Điều tra, đánh giá tập đoàn cây thức ăn gia súc hiện có ở xã hà hiệu huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn - Pdf 89


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-------------@&?---------------

Trần Thị Hương Lam ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ TẬP ĐOÀN CÂY THỨC ĂN
GIA SÚC HIỆN CÓ Ở XÃ HÀ HIỆU HUYỆN BA BỂ
TỈNH BẮC KẠN Chuyên ngành:
Sinh thái học

Mã số: 60-42-60
LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thày giáo PGS - TS Hoàng Chung đã tận
tình hướng dẫn để tôi có thể hoàn thành luận văn này.
Tôi xin cám ơn Tiến sỹ Lê Ngọc Công cùng toàn thể các thầy cô giáo, các
cán bộ, nhân viên khoa Sinh trường Đại học sư phạm Thái Nguyên. Xin cám ơn
cán bộ, nhân viên phòng thí nghiệm Trung tâm - Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên và bạn bè đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học
tập, nghiên cứu khoa học.
Nhân đây tôi cũng xin cám ơn Sở Giáo Dục – Đào Tạo Thái Nguyên, Phòng
Giáo Dục – Đào Tạo Phổ Yên, Trung tâm KTTH – HN & Giáo dục thường xuyên
Phổ Yên đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài!
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 9 năm 2007
Tác giả

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Sản lượng VCK và chất lượng những loại cỏ trên vùng đất thấp vào
45 ngày cắt.
Bảng 1.2: Sản lượng VCK của cỏ Ghinê tía cắt sau 30 ngày.
Bảng 1.3. Năng suất của các giống cỏ hòa thảo (tấn/ ha/ năm)
Bảng 1.4: Những dạng sống chính của thực vật đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam.
Bảng 1.5:Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của một số loài cỏ chính.
Bảng 1.6: Giá trị dinh dưỡng của Ngô trong các giai đoạn khác nhau.
Bảng 4.1: Thành phần loài ở các điểm nghiên cứu trong thảm cỏ tự nhiên.
Bảng 4.2: Những dạng sống chính của thực vật trong thảm cỏ tự nhiên.
Bảng 4.3: Năng suất các thảm cỏ trong đồng cỏ tự nhiên.
Bảng 4.4: Thành phần loài ở các điểm nghiên cứu trong thảm cỏ dưới rừng.
Bảng 4.5: Những dạng sống chính của thực vật trong thảm cỏ dưới rừng.
Bảng 4.6: Năng suất các thảm cỏ dưới rừng.
Bảng 4.7: Thành phần loài trong các thảm cỏ soi bãi hoang hóa.
Bảng 4.8: Những dạng sống chính của thực vật trong các soi bãi hoang hóa.
Bảng 4.9: Năng suất các thảm cỏ trong soi bãi hoang hóa.

Chương 3: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu 33
3.2. Phương pháp nghiên cứu 33
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Thảm cỏ tự nhiên trong vùng nghiên cứu 42
4.2. Các loài cây cỏ tự nhiên có giá trị chăn nuôi 87
4.3. Các loài cây trồng có giá trị chăn nuôi 90
4.4. Tình hình sử dụng hiện nay, khả năng và xu hướng phát triển. 93
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
1. Kết luận 97
2. Đề nghị 98
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
99
TÀI LIỆU THAM KHẢO
100

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
MỞ ĐẦU
Đồng cỏ là cơ sở quan trọng nhất của nghề chăn nuôi gia súc đặc biệt là trâu
bò, càng quan trọng khi nền công nghiệp chăn nuôi ngày càng phát triển trên đà
thâm canh tăng năng xuất .Cỏ không những là nguồn thức ăn gia súc có chất lượng,
rẻ tiền và phù hợp với điều kiện nhiều nước mà cỏ còn có những tác dụng khác như
bảo vệ và cải tạo đất trồng dưới dạng này hay dạng khác [14]. Đồng cỏ là kho dự
trữ nguồn năng lượng tiềm tàng, gia súc sẽ chuyển hoá năng lượng chứa trong đồng
cỏ thành thức ăn của con người. Con người đã từ lâu biết khai thác đồng cỏ, nhưng
lúc đầu còn hoàn toàn dựa vào tự nhiên. Nhưng nhu cầu phát triển chăn nuôi ngày
một lớn, hình thức chăn thả tự nhiên như trước không thể đáp ứng được. Do đó đòi
hỏi loài người phải đầu tư trí tuệ cho việc khai thác đồng cỏ. Các nhà khoa học đã

