LUẬN VĂN: Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiểu quả thi hành án dân sự ở Việt Nam - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Thực trạng và giải pháp nhằm
nâng cao hiểu quả thi hành án dân
sự ở Việt Nam mở đầu

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Bản án, quyết định của Tòa án nhân danh Nhà nước khi được chấp hành nghiêm
chỉnh có tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với pháp luật. Vì vậy, hoạt
động thi hành án có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giữ vững kỷ cương phép
nước, củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho quyền lực tư
pháp được thực thi trên thực tế. Hiến pháp 1992 khẳng định: "Các bản án và quyết định
của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức

57.83%, chưa kể số vụ việc chưa có điều kiện thi hành.
Đây là vấn đề rất bức xúc đặt ra trong công tác thi hành án dân sự hiện nay.
Thực trạng này, một phần xuất phát từ nguyên nhân: ý thức tuân thủ pháp luật của một
số bộ phận nhân dân nói chung và một số cơ quan, tổ chức, các nhà quản lý doanh
nghiệp và cá nhân (kể cả chính quyền địa phương) còn yếu kém. Mặt khác, là do chưa
có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật, cũng như cơ quan
hữu quan trong quá trình thi hành án; cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động thi hành án
dân sự chưa được hoàn thiện, hệ thống các văn bản pháp lý về thi hành án dân sự chưa
đầy đủ, chậm được bổ sung, sửa đổi kịp thời; cơ chế quản lý và cơ chế thi hành án hiện
nay không hợp lý, gây cản trở và làm giảm hiểu quả công tác thi hành án nói chung và
thi hành án dân sự nói riêng.
Vì vậy, muốn giải quyết tình trạng "án tồn đọng", nâng cao hiệu quả thi hành án
dân sự cần phải nghiên cứu đề ra các giải pháp đồng bộ về nhiều mặt: Kinh tế, pháp
luật, chính sách xã hội, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ Nhưng trong khuôn khổ luận
văn luật học, chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu những vấn đề liên quan đến pháp luật.
Với tất cả những lý do nêu trên, việc chọn đề tài "Thực trạng và giải pháp
nhằm nâng cao hiểu quả thi hành án dân sự ở Việt Nam" làm luận văn thạc sĩ luật
học là cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Những năm gần đây, trước những đòi hỏi khách quan của công tác thi hành án dân
sự, đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề thi hành án dân sự, cụ thể là: Đề
tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ "Những cơ sở lý luận và thực tiễn về chế định Thừa phát
lại", mã số 95-98-114/ĐT do Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp và Sở
Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh chủ trì thực hiện; Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: "Mô hình
quản lý thống nhất công tác thi hành án", mã số 96-98- 027/ĐT do Cục Thi hành án dân sự
- Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện; Đề tài cấp Nhà nước đang thực hiện: "Luận cứ khoa học
của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới" do Bộ

- Đưa ra những giải pháp trước mắt và lâu dài nhằm nâng cao hiệu quả thi hành
án dân sự.
4. Phạm vi nghiên cứu
"Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự ở Việt
Nam" là một đề tài có tính khái quát cao, nội dung rất rộng, phong phú và phức tạp. Vì
vậy, trong khuân khổ luận văn thạc sĩ luật học, tác giả tập trung nghiên cứu cơ sở lý
luận và thực tiễn về thi hành án và thi hành án dân sự; đánh giá thực trạng thi hành án
dân sự và từ đó rút ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự nhằm
nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự trong điều kiện mới của đất nước ta.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử và phép biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về nhà nước và pháp luật.
- Các phương pháp cụ thể được sử dụng kết hợp, đó là: Phương pháp nghiên
cứu lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, tổng
hợp.
6. ý nghĩa và những điểm mới của luận văn
- Luận văn đã đưa ra và luận giải được một số quan điểm cơ bản về khái niệm
thi hành án và thi hành án dân sự, tìm hiểu đặc điểm, bản chất của thi hành án và thi
hành án dân sự, góp phần bổ sung, làm phong phú thêm cho hoạt động nghiên cứu khoa
học về pháp luật thi hành án.
- Từ việc đánh giá thực trạng pháp luật thi hành án dân sự, tác giả đã đưa ra
được những điểm bất cập cần sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật thi
hành án dân sự.
- Từ việc đánh giá thực tiễn thi hành án dân sự, tác giả đã phân tích những
nguyên nhân và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự.
7. Kết cấu của luận văn

