Điều tra cây thuốc được người sán chỉ sử dụng ở xã thanh lâm, huyện ba chẽ, tỉnh quảng ninh - Pdf 29

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
PHẠM THANH TRƯỜNG ĐIỀU TRA CÂY THUỐC ĐƯỢC NGƯỜI
SÁN CHỈ SỬ DỤNG Ở XÃ THANH LÂM,
HUYỆN BA CHẼ, TỈNH QUẢNG NINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI - 2013 BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
PHẠM THANH TRƯỜNG

cũng giúp tôi nhìn mọi thứ trong toàn cảnh với một thái độ hài hước hiếm có.
TS. Nguyễn Quốc Huy, nếu không có thầy thì tôi không thể có những tiêu
bản hoàn chỉnh, thầy cũng đã chỉ ra cho tôi thấy cơ hội học tập lớn như thế nào khi
xử lý một lượng lớn tiêu bản.
TS. Hoàng Quỳnh Hoa, ThS. Vũ Vân Anh, cùng các chị Hằng KTV, chị
Hạnh KTV, chị Thoa KTV, chị Hảo KTV đã luôn khiến tôi cảm thấy bộ môn thực
vật như ngôi nhà thứ hai.
TS. Đặng Thị Hoa, Viện Dân tộc học Trung Ương. Cô đã giúp đỡ tôi rất
nhiều trong những bước đầu tiên tìm hiểu về văn hóa của người Sán Chỉ để tôi có
được thuận lợi vô cùng lớn khi tiến hành điều tra tại cộng đồng.
DS. Nguyễn Thế Cường, DS. Mai Thành Trung của Phòng Dự án, Công
ty Dược khoa, các anh là những người không ngại gian khó giúp tôi đi lại đ
ịa điểm
nghiên cứu và nếu không có các anh thì tôi đã không thể hoàn thành công việc điều
tra ở địa phương.
DS. Lê Thị Vân, DS. Nguyễn Thị Thu Hằng, các em sinh viên K65: Lê
Minh Hồng Anh, Phạm Lý Hà, Vũ Thị Thúy Hằng, Nguyễn Quý Hoàng,
Nguyễn Thị Quỳnh Thơ, Nguyễn Thị Hương, Nguyễn Đình Dần, Bùi Anh Đức, Lương Kim Chi, những người đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình xử lý một
khối lượng lớn tiêu bản.
Các bạn Nguyễn Ngọc Tú, Vũ Lê Thu, Phan Thị An, Nguyễn Hữu Thế,
Tạ Khắc Công, Đào Thu Trang, KS Lâm nghiệp Hoàng Khắc Cần được quen
biết và nhận rất nhiều sự giúp đỡ từ các bạn trong quá trình thực hiện khóa luận
chính may mắn của tôi. Làm việc với các bạn quả thật rất vui và là kỷ niệm đẹp của
thời sinh viên.
Cám ơn đồng bào Sán Chỉ ở xã Thanh Lâm, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh,
những người với lòng nhiệt tình to lớn đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận nhanh
chóng và suôn sẻ, nhất là gia đình bác Nịnh Văn Dậu, nơi tôi may mắn được tá túc

1.2.4 Trồng trọt, chăn nuôi 10
1.2.5 Thủ công 11
1.2.6 Trang phục 11
1.2.7 Ẩm thực 12
1.2.8 Tôn giáo tín ngưỡng và ma chay 12
1.3 Nghiên cứu về cây thuốc của người Sán Chỉ và Sán Chay ở Việt Nam 13
Chương 2: THIT K NGHIÊN CU, ĐI TƯNG, NI DUNG V PHƯƠNG
PHP NGHIÊN CU 14
2.1. Thiết kế nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả 14
2.1.1. Địa điểm nghiên cứu 14
2.1.2. Thời gian nghiên cứu: 14
2.1.3. Đối tượng nghiên cứu 14
2.2. Phương pháp luận. 14
2.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu 15
2.3.1. Điều tra tính đa dạng sinh học, việc sử dụng cây thuốc và các bệnh được
phòng và điều tri 15
2.3.2. Tư liệu hóa tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc 16
2.3.3. Điều tra thị trường cây cỏ làm thuốc 17 Chương 3: KT QUẢ NGHIÊN CU 18
3.1. Tính đa dạng sinh học của các cây thuốc được người Sán Chỉ sử dụng 18
3.1.1 Đường cong loài cây thuốc được người Sán Chỉ sử dụng 18
3.1.2 Đa dạng theo bậc phân loại 18
3.1.3 Đa dạng theo dạng sống 21
3.1.4 Đa dạng theo thảm thực vật 22
3.1.5 Đa dạng theo bộ phân sử dụng 23
3.1.6 Đa dạng về cách dùng 24
3.2. Cách gọi tên cây của người Sán Chỉ 25
3.3. Các bệnh được phòng và điều trị từ cây thuốc của người Sán Chỉ ở xã