La), Lai Châu, đồng cỏ Ngân Sơn (tỉnh Bắc Kạn) và một số đồng cỏ thuộc vùng
Tây Nguyên. Các đồng cỏ khác thường có diện tích nhỏ từ vài chục đến vài trăm ha.
Các thảm cỏ tự nhiên thường xuất hiện trên đất xấu, cây quán mộc nhiều, những
khu vực này dùng từ “bãi chăn” có lẽ chính xác hơn [24]. Theo Hoàng Chung
(2004) thì đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam là loại hình thứ sinh, do khai phá rừng
mà thành [10], tuỳ theo mức độ bị tác động hàng ngày của con người và gia súc mà
nó biểu hiện ra ở các trạng thái khác nhau…
Đối với gia súc nhai lại thì thức ăn xanh đóng một vai trò hết sức quan trọng vì
trong khẩu phần ăn hàng ngày của chúng có thể chiếm từ 60-100% [22]. Đáp ứng
nhu cầu thức ăn cho gia súc, một trong những vấn đề cơ bản phải giải quyết khi
muốn phát triển chăn nuôi là phát triển đồng cỏ, biện pháp hợp lý và kinh tế nhất
mà nhiều nước, kể cả các nước tiên tiến đang áp dụng [14]. Trên thực tế hiện nay
nguồn thức ăn xanh tự nhiên ngày càng cạn kiệt do đồng cỏ chăn thả dần bị thu hẹp
lại nhường chỗ cho cây trồng khác. Bên cạnh đó do chăn thả một cách bừa bãi
không có kỹ thuật đã làm cho một số bãi chăn trở thành đất trống, đồi trọc, không
còn khả năng khai thác dẫn đến thiếu thức ăn cho đàn gia súc, đặc biệt là về mùa
đông [34]. Để phục vụ cho sự phát triển chăn nuôi, nhiều địa phương ngoài việc biết
khai thác các loài cây, cỏ trong các loại hình tự nhiên khác nhau thì nhiều cây trồng
cũng được tận dụng làm thức ăn cho gia súc. Cho đến nay đã có nhiều công trình
nghiên cứu về thành phần cây thức ăn gia súc ở vùng nhiệt đới như: Lê Sinh Tặng,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
Nguyễn Chính (1959), Nguyễn Quang Ngọ, Lê Sinh Tặng (1964), Lê Sinh Tặng
(1969), Trịnh Văn Thịnh và các tác giả (1974), Điền Văn Hưng (1975), Nguyễn
Đăng Khôi (1978, 1979, 1981), Võ Huy Giảng (1983), Dương Thành Liên (1981),
Bùi Xuân An, Ngô Văn Mậu (1981), bước đầu đã nêu lên được tập đoàn cây thức
ăn gia súc. Một số tác giả có đề cập đến vấn đề cải tạo đồng cỏ tự nhiên, sử dụng
hợp lý hơn hay tạo đồng cỏ trồng, nhập nội một số loài mới, phân tích thành phần
dinh dưỡng của một số loài cỏ ở nước ta như : Đoàn Ẩn, Võ Văn Trị (1976), Hoàng