lầm về số liệu" trong bản án, quyết định khi cơ quan thi hành án yêu cầu, hoặc thẩm
quyền của Tòa án trong việc hoãn thi hành án theo thời gian luật định, hay "xem xét,
kháng nghị để xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án quyết định có
vi phạm thủ tục tố tụng" khi cơ quan thi hành án kiến nghị. Hậu quả pháp lý của việc
xem xét theo trình tự này có thể làm thay đổi kết quả thi hành án hay cách thức tiến
hành thi hành án của cơ quan thi hành án.
Với quan điểm này, thi hành án được hiểu là giai đoạn kết thúc trình tự tố tụng,
là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử làm cho phán quyết của Tòa án có
hiệu lực pháp luật.
Quan điểm thứ hai, coi thi hành án là hoạt động hành chính - tư pháp. Theo
quan điểm này, quá trình tố tụng mà trọng tâm là việc xét xử của Tòa án chấm dứt khi
Tòa án ra phán quyết nhân danh Nhà nước, trong đó Tòa án đã xác định quyền, nghĩa vụ
các bên, còn việc thi hành phán quyết đó là giai đoạn khác, không thuộc quá trình tố
tụng. Thi hành án không phải là giai đoạn tố tụng, bởi vì "thi hành án có mục đích khác
với mục đích tố tụng, tố tụng là quá trình đi tìm sự thật của các vụ việc đã diễn ra trên
thực tế, trên cơ sở đó đưa ra phương án giải quyết vụ việc theo đúng quy định của pháp
luật, còn thi hành án là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản án,
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật" [34, tr.21].
Ngoài hai quan điểm cơ bản nêu trên, còn có quan điểm khác về thi hành án:
Quan điểm thứ ba khẳng định, thi hành án là hoạt động tư pháp [39, tr. 8]. Bởi vì,
gốc của hoạt động thi hành án là bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định theo
quy định của pháp luật. Khi thực hiện nhiệm vụ, Cơ quan thi hành án phải thi hành theo
đúng quyết định của Tòa án chứ không phải theo mệnh lệnh hành chính. Thi hành án
phần lớn thông qua vai trò hoạt động của các cá nhân những người được Nhà nước giao
trách nhiệm thi hành các bản án, quyết định như Chấp hành viên, Giám thị viên hoặc
các cơ quan tổ chức và người có thẩm quyền khác. Hoạt động hành chính trong lĩnh vực
thi hành án chẳng qua cũng chỉ để đảm bảo phục vụ cho chức năng chính của cơ quan

- Thi hành án là một hoạt động diễn ra sau quá trình xét xử của Tòa án. Các bản
án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là cơ sở để tiến hành các hoạt động
thi hành án. Do đó, không có kết quả của hoạt động xét xử thì không có hoạt động thi
hành án. Là một dạng hoạt động hành chính nhà nước, thi hành án thể hiện tính chấp
hành, quản lý rất rõ "bởi toàn bộ quá trình thi thành án với những hoạt động, biện pháp,
cách thức khác nhau đều nhằm thực hiện những nội dung đã được thể hiện trong các
bản án, quyết định của Tòa án và theo các quy định cụ thể của pháp luật" [34].
- Trong quá trình thi hành án, Cơ quan thi hành án tác động tới đối tượng phải
thi hành án để họ tự giác thi hành hoặc cơ quan thi hành án áp dụng các biện pháp buộc
họ phải thực hiện nghĩa vụ đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án, quyết
định khác theo quy định của pháp luật. Qua đó, giáo dục họ và những người xung quanh
về ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng lợi ích của tập thể và cá nhân, kỷ cương của Nhà
nước. Để thực hiện được điều đó, yêu cầu của hoạt động thi hành án phải có tính kế
hoạch, tổ chức, đôn đốc, kiểm tra đó là những tính chất của hoạt động quản lý.
- Đối với thi hành án, phương pháp giáo dục, thuyết phục là cần thiết nhưng
phương pháp mệnh lệnh, bắt buộc phải thực hiện lại mang tính đặc trưng (đặc biệt là
trong thi hành án hình sự).
Tuy nhiên, thi hành án không chỉ mang tính hành chính đơn thuần mà nó còn
thể hiện tính hành pháp.
* Thi hành án với những đặc điểm của hoạt động tư pháp
- Thi hành án chủ yếu do cơ quan tư pháp (theo nghĩa rộng) tiến hành.
Có nhiều cơ quan tham gia vào quá trình thi hành án, nhất là trong việc tổ chức
thi hành án các bản án và quyết định phức tạp. Nhưng thực tế đã chứng minh vai trò của
các cơ quan tư pháp là hết sức quan trọng. Trong hoạt động thi hành án dân sự, cơ quan
thi hành án là Phòng Thi hành án thuộc Sở Tư pháp, Đội Thi hành án thuộc phòng Tư
pháp Ngoài ra còn có sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức khác như Công an, tài
chính