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHOÁ LUẬN

TING VIỆT
Viết tắt
Viết đầy đủ
KB
Tên khoa học (của cây thuốc) chưa được xác định
NXB
Nhà xuất bản
NCCT
Người cung cấp tin trong quá trình điều tra

TING ANH
Viết tắt
Viết đầy đủ
CBD
The Convention on Biological Diversity (Công ước Đa
dạng Sinh học)
IPR
Intellectual Property Right (Quyền sở hữu trí tuệ)
IUCN
The International Union for Conservation of Nature and
Natural Resources (Hiệp hội Bảo tồn Quốc tế)
PRA
Participatory Rural Appraisal (Đánh giá nông thôn có sự
tham gia của người dân)
WHO

5.
Bảng 3.4
Ý nghĩa một số tên cây theo tiếng Sán Chỉ
26
6.
Bảng 3.5
Danh mục các nhóm bệnh và nhóm cây thuốc
27

DANH MỤC CÁC HÌNH
TT
Số hình
Tên hình
Trang
1.
Hình 1.1
Trạm y tễ xã Thanh Lâm
3
2.
Hình 1.2
UBND xã Thanh Lâm
3
3.
Hình 2.1
Bản đồ xã Thanh Lâm
14
4.

23
11.
Hình 3.6
Số lượng cây thuốc của người Sán Chỉ theo bộ phận
dùng
23
12.
Hình 3.7
Các cách dùng cây thuốc của người Sán Chỉ
24
13.
Hình 3.8
Hoạt động thu hái cây thuốc của các thầy lang
30
14.
Hình 3.9
Vườn nhà của thầy lang Nịnh Thị Liên, vườn chủ yếu
trồng các loại rau
34
15.
Hình 3.10
Chợ phiên Đạp Thanh
35
16.
Hình 3.11
Chợ phiên Thanh Lâm
35
17.
Hình 3.12
Thầy lang Nịnh Thị Liên đang sơ chế cây thuốc

Với sự dồi dào về cây thuốc như vậy, trải qua nhiều thế hệ cộng đồng các
dân tộc Việt Nam đã áp dụng trên thực tế và tích lũy thành tri thức sử dụng cây cỏ
để chăm sóc sức khỏe, kết hợp với sự đa dạng loài tạo thành tài nguyên cây thuốc
phong phú. Tuy nhiên việc bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc ở nước ta hiện
nay đang gặp rất nhiều khó khăn. Chưa kể đến nạn lâm tặc, chặt phá rừng hoành
hành, người dân còn chưa có ý thức khai thác và sử dụng bền vững nguồn tài
nguyên rừng, nhiều loài cây thuốc quý được khai thác theo kiểu tận diệt vì mục tiêu
kinh tế đi kèm với việc sử dụng rất lãng phí. Còn về tri thức sử dụng – bộ phận quan
trọng của tài nguyên cây thuốc cũng đang dần biến mất với sự qua đời của các thầy
lang. Do vậy việc bảo tồn tài nguyên cây thuốc chính là việc lưu giữ và phát tiển
các giá trị sử dụng, giá trị kinh tế, giá trị tiềm năng và giá trị văn hóa của Việt Nam.
Huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh nằm trong trung tâm đa dạng sinh học vùng
Đông Bắc, Việt Nam là nơi sinh sống của 9 dân tộc anh em là: Kinh, Tày, Dao, Sán
Dìu, Cao Lan, Hoa, Nùng, Mường và Sán Chỉ có tổng diện tích đất tự nhiên là
60.855,56 ha, diện tích rừng là 20.603,36 ha, chiếm 33,85% [48]. Người Sán Chỉ ở
Ba Chẽ chiếm khoảng 14,2% [37]. Đây là cộng đồng có tri thức sử dụng cây thu ốc
2