Những cây này cũng có thể được sử dụng vào những mục đích khác nhau như bảo
vệ đất, chống xói mòn, làm tăng độ màu mỡ của đất và hạn chế cỏ dại [1].
Cỏ là loại thức ăn chủ yếu của trâu bò, vì trong cỏ có đầy đủ chất dinh dưỡng,
như bột, đường, đạm, khoáng, vitamin mà các loại gia súc nhai lại có khả năng sử
dụng và hấp thụ tốt. Mặt khác, các chất dinh dưỡng trong cỏ không những rất cần
thiết mà lại có tỉ lệ thích hợp đối với nhu cầu sinh lý của trâu bò. Ví dụ: nếu tỉ lệ
đường - đạm thích hợp nhất cho khẩu phần thức ăn của bò sữa là 1:1 thì tỉ lệ đó
trong cỏ non thay đổi từ 1:1 đến 1.4 :1 [2]. Cỏ còn là loại cây thức ăn dễ sản xuất,
có năng suất cao, tương đối ổn định và là nguồn thức ăn rẻ tiền góp phần làm giảm
giá thành sản phẩm chăn nuôi, chưa kể ưu thế của các giống cỏ lâu năm là thường
chỉ cần gieo trồng một lần mà sử dụng được nhiều năm. Ví dụ: Giá thành cho 1kg
cỏ Mộc Châu và cỏ lông Para trong 3 năm sử dụng là: 0.037 và 0.035 đồng [14].
Họ Hoà thảo quan trọng không những vì nó phân bố rộng rãi chiếm tỉ lệ cao
trong số thực vật trên đồng cỏ, có giá trị dinh dưỡng cao, nhất là lượng
hyđratcacbon và đặc biệt là các chất dinh dưỡng được bảo tồn, ít hao hụt khi thu
hoạch. Các cây họ Đậu tuy chiếm tỉ lệ ít hơn trong số cây cỏ làm thức ăn gia súc
nhưng có vai trò quan trọng vì giá trị dinh dưỡng cao, nhất là lượng Protein và
khoáng thích hợp cho việc chế biến thức ăn tinh bổ xung.
Ở bãi cỏ tự nhiên với điều kiện thổ nhưỡng tốt thì 1kg cỏ tươi cung cấp được
16g prôtêin tiêu hoá và 32g lipit, 8 kg loại cỏ này tương đương 1 đơn vị thức ăn [36].
Theo Meilroy (1972) cần chọn cỏ để làm thức ăn gia súc là khi thu hoạch dưới
dạng này hay dạng khác phải đảm bảo các yêu cầu sau [46]:
- Cỏ phải có khả năng tái sinh qua mầm chồi còn lại sau mỗi lần thu hoạch.
- Các tế bào sinh trưởng phải tập trung phần lớn ở các gốc là nơi khi thu hoạch
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
ít bị ảnh hưởng tới.
- Cần sinh trưởng liên tục với khả năng chịu hạn và chịu lạnh cao.
- Cần có thân ngầm để tạo điều kiện phát triển cả trên và dưới mặt đất.

nhỏ được trồng các giống Stylo 184, Panicum maxinum, Paspalum atratum, … đều
phát triển tốt cung cấp nguồn thức ăn cho gia súc. Ngoài ra, các giống cỏ trên còn được
trồng theo đường đồng mức ở đất dốc, cải tạo đất trống đồi núi trọc, trồng dưới tán cây
ăn quả. Hằng năm sản xuất được trên 1 tấn hạt cỏ (E.F. Lating, F. Gagunada, 1995).
Một số nước khác như Malaysia, Lào, … cũng đã chú trọng đầu tư phát triển
cây thức ăn cho gia súc từ những năm 1985. Cho đến nay một số giống cỏ Hoà thảo
và cỏ họ Đậu được chọn lọc, đang phát huy hiệu quả cao trong sản xuất. Hằng năm
sản xuất được 2-3 tấn hạt cỏ các loại. Như vậy, phong trào trồng cây thức ăn xanh
để chăn nuôi gia súc đang được nhiều nước quan tâm. Nó thực sự là động lực thúc
đẩy ngành chăn nuôi đại gia súc phát triển.
* Những kết quả nghiên cứu về nâng cao năng suất cây thức ăn gia súc trên thế giới:
Trên thế giới hiện nay ngoài việc tuyển chọn, lai tạo, di nhập các giống cỏ tốt
từ vùng này sang vùng khác, người ta còn tập trung giải quyết vấn đề năng suất,
chất lượng cỏ.
Tại Thái Lan, sản lượng vật chất khô của các giống cỏ Digitaria decumbens,
Paspalum atratum, Brachiaria mutica và Paspalum plicatulum khoảng từ 15-20,
18-25, 9-15 và 6-10 tấn/ha (bảng 1.1).
Bảng 1.1: Sản lượng VCK và chất lượng những loài cỏ trên vùng đất thấp vào
45 ngày cắt.
Tên khoa học Tên Việt Nam