định có tính chất dân sự).
ý kiến thứ hai hiểu "dân sự" theo nghĩa rộng. Theo pháp luật của nhiều nước trên
thế giới, việc tổ chức thi hành các bản án có nguồn gốc pháp luật về nội dung là luật tư
(luật dân sự, luật kinh doanh, thương mại, lao động) được thực hiện theo một thủ tục
chung qui định trọng bộ luật tố tụng dân sự [24].
Chúng tôi đồng ý với quan điểm thứ hai. Tuy nhiên, theo pháp luật Việt Nam
thì "dân sự" trong thi hành án cần được hiểu một cách cụ thể. Đó là: Những bản án,
quyết định về dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, kinh tế; bản án, quyết định dân sự
của Tòa án nước ngoài; quyết định của Trọng tài nước ngoài được Tòa án Việt Nam
công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; quyết định về dân sự, phạt tiền, tịch thu tài sản,
xử lý vật chứng, tài sản, truy thu tiền, tài sản, thu lợi bất chính, án phí trong bản án,
quyết định của Tòa án về hình sự; quyết định về phần tài sản trong bản án, quyết định
của Tòa án về hành chính; quyết định tuyên bố phá sản, quyết định của Trọng tài
thương mại Việt Nam (Điều 1 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004).
1.2. Vai trò, ý nghĩa của thi hành án dân sự
* Thi hành án dân sự góp phần giữ gìn trật tự, kỷ cương an toàn xã hội, tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Công tác thi hành án nói chung, thi hành án dân sự nói riêng có một ý nghĩa,
vai trò quan trọng trong hoạt động Nhà nước. Thông qua hoạt động thi hành án, những
phán quyết của Tòa án nhân danh Nhà nước, thể hiện ý chí của Nhà nước được trở
thành hiện thực, công lý xã hội được thực hiện. Quá trình giải quyết một vụ án chỉ kết
thúc khi bản án quyết định của Tòa án được thi hành kịp thời và đầy đủ. Nếu công tác
thi hành án dân sự không được quan tâm và không có hiệu quả thì sẽ ảnh hưởng tiêu
cực, tác động đến toàn bộ hoạt động của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, trật tự kỷ
cương xã hội bị vi phạm, quyền lực nhà nước bị xem thường, quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân bị xâm hại. Thi hành án dân sự đạt hiệu quả sẽ mang lại niềm tin
cho nhân dân đối với tính nghiêm minh của pháp luật, góp phần lập lại kỷ cương, tăng