phong phú song chưa được nghiên cứu. Để góp phần vào công tác bảo tồn và phát
triển vốn tri thức dân gian và nguồn tài nguyên cây thuốc ở xã Thanh Lâm, chúng
tôi đã thực hiện đề tài: “Điều tra cây thuốc được người Sán Chỉ sử dụng ở xã Thanh
Lâm, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh” với các mục tiêu:
(1) Lập danh sách các cây thuốc được người Sán Chỉ ở xã Thanh Lâm, huyện Ba
Chẽ sử dụng.
(2) Khảo sát hoạt động sử dụng cây thuốc chữa bệnh của người Sán Chỉ.
(3) Bước đầu điều tra thị trường dược liệu. 3


Hình 1.2: UBND xã Thanh Lâm
4

và phát triển trên phù sa cổ, phù sa ven sông suối [48].Độ cao trung bình của Ba
Chẽ từ 300-500m so với mực nước biển.Độ dốc các dải đồi phần lớn từ 20 – 25
o
.
(c). Thủy văn, sông ngòi:
Xã chịu ảnh hưởng của chế độ thủy văn sông Ba Chẽ. Lưu lượng sông Ba
Chẽ tương đối cao và nhiều ghềnh thác. Mùa lũ nước sông dâng cao đồng thời do
ảnh hưởng bởi chế độ thủy triều của biển nên cốt ngập lụt thấp nhất là 6m.
(d). Khí hậu, thời tiết
Nhiệt độ không khí: Trung bình từ 21
o
C – 23
o
C. Nhiệt độ tối cao tuyệt đối
đạt tới 37,6
o
C vào tháng 6.Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối vào tháng 1 đạt tới 1
o
C.
Mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.285mm. Năm có lượng
mưa lớn nhất là 4.077mm, nhỏ nhất là 1.086mm
Nắng: Trung bình số giờ nắng dao động từ 1.600 - 1.700h/năm nắng tập
trung từ tháng 5 đến tháng 12, tháng có giờ nắng ít nhất là tháng 2 và 3.
Gió: Ba Chẽ phổ biến có 2 loại gió chính là gió Đông Bắc và gió Đông Nam
Thanh Lâm nghèo về khoáng sản, đến nay chưa phát hiện được mỏ quý, đó
là điều kiện đảm bảo cho môi trường của xã không bị ô nhiễm do việc khai thác
khoáng sản.Việc khai thác nhỏ lẻ cát, sỏi, đá trên sông suối chủ yếu phục vụ cho