Năng suất (tấn/ha)

Prôtêin (%)Brachiaria mutica

Cỏ lông Para 9 - 15


11/10/2000 6,9
11/11/2000 6,8
11/12/2000 4,6
11/01/2001 2,6
11/02/2001 4,1
11/03/2001 4,3
11/04/2001 5,8
11/05/2001 3,7
Nguồn: Annual Report on Animal Nutrition Division (2001) [40].
Theo Quilichao (Colombia CIAT, 1978) [42], giống Brachiaria decumbens có
thể đạt năng suất chất khô trên 42.000 kg/ha/năm với thí nghiệm không bón đạm
nhưng bón đủ lân và nó là một giống cỏ tốt nhất trong điều kiện bón lân và đạm
thích hợp. Thí nghiệm cắt hàng năm cho năng suất chất khô đạt 36.700 kg/ha, kết
quả này cao hơn so với cỏ Pangola (Digitaria decumbens), Para (Brachiaria
mutica) và Ghinê (Panicum maximum) (Barnard, 1969) [41].
Tại Purertorico, Vieente - Chandler Silva và Figarella (1959) [49] thông báo
năng suất giống Panicum maximum Cv Makueni đạt 26.846 kg VCK/ha với mức
bón 440 kg đạm/ha và cứ 40 ngày cắt 1 lần khi trồng cỏ. Middleton và Micosker,
(1975) [47] cho biết vào năm 1973 và 1974 tại miền Nam Johnstone, vùng
Queensland, vẫn giống Panicum maximum Cv Makueni đã sản xuất được 60.000 kg
VCK/ha với điều kiện cung cấp 300 kg đạm/ha. Tại Samford, Queensland năng suất
hàng năm của giống Paspalum rinatatum là 15.000 kg VCK/ha (Davies, 1970) [43].
Đối với giống cỏ Setaria sphacelata các kết quả nghiên cứu của Riveros và
Wilson (1970) [48] tại Redlanbay, Queensland, thông báo năng suất đạt từ 23.500-
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
28.000 kg/ha qua mùa sinh trưởng 6 tháng trong điều kiện cỏ được tưới nước và
cung cấp 225 kg đạm/ha/năm trên nền đất đỏ Bazan mầu mỡ…
1.1.2. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc ở Việt Nam

7 Setaria splendida
28.13 5.56 - - 75.1 14.1 80.4 12.6
8 Brachiaria mutica
28.42 7.61 68.9 12.7 42.6 10.2 86.6 15.9
9 Brachiaria decumbens
44.16 8.77 72.6 13.7 56.7 11.2 73.8 11.8
Nguồn: Lê Hòa Bình, Nguyễn Ngọc Hà và CTV, 1992.
Phan Thị Phần và CTV (1998) [25]; Vũ Thị Kim Thoa, Khổng Văn Đĩnh
(2001) [30] khi nghiên cứu cỏ Ghinê TD58 ở khu vực miền Nam và miền Bắc cho
kết quả:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
+ Khu vực miền Nam, địa điểm nghiên cứu tại vùng đất xám Bình Dương với
20 tấn phân chuồng, 80 kg P
2
O
5
, 80 kg K
2
O và 500 kg vôi/ha/năm. Lượng phân
đạm bón từ 60 – 90 kg N/ha / năm, năng suất chất xanh cỏ Panicum maximum TD
58 đạt 64,59 – 83,33 tấn /ha/ năm. Tỷ lệ lá cao 51,48 – 60,44%, năng suất hạt 287 –
323 kg/ha/năm. Khoảng cách lứa cắt thích hợp là 40 ngày/ lứa.
+ Khu vực miền Bắc trên 2 loại đất của vùng đồng bằng và vùng đất đồi trong
điều kiện trung tính, đất tốt, đất chua nghèo lân và kali cỏ đều có tốc độ sinh trưởng
khá tốt (1,96 – 2,01 cm/ngày). Năng suất chất xanh đạt 90 – 100 tấn/ ha/ năm. Cỏ
Ghinê có khả năng cho thu hạt, năng suất đạt 450 kg/ha, tỷ lệ sử dụng của gia súc
đối với cỏ cao: Trâu 94%, bò sữa 77% và ngựa 85%.
Tỷ lệ tiêu hóa của dê đối với cỏ Panicum maximum TD 58 cao, khả năng sử

