MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
MÔN NGỮ VĂN 6
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Để đạt được mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục trong nhà trường THCS đáp ứng yêu
cầu cấp học. Vai trò của người thầy trong việc giảng dạy là vô cùng quan trọng,
quyết định cho việc tiếp thu nắm vững kiến thức đến từng học sinh, người thầy
phải có phương pháp dạy học đúng dắn, phù hợp với từng phân môn, từng bài,
từng đối tượng học sinh để đạt được kết quả tốt nhất trong việc dạy và học của
thầy và trò.
Ngày nay, nước ta đã và đang phát triển theo hướng công nghiệp hóa hiện đại
hóa đất nước mà công nghệ thông tin được đặt lên hàng đầu. Vì vậy, yêu cầu cần
phát triển nguồn nhân lực trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế là vấn đề
cần thiết. Do đó vấn đề dạy học theo hướng hiện đại đang đòi hỏi người dạy học
và người học phải tìm tòi sáng tạo để chiếm lĩnh những tri thức để đáp ứng
những nhu cầu phát triển xã hội. Vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học theo
định hướng tích cực hóa được đặt ra do yêu cầu đổi mới giáo dục, nhằm đáp ứng
nhu cầu phát triển nhân lực cho đất nước trong giai đoạn hiện nay là rất cần
thiết.
Đối với việc giảng dạy môn Ngữ văn cần căn cứ vào đặc trưng vào sự vận
dụng các phương pháp dạy học của từng phân môn: Văn, Tiếng Việt, Tập làm
văn. Chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn tuy được xây dựng theo nguyên
tắc tích hợp nhưng không phủ nhận đặc trưng riêng của từng phân môn trong
quá trình giảng dạy.
Nhưng muốn đạt điều đó, người giáo viên phải có phương pháp vững vàng,
có tri thức khoa học sáng tạo, lòng nhiệt tình say mê nghề nghiệp. Để thực hiện
tốt việc giảng dạy môn Ngữ văn 6 người giáo viên phải lựa chọn phương pháp
phù hợp với đặc điểm từng lớp nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,
sáng tạo của học sinh, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận
dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động vào tình cảm đem lại hứng thú học tập
cho học sinh. Từ đó chất lượng học tập của học sinh ngày được nâng cao.
Nhìn lại thực tế chất lượng học sinh chưa đồng đều phần lớn do các em học
suy nghĩ chủ động tham gia các hoạt động tập thể để tự khám phá và chiếm lĩnh
kiến thức. Các em chưa dám đặt câu hỏi cho nhóm để cùng tranh luận cho bản
thân, cho thầy, bạn, chưa biết tự đánh giá các ý kiến quan điểm và sản phẩm văn
học của nhóm, bản thân… chưa tích cực sáng tạo trong thực hành vận dụng kiến
thức, kỹ năng và tình huống có vấn đề đặt ra từ thực tiễn vào cuộc sống nên dẫn
đến tình trạng học sinh học yếu môn Ngữ văn rất nhiều.
Qua khảo sát chất lượng đầu năm học 2011 – 2012, kết quả như sau:
Lớp TSHS
Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém
TS % TS % TS % TS % TS %
6A 42 2 4.7 9 21.4 21 50.0 8 19.2 2 4.7
6B 41 0 0 6 14.7 23 56.1 9 21.9 3 7.3
Kết quả trên cho thấy các em học yếu kém rất nhiều. Là giáo viên đứng lớp
trực tiếp giảng dạy môn Văn. Tôi tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả học tập.