hành án, Chấp hành viên mà còn là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa
phương, đoàn thể xã hội và mọi thành viên trong cộng đồng. Thông qua công tác thi
hành án, ý thức pháp luật của nhân dân, vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức được
nâng lên.
1.3. Lịch sử hình thành và phát triển của Thi hành án dân sự Việt Nam
Dưới thời Pháp thuộc, thi hành án dân sự hình thành với tên gọi Thừa phát lại.
Nhưng đến khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, công tác thi hành án nói
chung, thi hành án dân sự nói riêng đã có sự thay đổi căn bản về chất.
Nhìn lại chặng đường lịch sử hình thành và phát triển của thi hành án dân sự
Việt Nam từ năm 1945 đến nay, chúng ta có thể chia thành các giai đoạn sau:
1.3.1. Giai đoạn từ 1945 đến 1989
Là giai đoạn mà tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự chưa được dựa trên một
văn bản pháp luật chính thức có hiệu lực pháp lý cao do cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền ban hành (Quốc hội hoặc ủy ban Thường vụ Quốc hội). Giai đoạn này, công tác
thi hành án dân sự đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tòa án. Tuy nhiên, về vấn đề quản
lý nhà nước và hình thức tổ chức thi hành án dân sự có những thay đổi nhất định qua
các thời kỳ: 1945 - 1949, 1950 -1980, 1981 - 1989.
* Thời kỳ 1945 - 1949
Sau Cách mạng tháng tám 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, hệ
thống tư pháp mới được thiết lập trong cả nước. Trên cơ sở Sắc lệnh ngày 10/10/1945
của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc giữ tạm thời các luật, lệ hiện hành ở Bắc, Trung,
Nam bộ cho đến khi ban hành những Bộ luật chung thống nhất cho toàn quốc, nếu những
đạo luật ấy "không trái với những nguyên tắc độc lập của Nhà nước Việt Nam và chính
thể dân chủ cộng hòa", chế định Thừa phát lại tiếp tục được duy trì. Tại Nghị định số 37
ngày 01/12/1945 về tổ chức Bộ Tư pháp, phòng giám đốc Hộ vụ được thành lập, trong
đó có Ban công lại thực hiện nhiệm vụ quản lý Thừa phát lại. Cũng theo tinh thần Sắc
lệnh 10/10/1945 nói trên, những quy định về thủ tục thi hành án dân sự tiếp tục được áp

định: "Thẩm phán huyện dưới sự kiểm soát của biện lý có nhiệm vụ đem chấp hành các
án Hình về khoản bồi thường hay bồi hoàn và các án Hộ mà chính Tòa án huyện và Tòa
án trên đã tuyên". Theo quy định này, việc thi hành án dân sự do Thừa phát lại và Ban
tư pháp xã thực hiện trước đây được thay thế bằng thẩm phán huyện dưới sự chỉ đạo
trực tiếp của Chánh án. Điều này đã làm thay đổi căn bản cơ chế tổ chức, hoạt động thi
hành án dân sự.Thi hành án dân sự từ chỗ căn cứ vào yêu cầu của đương sự đã trở thành
trách nhiệm của Nhà nước. Tòa án chủ động thi hành án dân sự mà không chờ yêu cầu
của người được thi hành án [16], [17], [18], [19].
Trên cơ sở Hiến pháp 1959, Quốc hội ban hành Luật tổ chức Tòa án nhân dân
1960. Tại Điều 24 của Luật xác định: "Tại các Tòa án nhân dân địa phương có nhân
viên thi hành án làm nhiệm vụ thi hành những bản án, quyết định dân sự, những khoản
xử về bồi thường và tài sản trong các bản án, quyết định hình sự". Vấn đề vị trí, chức
năng, nhiệm vụ của nhân viên chấp hành án được xác định rõ trong luật tổ chức Tòa án
nhân dân đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức và hoạt động thi hành án dân
sự. Ngày 13/10/1972, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ra Quyết định số 186/CT về
tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên.
Nhà nước không tổ chức cơ quan thi hành án dân sự riêng mà chỉ đặt Chấp hành
viên tại các Tòa án nhân dân địa phương để thực hiện chuyên trách việc thi hành án dân
sự. Chấp hành viên có nhiệm vụ thi hành những bản án, quyết định về dân sự, những
khoản xử phạt tiền, tịch thu tài sản, bồi thường, hoàn trả lại tài sản trong các bản án,
quyết định hình sự; giúp Chánh án Tòa án nhân dân đôn đốc, kiểm tra công tác thi hành
án tại các Tòa án nhân dân cấp dưới. Chấp hành viên thực hiện nhiệm vụ dưới sự chỉ
đạo của Chánh án Tòa án nhân dân nơi mình công tác. Trong quá trình thực thi nhiệm
vụ, Chấp hành viên có quyền định cho đương sự một thời hạn để thi hành án, áp dụng biện
pháp cưỡng chế mà pháp luật cho phép sau khi có sự thỏa thuận của Chánh án nơi Chấp
hành viên công tác, yêu cầu lực lượng bảo vệ trật tự trị an giúp sức khi cần thiết, đề nghị
Tòa án cấp có thẩm quyền hoãn, tạm đình chỉ thi hành án. Đồng thời, Chấp hành viên có