228 tấn, năng suất 47,5 tạ/ha, sản lượng ngô đạt 161 tấn, năng suất đạt 35 tạ/ha. Vụ
mùa cây hàng năm thực hiện 131,8 ha, tống sản lượng lương thực đạt 449,7 tấn,
gồm: sản lượng lúa đạt 437, 2 tấn, năng suất đạt 44,6 tạ/ha, sản lượng ngô đạt 12,5
tấn, năng suất đạt 25 tạ/ha. Sản lượng lúa cạn vụ mùa được nhân dân trồng xen canh
trên nương kết hợp trồng rừng, sản lượng lúa nương đạt 35 tấn. Tổng giá trị sản
phẩm nông nghiệp năm 2012 đạt 8,5 tỷ đồng
Về sản xuất tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại. Tổng giá trị năm
2012 đạt 2,7 tỷ đồng.
Về chăn nuôi – thú y: Tổng đàn trâu 325 con, lợn rừng 89 con, gia cầm 5.200
con. Giá trị chăn nuôi năm 2012 đạt 8,6 tỷ đồng.
Về lâm nghiệp: Tổng diện tích trồng rừng năm 2012 đạt 692,3ha, , trong đó:
vốn tự có của nhân dân trồng được 466,6 ha, vốn hỗ trợ trồng được 225,7%. Tỷ lệ
cây sống cao sớm thành rừng tốt, góp phần nâng cao độ che phủ rừng, bảo vệ môi
trường và phát triển bền vững. Công tác chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy
chữa cháy rừng được đặc biệt quan tâm, trong năm 2012 trên đ
ịa bàn xã không để
xảy ra cháy rừng. Khai thác rừng trồng: từ đầu năm đến nay toàn xã khai thác rừng
trồng và lâm sản phụ với diện tích là: 59 ha, trong đó Keo sản lượng là: 4.840,5 m
3
;
Quế 12 tấn, tre dóc 220 tấn. Giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 2012 đạt 12,5 tỷ đồng.
6

Xã Thanh Lâm có 01 tổ hợp tác (HTX Toàn Dân) được thành lập theo Quyết
định của UBND huyện Ba Chẽ, có tổng số 16 xã viên, ngành nghề sản xuất kinh
doanh: Trồng rừng, chế biến lâm sản, dịch vụ giống, vật tự nông nghiệp, xây dựng
hạ tầng giao thông, thủy lợi. Tổng vốn góp ban đầu là 5 tỷ đồng.
UBND xã đã động viên nhân dân trồng Ba kích tím 3,5 ha, Cam canh, 2ha,
Chuối phấn 0,3 ha, Thanh long ruột đỏ 0,2 ha, Kim ngân 0,5 ha đang phát triển tốt.
UBND xã cũng đã xây dựng các mô hình phát triển sản xuất như: Trồng nấm

Về Y tế.Năm 2009, xã đã đạt chuẩn quốc gia về Y tế. Tỷ lệ người dân tham
gia các hình thức BHYT toàn xã đạt 100% [38].
1.2. Người Sán Chỉ ở Việt Nam
1.2.1 Nguồn gốc và di cư
Theo kết quả điều tra, nghiên cứu, người Sán Chỉ là một trong hai nhóm
chính trong cộng đồng dân tộc Sán Chay. Và theo các tài liệu đã được công bố cũng
như qua các tư liệu điền dã dân tộc học, bằng các những câu chuyện kể trong dân
gian, những bài hát sình ca, cũng như những điều đã ghi chép trong các sách gia phả,
sách cúng hương hỏa, cho thấy người Sán Chỉ xưa kia sinh tụ ở khu vực Dương
Châu, Khâm Châu, Liêm Châu, Lôi Châu, Linh Sơn, Thường Tư, Ninh Minh, Bạch
Vân Sơn, Thập Vạn Sơn thuộc các tỉnh Quý Châu, Quảng Đông và Quảng Tây
(Trung Quốc). Họ đến Việt Nam vào quảng cuối đời Minh, đầu đời Thanh, cách
ngày nay 300-500 năm [10], [29].
Ở Việt Nam, địa phương đồng bào Sán Chỉ đặt chân đến đầu tiên là vùng
Quảng Ninh, từ đó di chuyển theo hướng Tây, men theo dải đất, nơi tiếp giáp giữa
trung du và miền núi để định cư và làm ăn sinh sống. Đó là địa bàn thuộc các tỉnh
Quảng Ninh, Lạng Sơn, Bắc Giang, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên
Quang và Yên Bái. Riêng nhóm người hiện nay vẫn tự nhận là Sán Chỉ thuộc các
huyện Bảo Lâm, Bảo Lạc, Nguyên Bình (Cao Bằng), Chợ Rã, Ba Bể … (Bắc Kạn),
theo một số nhà khoa học thì đó là người Dao chứ không phải người Sán Chỉ [
10],
[31].
Mặc dù có một số người cho rằng Cao Lan, Sán Chí là một dân tộc (và
thường được đề cập chung là dân tộc Sán Chay trong các tài liệu), nhưng cũng có
khá nhiều người dựa vào các tiêu chí xác định dân tộc ở Việt Nam (ngôn ngữ, văn
hóa, ý thức tự giác tộc người) đã đề nghị xếp họ thành hai dân tộc khác nhau, một
8

thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái (đối với Cao Lan) và một thuộc nhóm ngôn ngữ
Hán (đối với Sán Chỉ) [33], [36], [39].