2. Giải quyết vấn đề
Bác Hồ đã từng nói “Hiền dữ đâu phải do tính sẵn, phần nhiều do giáo dục
mà nên”. Con người sinh ra sống và học tập đều phải trải qua môi trường rèn
luyện bản thân, trau dồi đạo đức để trở thành con người có tri thức. Vì thế
thông qua tác phẩm văn học, học sinh sẽ thấy được cái thiện bao giờ cũng thắng
cái ác, giáo dục con người sống có tinh thần tương thân tương ái, thương yêu
đồng loại, biết ơn tổ tiên ta có công dựng nước, giữ nước qua truyện truyền
thuyết “ Con Rồng, cháu Tiên”, “Bánh chưng, bánh giầy”…biết ơn những
người đã tạo những thành quả cho ta hưởng thụ, bước đầu hình thành trong các
em hướng tới cái chân, thiện, mĩ cảm nhận sâu sắc nội dung tác phẩm văn học
mà các em đã và đang học trong chương trình Ngữ Văn 6.
Để việc học môn Ngữ văn đạt kết quả, giáo viên cần chú trọng vận dụng có
hiệu quả phương pháp dạy học đặc thù bộ môn.
Các phương pháp theo định hướng giao tiếp, phân tích ngôn ngữ, rèn luyện
theo mẫu trong các giờ Tiếng Việt, Tập làm văn ; các phương pháp vấn đáp gợi
các văn bản có khả năng tái hiện một cách sinh động gợi cảm, cụ thể thực hiện
khách quan. Học sinh có thể tái hiện rất sinh động về hình ảnh “Thạch Sanh”
dũng cảm khỏe mạnh với những chiến công của chàng qua văn bản “Thạch
Sanh”. Đọc và học văn không chỉ để biết những sự kiện, hiện tượng của cuộc
sống mà còn để hiểu được ý tưởng sâu xa nằm ngoài ngôn ngữ (ngôn từ ) tác
phẩm hoặc những tư tưởng tình cảm và sự đánh giá của nhà văn về hiện thực.
Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh truyện ngan ngụ ngôn “ Ếch ngồi đáy giếng”
giáo viên cần giúp học sinh hiểu được truyện ngụ ngôn mượn truyện loài vật, đồ
vật, hoặc chính con người để nói bóng gió, kín đáo truyện con người, nhằm
khuyên nhủ, răng dạy người ta bài học nào đó trong cuộc sống.Vậy học sinh bắt
đầu tìm hiểu văn bản sẽ hình dung được truyện “ Ếch ngồi đáy giếng” mượn
truyện loài vật để nêu lên bài học luân lý cho con người không được chủ quan,
kiêu ngạo coi thường người khác, phê phán những kẻ hiểu biết cạn hẹp mà lại
huênh hoang, khuyên nhủ, con người phải cố gắng mở rộng tầm hiểu biết của
mình.
Như vậy đọc hiểu văn bản không chỉ hiểu được nội dung mà ngôn từ mang
lại mà còn hiểu được những tư tưởng tình cảm những ngụ ý mà tác giả dân gian
muốn gửi gắm qua tác phẩm văn học.
Các văn bản trong chương trình ngữ văn 6 đều được chọn lọc rất kĩ, và là
những tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu đặc sắc. Nó giúp học sinh nhận thức cuộc
3
sống đem đến những bài học những suy tưởng, những cảm xúc thẫm mĩ cao đẹp,
sâu lắng trong tâm hồn, tình cảm con người.những điều này là phụ thuộc vốn
kiến thức cá nhân. Do vậy sự tiếp thu kiến thức của các em chưa trùng với dự
kiến của giáo viên, dạy học văn giúp học sinh hiểu tác phẩm nhà văn thành tác
phẩm của mình.
Có người đã từng nói nhà văn là người “ Khơi những nguồn chưa ai khơi và
sáng tạo những gì chưa có” giáo viên tuy không sáng tác ra tác phẩm văn
chương nhưng là người làm ra sự sống trong lòng học sinh nên cũng cần lắm
Đối với giáo viên hướng dẫn học sinh đọc văn bản trước khi tìm hiểu nội
dung và nghệ thuật là điều rất quan trọng.
2.1. Phương pháp đọc sáng tạo
a.Bản chất.
