợp họ tự nguyện thi hành. Theo quy
24
định của pháp luật thì các giấy tờ có hiệu lực thi hành ngoài bản án của Tòa án
còn có các văn bản công chứng có ghi "để thi hành", trích lục biên bản hòa giải
thành, séc thanh toán
Thái Lan: Khi nhận đợc đơn đề nghị ra lệnh thi hành án của ngời đợc
thanh toán thi hành án, Tòa án ra một mệnh lệnh gọi là: "Lệnh thi hành án " và
gửi thẳng lệnh này cho Chấp hành viên do Tòa án chỉ định để tổ chức thi hành.
Trong lệnh này, Tòa án phải ghi rõ những việc phải làm để Chấp hành viên làm
căn cứ thi hành.
Nhật Bản: ở Nhật Bản, tài liệu cơ bản nhất cho các thủ tục thi hành c-
ỡng chế và tiêu chuẩn duy nhất để cơ quan thi hành án thực hiện việc thi hành
bằng biện pháp cỡng chế là chứng th nghĩa vụ dân sự, bao gồm: Bản án, quyết
định của Tòa án; yêu cầu về thanh toán kèm theo tuyên bố về thi hành tạm thời,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status