Chấp hành viên được ban hành kem theo Nghị định số 68/HĐBT ngày 06/3/1990 của
Hội đồng Bộ trưởng. Theo quy định của các văn bản nói trên, thì chỉ có Chấp hành viên
là người được Nhà nước giao trách nhiệm thi hành các bản án, quyết định của Tòa án
(trước đây việc thi hành án, ngoài Chấp hành viên còn có thể do cán bộ thi hành án thực
hiện). Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Chấp hành viên
theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân địa phương.
Theo Pháp lệnh này, cơ chế kết hợp quyền tự định đoạt của đương sự với sự
chủ động của cơ quan thi hành án và Chấp hành viên đã tạo ra sự phát triển mới trong
công tác thi hành án dân sự. Điều đó được thể hiện bằng việc quy định: người phải thi
hành án phải có đơn yêu cầu thi hành án thì Tòa án có thẩm quyền mới tiến hành việc
thi hành án (Điều 14 Pháp lệnh); Cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành
án trong những trường hợp nhất định nhằm bảo vệ kịp thời lợi ích của Nhà nước, quyền,
lợi hợp pháp của tập thể và công dân như đối với những bản án, quyết định phạt tiền,
tịch thu tài sản và án phí, bồi thường thiệt hại tài sản xã hội chủ nghĩa…
Để hướng dẫn và cụ thể hóa Pháp lệnh 1981, hàng loạt những văn bản pháp luật
đã được ban hành như: Thông tư liên ngành số 06-89/ TTLN ngày 17/7/1989 của Tòa
án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp; Thông tư liên ngành
số 07-89/TTLN ngày 10/12/1989 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, Bộ Nội vụ Cùng với sự hoàn thiện hơn về pháp luật, đội ngũ cán bộ làm công
tác thi hành án cũng được củng cố và tăng cường, được chuyên môn hóa, có chức danh,
tiêu chuẩn riêng và chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc thực hiện các phán quyết
của Tòa án.
Tuy vậy, sự điều hành chỉ đạo công tác thi hành án vẫn chưa được thay đổi phù
hợp. Cơ quan thi hành án, Chấp hành viên thuộc Tòa án, do Tòa án trực tiếp chỉ đạo về
nghiệp vụ và chịu trách nhiệm báo cáo trước cấp trên về kết quả hoạt động thi hành án.
Mọi quyết định quan trọng trong thủ tục thi hành án đều thuộc thẩm quyền của Chánh
án, Chấp hành viên với trách nhiệm là "người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành

dân sự năm 2004, với 8 chương, 70 điều. So với Pháp lệnh năm 1993, đã tăng thêm 1
chương, 20 điều. Về mặt nội dung, Pháp lệnh năm 2004 đã được sửa đổi, bổ sung một
cách cơ bản, có nhiều nội dung đã được phát triển thêm, có nhiều nội dung hoàn toàn
mới được bổ sung cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, với
tiến trình cải cách tư pháp và cải cách hành chính hiện nay.
1.4. Thi hành án dân sự một số nước trên thế giới
1.4.1. Về tổ chức thi hành án dân sự
Tùy theo đặc điểm về truyền thống pháp lý, điều kiện kinh tế - xã hội ở từng
quốc gia mà tổ chức thi hành án dân sự được pháp luật qui định là một tổ chức công,
bán công hoặc là do tư nhân đảm nhiệm [21].
* Thi hành án công
ở mô hình này tổ chức thi hành án bao gồm hệ thống các cơ quan thuộc bộ máy
nhà nước, các Chấp hành viên và công chức, viên chức hưởng lương từ Ngân sách Nhà
nước. Mô hình tổ chức thi hành án công có thể phân làm hai loại: Cơ quan thi hành án
nằm trong cơ cấu tổ chức của Tòa án và các cơ quan hành chính tư pháp hoặc cơ quan
thuế.
- Cơ quan thi hành án nằm trong Tòa án
Tổ chức thi hành án ở các nước này là một bộ phận nằm trong cơ cấu tổ chức
của Tòa án, Chấp hành viên là công chức đặt tại Tòa án do Chánh án hoặc Bộ trưởng
Bộ tư pháp bổ nhiệm. Toàn bộ hoạt động thi hành án đặt dưới sự giám sát chỉ đạo của
Chánh án Tòa án địa phương hoặc thẩm phán thi hành án. Mặc dù vậy, hoạt động thi
hành án được tiến hành theo một thứ tự chặt chẽ cho Chấp hành viên tiến hành theo quy
định của pháp luật.
Điển hình là Trung Quốc. Tòa án đảm nhiệm việc thi hành án dân sự, bản án,
quyết định dân sự và phần tài sản trong bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp
luật do Tòa án nhân dân sơ thẩm thi hành. Những bản án, quyết định mà pháp luật qui
định do Tòa án nhân dân thi hành sẽ do Tòa án nhân dân nơi người phải thi hành án cư