Đọc sáng tạo là một phương pháp vô cùng quan trọng đối với việc đọc- hiểu
văn bản, đọc sáng tạo không phải chỉ đọc thật hay, ấn tượng, mà quan trọng là
giáo viên hướng dẫn học sinh đọc có tình cảm giọng đọc, điệu bộ!…giúp học
sinh nhập vai, tái tạo hình tượng nghệ thuật, để học sinh hiểu một cách chính
4
xác nội dung văn bản, làm sau để học sinh vân dụng vào cuộc sống thực tiễn.
Mức thấp là đọc – hiểu những chữ bề mặt từng dòng.(tìm nghĩa hiển ngôn) mức
cao là biết đọc hiểu những thông tin ở “bề sâu” văn bản do mối quan hệ giữa các
dòng, giữa lời văn với nhau.
Đọc sáng tạo giúp học sinh tìm ra lớp nghĩa hàm ngôn của văn bản nghệ
thuật, đọc sáng tạo là phương pháp dạy đặc thù của phân môn văn được vận
dụng trong quá trình tìm hiểu khám phá tác phẩm và cả sau khi giờ trên lớp đã
kết thúc.
b. Quy trình thực hiện.
Ví dụ minh họa:Vận dụng phương pháp đọc – hiểu văn bản trong dạy học
văn bản cổ tích “Em bé thông minh”
Tìm hiểu tiết 1.
- Bước 1: Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc đối với một văn bản khi tìm
hiểu giá trị nội dung cần thông qua đọc, giáo viên cần qui định rõ thời gian,
thông qua đọc học sinh khai thác được ý nghĩa của truyện.
Vì vậy ngay từ bước đầu giáo viên cần phải nắm rõ bài này phải đọc như thế
nào mới cảm thụ được thông qua đọc văn bản khơi gợi ở các em có sự hứng thú
lôi cuốn vào tác phẩm
Đối với truyện “ Em bé thông minh” giáo viên hướng dẫn học sinh đọc phân
vai.
Giáo viên: Đây là hình thức ta thường gặp trong cổ tích.
Giáo viên: Hướng dẫn, gợi ý học sinh thảo luận nhóm hai câu hỏi sau, từng
nhóm đại diện nhóm phát biểu, học sinh bổ sung, nhận xét, giáo viên chốt ý, thời
gian thảo luận nhóm 3 phút.
? Em bé thử thách qua mấy lần? Nội dung câu đố và giải thích câu đố của em
bé?
? Dùng câu đố để thử tài nhân vật trong truyện cổ tích có tác dung gì?
- Học sinh nhóm 1: Câu 1 trả lời nhóm khác nhận xét, bổ sung thử thách của
em bé trải qua bốn lần.
Lần 1: Quan đố “trâu cày một ngày mấy đường”.
Giải đố là viên quan
Lần 2: Vua ra câu đố “ba con trâu đực nuôi làm sau làm sau đẻ thành 9 con
trâu con”
- Giải để vua tự nói ra sự phi lý, vô lý điều mình đố.
- Lần 3: Câu đố của vua “một con chim sẽ nhỏ làm thành 3 mâm cỗ”
Giải: đố lại vua
Lần 4: Câu đố của xứ thần “xâu sợi chỉ mành qua ruột con ốc”
Giải: đáp lại bằng bài đông dao
Dựa vào kiến thức dân gian
Nhóm 2 trả lời, nhận xét, bổ sung.
- Tạo ra thử thách để nhân vật bộc lộ tài năng phẩm chất.
- Tạo tình huống cốt truyện phát triển
-Gây hứng thú hồi hộp cho người nghe.
Đối với bài “ Em bé thông minh” ở tiết 1 giáo viên chỉ hướng dẫn khai thác
nội dung như trên:
- Bước 3: Hướng dẫn học sinh thực hành vận dụng tạo lập một đoạn văn thể
hiện những suy nghĩ của cá nhận về giá trị, tác giả của văn bản.