[30], [47].
1.2.3 Quan niệm về sức khỏe và sử dụng cây thuốc[10]
Đồng bào Sán Chỉ đã nhận thức được tầm quan trọng của việc dùng thuốc
trong chăm sóc sức khỏe và luôn xác định rõ: thuốc cha, ma cầu, nghĩa là khi ốm
thì phải chữa bằng thuốc là chính, bên cạnh đó vẫn có thể cúng ma cho mau khỏi.
Người Sán Chỉ có rất nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng các loại cây
thuốc để chữa bệnh. Đồng bào thường thu hái cây thuốc trong rừng nguyên sinh
hoặc trên các núi cao ít người qua lại. Đồng bào dùng thuốc Nam dưới dạng thuốc
thang, rượu thuốc, xoa bóp, thuốc đắp. Trong khu vực người Cao Lan – Sán Chỉ
sinh sống có khoảng hơn 200 loài cây được sử dụng làm thuốc, trong đó khoảng
100 loài thường được sử dụng.
Trong mỗi cộng đồng làng bản thường có một hay nhiều người làm nghề
thuốc. Những người này được cha mẹ truyền nghề cho và rất có tâm huyết với
nghề.Công việc của họ không tách rời khỏi sản xuất nông nghiệp, thường tranh thủ
lấy thuốc trong lúc đi làm nương, làm ruộng hoặc khi bệnh nhân có nhu cầu.
Theo phong tục của người Sán Chỉ, người bệnh đến xin thuốc ở nhà thầy
lang thường mang theo một lễ vật nhỏ như giấy vàng, một thẻ hương. Thầy lang hỏi
người bệnh hoặc người nhà người bệnh về những triệu chứng, tình hình ăn uống của
người bệnh … sau đó mới bốc thuốc, dặn dò cách sử dụng và những kiêng kỵ kèm
theo. Nếu khỏi bệnh, người bệnh nhất thiết phải đến làm lễ trả ơn thầy lang, lễ vật
gồm có giấy vàng dân tộc, hương, gà, rượu. Nếu người nào đã được chữa khỏi bệnh
mà không đến làm lễ trả ơn thì bị coi là người vô ơn.Nh
ững nghi lễ trong phong tục
chữa bệnh của người Sán Chỉ thể hiện tính nhân văn trong cộng đồng dân tộc người.
Tuy vậy những năm gần đây với sự xâm nhập của kinh tế thị trường, các thầy lang
đã bắt đầu bán thuốc để bù đắp lại thời gian, công sức bỏ ra để tìm kiếm thuốc.
Giống như nhiều dân tộc khác, người Sán Chỉ sử dụng nhiều vị thuốc cổ
truyền để chăm sóc sức khỏe phụ nữ và trẻ em.Sau khi sinh, sản phụ kiêng và nghỉ
ngơi trong 42 ngày. Thức ăn của sản phụ thường là rau ngót (mắn trái), gừng hoặc
10

rông, đối với tất cả các loại gia súc, gia cầm. Họ không làm chuồng trại mà ban đêm
11