Ví dụ ở Đức: Việc thi hành án dân sự do Tòa án khu vực đảm nhiệm. ở Tòa án
này có thẩm phán, nhân viên Tòa án, Chấp hành viên và nhân viên thi hành án. Chấp
hành viên chịu sự giám sát trực tiếp của Chánh án Tòa án cấp khu vực. Tuy là công
chức nhưng Chấp hành viên thực hiện công việc của mình một cách độc lập, có con dấu
riêng, được hưởng một khoản lương cố định. Chấp hành viên không làm việc tại cơ
quan Tòa án mà mở văn phòng riêng và được quyền tuyển nhân viên giúp việc. Chấp
hành viên được hưởng lương, được hưởng 15% lệ phí thi hành án các khoản tiền thanh
toán chi phí khác như: đi lại, sao chụp tài liệu.
* Tổ chức thi hành án tư nhân
Là mô hình tổ chức chủ yếu theo quy chế Thừa phát lại. Thừa phát lại do Nhà
nước bổ nhiệm, là người hành nghề theo quy chế tự do, Nhà nước không trả lương mà
hưởng thù lao theo luật định. Thừa phát lại vừa thực hiện chức năng công quyền (lập văn
bản, thu hồi nợ, làm đại diện) và chức năng trợ giúp khác cho người được thi hành án.Thừa
phát lại - tổ chức nghề nghiệp, không phải là cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, việc thi hành án
có sự giám sát của Tòa án, trực tiếp là thẩm phán thi hành án. Trong quá trình thi hành án,
nếu có các vấn đề tranh chấp phát sinh, thì thẩm phán thi hành án giải quyết. Thừa phát
lại không phải là công chức nhà nước mà là người được Nhà nước bổ nhiệm để thực
hiện sứ mệnh công, nhưng theo qui chế của người hành nghề tự do, không ăn lương Nhà
nước mà tự hạch toán. Điển hình cho mô hình này là Cộng hòa Pháp.
1.4.2. Thủ tục thi hành án dân sự một số nước trên thế giới
Theo nghiên cứu của Thạc sĩ Nguyễn Thanh Thủy, thì thủ tục thi hành án dân
sự của một số nước trên thế giới được thể hiện qua những vấn đề sau:
* Về quyền yêu cầu thi hành án
Hầu hết ở các nước đều ghi nhận nguyên tắc tự định đoạt của đương sự, điều đó
được thể hiện bằng việc pháp luật qui định về quyền yêu cầu thi hành án. Nếu bên phải
thi hành án không tự nguyện thi hành, thì người được thi hành án có quyền yêu cầu cơ
quan thi hành án cưỡng chế thi hành. Cơ quan thi hành không được từ chối yêu cầu của