Giáo viên yêu cầu học sinh nêu suy nghĩ của cá nhân em về những lần giải
đố của em bé? Rút ra bài học?
Để hiểu được câu hỏi này buộc các em phải suy nghĩ viết một đoạn khoảng 5
Ví dụ: vận dụng phương pháp dùng lời nói có nghệ thuật cho bài “ Thầy bói
xem voi”
Bước 1: Chuẩn bị nội dung thông tin, phương tiện dạy học hỗ trợ.
Đối với phương pháp dùng lời nói có nghệ thuật đối với bài “ Thầy bói xem
voi”. Mặc dù là phương pháp dạy học truyền thống nhưng khi áp dụng phương
pháp dạy học này GV có thể cung cấp cho học sinh những tri thức kĩ năng với
lời bình giảng gọn gàng, ngắn gọn, gợi cảm, thuyết phục mà bản thân học sinh
còn lúng túng chưa cảm thụ thấu đáo, cần chuyển quá trình thuyết giảng của GV
kết hợp trao đổi, đàm thoại giữa GV với học sinh để phát huy tính tích cực của
học sinh.
Ví dụ đối với bước 1: Giáo viên cần chuẩn bị phóng to bức tranh sách giáo
khoa, chuẩn bị kĩ nội dung bài học.
Bước 2: Giới thiệu bài một cách hấp dẫn gây sự chú ý cho học sinh, gây hứng
thú.
Trong cuộc sống ta thường nghe “ Thầy bói nói mò” , “ thầy bói nói dựa!”
vậy cả 5 thầy bói xem voi phản ánh về con voi có chính xác không? Truyện
nhằm khuyên nhủ ta điều gì ta tìm hiểu truyện “ Thầy bói xem voi”.
Bước 3: Hướng dẫn gợi ý học sinh tìm hiểu nội dung truyện.
Hỏi: Kể tên nhân vật trong truyện ?
Học sinh: Năm thầy bói mù.
Hỏi: Các thầy xem voi bằng cách nào?
Học sinh: Dùng tay sờ vào voi.
Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát bức tranh trong sách giáo khoa và nêu ba
câu hỏi để học sinh thảo luận nhóm 3 phút, giáo viên hoàn toàn chủ động gọi ý
cho học sinh làm việc không nên truyền thụ một chiều.
Câu 1: Hỏi: thầy bói dùng tay sờ voi vậy các thầy miêu tả con voi như thế
nào?
Câu 2: Tác giả dùng biện pháp nghệ thuật gì, tác dụng ra sao?
Câu 3: Thái độ các thầy khi xem?
Học sinh sẽ quan sát và suy nghĩ trả lời qua bức tranh.
? : Truyện “ Thầy bói xem voi” cho ta bài học gì?
Muốn hiểu biết sự vật, sự việc phải xem xét chúng một cách toàn diện,rút ra
được câu thành ngữ”Thầy bói xem voi”.
2.3. Phương pháp vấn đáp gợi tìm:
Là phương pháp hình thành trên cơ sở quá trình tương tác giữa giáo viên và
học sinh thông qua việc giáo viên và học sinh đặt ra những câu hỏi và tìm ra
câu trả lời tương ứng về một chủ đề nhất định.
a. Bản chất
Bản chất của phương pháp này là sử dụng một hệ thống câu hỏi cho học
sinh tìm tòi suy nghĩ nhằm đạt mục tiêu của bài học. Giáo viên không trực tiếp
đua ra kiến thức mà hướng dẫn học sinh tư duy từng bước để từ đó hình thành
kiến thức căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức có thể có các loại vấn đáp:
Vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích minh họa, vấn đáp tìm tòi.
b. Quy định thực hiện:
Ví dụ minh họa:Vận dụng phương pháp vấn đáp gợi tìm khi tìm hiểu văn
bản “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng”.