thường nhốt các loại vật nuôi ngay dưới gầm sàn. Kỹ thuật chăn nuôi đơn giản, gia
súc tự kiếm ăn là chính [47].
1.2.5 Thủ công [36]
So với người Tày, Nùng, Sán Dìu …thủ công gia đình của người Sán Chỉ
không phát triển.Họ không có nghề thủ công nào nổi tiếng trong vùng.Tuy nhiên họ
cũng vẫn có truyền thống trồng bông dệt vải từ lâu đời.Cây Bông được trồng trên
đất sỏi đá cho năng suất khá cao. Bông mang về nhà được phơi khô và cán tách
bằng một dụng cụ gọi là cú cạo. Sau đó được bật (coọng púi) tạo thành mảng mịn,
sau cùng được kéo, se sợi (giọt búi).Sợi được cho vào nồi nấu (áu xạ) cùng với gạo
gọi là hồ sợi.Dùng khung dệt thủ công (chích cậy) dệt thành tấm vải (tắm pấu).Vải
được nhuộm (nghỉm pấu) bằng chàm (đã mất giống 20-30 năm nay do không được
trồng) và một số nguyên liệu khác.
1.2.6 Trang phục [2], [10], [31], [47]
Trang phục truyền thống của đồng bào bền đẹp, kiểu dáng phong phú, mỹ
thuật trang trí hài hòa, phù hợp cho nhiều đối tượng sử dụng khác nhau. Áo dài
(xăng xạng) may cổ đứng ngắn, cài khuy bên nách phải, có xẻ tà dài, tà áo phía
trước dài hơn tà phía sau một chút. Áo dài của đàn ông và đàn bà giống nhau, chỉ
khác là đàn bà thường mặc dài còn đàn ông chỉ ngắn dưới đầu gối một chút.
Ngày nay trang phục của người Sán Chỉ đã có nhiều thay đổi.Nam, nữ mặc
ngày thường và ngày lễ tết đều giống như người Kinh và khó phân biệt với người
Kinh.Thi thoảng mới thấy có người già, nhất là các bà già mặc quần áo truyền thống
vào các dịp lễ hội.Trang phục cổ truyền dân tộc được giữ lại để mặc khi qua đời để
tổ tiên dễ nhận. Nay các gia đình ít trồng bông và tự dệt vải nữa mà đi cắt may ở
cửa hiệu hoặc mua quần áo may sẵn. Các đồ trang sức phụ nữ như vòng cổ, vòng
tay nay ít dùng, chỉ đeo khuyên tai hoặc nhẫn, đồ trang sức bằng vàng đã thay thế
dần cho đồ bạc.
1.2.7 Ẩm thực [10]

Ngọc Hoàng ở họ Trần và họ Nịnh. Với người Sán Chỉ ở Thanh Lâm chỉ thờ tổ tiên
mà không thờ ma Ham.
13

Đám ma, đám chay của người Sán Chỉ thể hiện khá rõ những quan niệm về
tôn giáo.Đạo giáo mà đặc biệt là đạo Phật ở họ khá đậm nét.Trong khi làm ma,
người ta lập đàn cúng Phật, thờ Thái Thượng Lão Quân và làm lễ phá ngục để giải
thoát linh hồn. Vị trí đặt mộ được người nhà mời thầy cúng hay thầy phong thủy
xem xét. Mộ của người Sán Chỉ được đắp dài như người Kinh, nếu là đất dốc thì
đầu phải đặt lên trên, không khi nào được đặt nằm ngang dốc.Sau 3 năm có cải táng
thì mộ đắp tròn.
1.3. Nghiên cứu về cây thuốc của người Sán Chỉ và Sán Chay ở Việt Nam
Điều tra cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc
Sán Chỉ ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã thu được 180 mẫu cây, giám
định được 132 loài thuộc 119 chi, 62 họ của 4 ngành thực vật bậc cao. Nghiên cứu
này đã tư liệu hóa được 18 nhóm bệnh chứng được phòng và chữa trị bởi 180 loài
cây thuốc khác nhau, đồng thời cũng tư liệu hóa được 5 bài thuốc chữa các bệnh:
chảy máu chân răng, thấp khớp, nhức xương, vàng da và cam sài ở trẻ em [45].
Điều tra tri thức sử dụng cây thuốc của người sán chay ở xã Lệ Viễn, Sơn
Động, Bắc Giang đã thu được 318 mẫu cây, giám đinh được 214 loài thuộc 113 chi,
72 họ. Nghiên cứu này đã tư liệu hóa được 27 nhóm bệnh chứng được phòng và
chữa trị bởi 283 loài cây thuốc khác nhau [32].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status