* Về thời hiệu thi hành án
ở các nước khác nhau, thời hiệu thi hành án được quy định cũng khác nhau.
Nhưng so sánh với Việt Nam, thì các nước qui định thời hiệu thi hành án dài hơn. Ví dụ
ở Cộng hòa Liên bang Đức, thời hiệu thi hành án là 30 năm kể từ ngày bản án, quyết
định có hiệu lực pháp luật; ở Thụy Điển thời hiệu thi hành án là 10 năm. Hết 10 năm
người phải thi hành án có đơn yêu cầu chấm dứt việc thi hành án, nhưng sau 11 năm có
đơn yêu cầu của người được thi hành án thì Tòa án vẫn phải thi hành án.
* Các biện pháp chế tài đối với người cố tình không thi hành án
Pháp luật nhiều nước qui định các biện pháp chế tài có tính cưỡng bức đối với
người phải thi hành án, nếu họ cố tình không chấp hành các yêu cầu của chấp hành viên,
cố tình không thi hành án.
Ví dụ như ở Cộng hòa Liên bang Đức: chấp hành viên có quyền yêu cầu cảnh
sát áp giải đương sự theo giấy triệu tập đến cơ quan thi hành án nếu đương sự cố tình
trốn tránh, tuy được báo gọi nhiều lần mà không đến. Chấp hành viên có quyền khám
nhà và những nơi cất giữ tài sản của con nợ, có quyền cho mở khóa nhà, khóa phòng
hoặc ngăn có chứa đồ đạc bị khóa, nếu thấy việc đó cần thiết cho việc thi hành án. Nếu
con nợ chống đối hoặc phản kháng lại, Chấp hành viên có quyền dùng vũ lực và yêu cầu
cảnh sát hỗ trợ. Trường hợp đương sự không có tài sản gì để thi hành án thì chủ nợ được
quyền yêu cầu Tòa thi hành án triệu tập con nợ đến Tòa để buộc con nợ phải tuyên thệ
về việc không có tài sản đó. Nếu con nợ không chịu tuyên thệ thì chủ nợ có quyền yêu
cầu Tòa án bắt giam cho đến khi con nợ đồng ý tuyên thệ.
ở Thụy Điển, Chấp hành viên có quyền áp dụng biện pháp phạt tiền, nếu đã phạt
tiền mà con nợ vẫn không đến thì cơ quan thi hành án có quyền yêu cầu cảnh sát bắt họ.
Cơ quan thi hành án cũng có quyền yêu cầu cảnh sát tạm bắt giữ con nợ, khi con nợ cố
tình trì hoãn không lập danh sách kê khai tài sản của mình theo yêu cầu của cơ quan thi
hành án.
Cộng hòa Pháp: Theo Bộ luật tố tụng dân sự của Pháp thì: một bản án, quyết

người phải thi hành án và gia đình họ có cuộc sống sinh hoạt bình thường ở mức tối
thiểu.
ở cộng hòa Pháp: Pháp luật thi hành án qui định những tài sản sau đây không
được kê biên: Thực phẩm, tiền trợ cấp nuôi dưỡng (trừ khoản tiền mà bên kê biên trả để
cấp dưỡng cho bên bị kê biên); các tài sản có thể định đoạt được nhưng người viết di
chúc hoặc người tặng cho tuyên bố không thể kê biên, hoặc là theo sự cho phép của
thẩm phán và trong một tỉ lệ do thẩm phán quyết định, được các chủ nợ sau khi đã quyết
định tặng cho hoặc mở thừa kế mà không thể kê biên; động sản cần thiết cho cuộc sống,
công ăn việc làm cho người bị kê biên và gia đình họ; những động sản, vật dụng cần
thiết của người tàn tật hay dùng để chăm sóc người ốm…
Nhật Bản: Những tài sản sau đây không được kê biên theo quy định của pháp
luật: Quần, áo, giường, chiếu, đồ dùng nấu ăn cần thiết phục vụ sinh hoạt của người
phải thi hành án; dụng cụ, phân bón, vật nuôi; các tượng phật, bài vị và những vật dụng
khác cần thiết sử dụng trong lễ hội; gia phả, nhật ký, huân, huy chương, chân tay giả và
những vật dụng khác dùng để hỗ trợ cho cơ thể mà người phải thi hành án cần dùng…

Trích đoạn Pháp luật về thi hành án dân sự được xây dựng và hoàn thiện hơn Bộ máy Cơ quan thi hành án dân sự được củng cố và tăng cường hơn, cơ sở vật chất, kinh phí, phương tiện hoạt động cho Cơ quan thi hành án Khó khăn vướng mắc trong thi hành án dân sự Những giải pháp trước mắt nhằm tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong thi hành án dân sự (từ nay đến năm 2006)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status