Bước 1. Giáo viên cần nêu một số câu hỏi cho học sinh chuẩn bị ở nhà.
Đến lớp học sinh tham gia vào hoạt động dạy- học.
8
Bước 2. Giáo viên là người đưa ra vấn đề vấn đáp, học sinh nêu suy nghĩ,
học sinh khác bổ sung.
Hệ thống câu hỏi theo trình tự:
? Truyện ngụ ngôn là gì?
Học sinh nhớ lại bài trước đã nắm định nghĩa ngụ ngôn là gì?
? Truyện có những nhân vật nào?
Cô Mắt, cậu Chân, Cậu Tay, Bác Tai, lão Miệng.
?Theo em tên những nhân vật này ta cần viết như thế nào? Vì sao?
Học sinh viết hoa chữ cái đầu tiên .Vì là những danh từ riêng
?Người khơi chuyện là ai?
họ sống chan hòa với nhau, mọi người một việc không ai ghen tị ai.
* Bước 3: Hệ thống hóa nội dung vấn đáp:
Giáo viên: Chuyện mượn các bộ phận của cơ thể người để nói truyện
người, có thể ví cơ thể người như một tổ chức cộng đồng mà Chân, Tay, Tai,
Mắt, Miệng là những cá nhân trong tổ chức cộng đồng.
? Em hiểu như thế nào về ý nghĩa này? Rút ra bài học gì cho bản thân?
9
Trong một tập thể mỗi thành viên không thể sống tách biệt, phải nương tựa
vào nhau để cùng tồn tại, biết hợp tác, quý trọng công sức của nhau thì cộng
đồng mới phát triển.
Những phương pháp dạy học này là phương pháp đặc thù trong môn Văn
học nhưng theo hướng hiện nay “lý luận luôn gắn liền với thực tiễn” Tức là học
sinh qua việc học sẽ biết thực hành vào cuộc sống, biết thôi thì chưa đủ cần phải
vận dụng kiến thức đó như thế nào đó mới là mục đích của giáo dục, nên
phương pháp dạy học hợp tác là phương pháp không thể thiếu khi dạy môn Văn.
2.4 Phương pháp dạy học hợp tác( phương pháp thảo luận nhóm, phương
pháp cùng tham gia)
Phương pháp này giáo viên tiến hành bằng cách chia học sinh trong lớp thành
nhiều nhóm nhỏ, các thành viên trong nhóm cùng chia sẽ những suy nghĩ, kinh
nghiệm, hiểu biết bản thân về bài học qua trao đổi, thảo luận.
a. Bản chất:
Dạy học hợp tác là phương pháp dạy học dựa trên sự tương tác (cùng tham
gia) giữa học sinh – học sinh là chính và tương tác giữa giáo viên – học sinh. Là
phương pháp dạy học dòi hỏi có sự tham gia hợp tác tích cực của các thành viên
để tìm kiếm giải pháp cho một vấn đề được đưa ra, nhằm đạt được mục tiêu học
tập. Trong phương pháp này giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn và có thể
tham gia thảo luận giúp cuộc thảo luận đi đúng hướng.
Học sinh suy nghĩ, cùng hợp tác tìm tòi, nghiên cứu, thảo luận, tranh luận,
đưa ra các giải pháp, đánh giá và cùng kết luận khái quát về vấn đề, rút ra bài
+ Sức mạnh thiên nhiên, hỗ trợ cùng đánh giặc là núi non, tre và sắt)
+ Sự trưởng thành của Gióng thể hiện sức sống quật khởi của dân tộc.
Bước 4: Giáo viên tổ chức chốt lại, nhằm xác nhận kiến thức và đặt vấn đề
tiếp theo.
Chốt lại những ý học sinh vừa nêu.
Giáo viên: Vào thời đại Hùng Vương, chiến tranh tự vệ đã ác liệt, thu hút sự
tham gia của cả cộng đồng.
Người dân thời đại Hùng Vương đã có ý thức kiên quyết bảo vệ địa bàn cư
trú, chống lại mọi đạo quân xâm lược.
Giáo viên nêu vấn đề rút ra kết luận phần ghi nhớ (sách giáo khoa)
- Bước 5: Đánh giá và cho điểm một số cá nhân qua đóng góp trong hoạt
động nhóm.
3. Kết quả:
Khi tôi áp dụng những phương pháp đặc thù trong giờ văn, bản thân tôi nhận
thấy rằng đa số các em hiểu bài, mạnh dạng đưa ra ý kiến và quan điểm của
mình, biết nêu lên những thắc mắc của bản thân để cùng nhau giải quyết bàn bạc
nên các em đã khắc sâu kiến thức, khi hướng dẫn tìm hiểu văn bản các em đã
tích cực suy nghĩ chủ động tham gia thảo luận nhóm khi giáo viên yêu cầu. Biết
vận dụng kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, biết cách đọc diễn cảm, đọc phân vai để
khai thác nội dung bài học biết bình giảng ngắn khi giáo viên yêu cầu vận dụng
kỹ năng giao tiếp, năng lực lao động hợp tác theo nhóm, hứng thú trong công
việc chung, đa số các em có những tình cảm thái độ học tập đúng đắn.
Sau khi tôi áp dụng đổi mới phương pháp dạy học kết quả cuối năm 2011-
2012 đạt được như sau:
Lớp TSHS
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
6A 42 4 9.5 10 23.8 22 52.4 6 14.2
6B 41 3 7.3 8 19.5 23 56.1 7 17.0
Qua kết quả đã đạt được như trên tôi nhận thấy rằng các em đã nắm vững
phải nắm vững các phương pháp dạy học, nội dung của từng bài, vận dụng linh
hoạt các phương pháp dạy học. Còn đối với học sinh cần tích cực tham gia xây
dựng bài, chuẩn bị bài ở nhà một cách kỹ lưỡng thì việc dạy – học kết quả mới
khả thi.
Như vận muốn có kết quả cao cần có sự nổ lực của giáo viên và sự cố
gắng của học sinh.
III. KẾT LUẬN
Nói tóm lại việc tìm hiểu một số phương pháp dạy học đặc thù trong phân
môn Văn tôi thấy rằng các em đã biết định hướng khi tìm hiểu một tác phẩm văn
học, thông qua tác phẩm văn học các em đã có một số vốn kiến thức, khả năng
diễn đạt bằng ngôn ngữ lưu loát hơn. Biết áp dụng vào cuộc sống tức là các em
đã nắm vững nguyên lý giáo dục “ Học đi đôi với hành”
Bác Hồ đã nói “Vì lợi ích mười năm trồng cây;Vì lợi ích trăm năm trồng
người” với câu nói của Bác ta hiểu được rằng để các em có sự yêu thích, hứng
thú hơn khi học văn thì giáo viên nên là người từng bước hình thành trong các
em có sự yêu thích, hứng thú hơn khi học văn, để các em vững tin vào cuộc
sống.
Muốn đạt được kết quả cao trong việc vận dụng phương pháp dạy học đổi
mới thì giáo viên luôn tự hoàn thiện mình bằng cách:
- Học các lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn.
-Tham khảo tài liệu, đọc sách báo.
- Học hỏi kinh nghiệm ở đồng nghiệp, giáo viên có thể tự làm đồ dùng
dạy học.
Như vậy nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Ngữ văn 6, giáo viên có thể
thấy rằng tùy theo năng lực và trình độ học tập môn học của học sinh, giáo viên
có thể lựa chọn các phương pháp dạy học thích hợp nhằm giúp học sinh giải
quyết các nhiệm vụ học tập cũng như trình bày ý kiến của mình một cách chủ
động sáng tạo.
12