thuộc vào mức độ sử dụng của con người.
Đối với vùng núi Bắc Việt Nam tồn tại nhiều kiểu savan, đồng cỏ và các dạng
trung gian. Trong đai nhiệt đới, trên những vùng đã bị chặt phá, khi mà đất còn khá
tốt, độ ẩm còn khá cao, thì sẽ hình thành ở đây loại hình đồng cỏ vì thảm cỏ ở đây
gồm các cây cỏ có thân rễ dài, búi thưa thuộc nhóm trung sinh sống lâu năm ngừng
sinh trưởng vào mùa đông. Trong quá trình tác động tiếp theo con người sẽ làm cho
lớp đất mặt bị bào mòn, khả năng giữ nước của đất kém, đất có độ chua cao, trong
thảm cỏ tỉ lệ cây hạn sinh tăng lên, cuối cùng chỉ tồn tại ở đây các loài cỏ, cây bụi
hạn sinh và cây đoản mệnh, hình thành savan cỏ, savan cây bụi hoặc thảm cây bụi
hạn sinh. Có thể tóm tắt quá trình trên như sau: Rừng nguyên sinh - rừng thứ sinh
- đồng cỏ - savan cỏ hoặc savan bụi - thảm cây bụi hạn sinh [10].
1.2.2. Những nghiên cứu về khu hệ thực vật:
Nghiên cứu về khu hệ thực vật là một trong những nghiên cứu được tiến hành
từ lâu trên thế giới. Người ta có thể nghiên cứu khu hệ thực vật ở từng vùng hay
trên từng thảm thực vật khác nhau. Đối với loại hình đồng cỏ, thảo nguyên, ở Liên
Xô (cũ), có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần loài thực vật trong đồng cỏ,
thảo nguyên đã công bố như: Alekhin (1904), Vưsotxki (1915), Graxits (1927),
Sennhicop (1938), Creepva (1978), … [9]. Nói chung, theo các tác giả thì ở mỗi
một vùng sinh thái xác định sẽ hình thành các thảm thực vật đặc trưng, cơ sở để
phân biệt sự khác nhau giữa chúng là thành phần loài và dạng sống, đó là chỉ tiêu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
quan trọng của các công trình nghiên cứu về thực vật.
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về khu hệ thực vật trong đồng cỏ, savan hoặc
một số loại hình thuộc thảo khác mới chỉ được tiến hành từ những năm 1950 trở về
đây. Các tác giả đã tiến hành nghiên cứu khu hệ thực vật trong đồng cỏ như:
Hoàng Chung (1980) nghiên cứu thành phần loài và dạng sống của đồng cỏ
vùng núi Bắc Việt Nam đã đưa ra bảng phân loại các kiểu đồng cỏ, savan, thảo
nguyên. Tác giả đã công bố thành phần loài thu được là 233 loài thuộc 54 họ và 44

xanh, thực vật rụng lá vào điều kiện bất lợi, thực vật có thời kỳ sinh trưởng và
phát triển ngắn, thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển lâu năm.
Đối với cây thuộc thảo có các bảng phân loại dạng sống đã được làm do
Cannon (1911), Markle (1917),… Ở Liên Xô (cũ) có G.N.Vưsoxki (1915),
Kadakêvich (1922), Laprenko (1935) ... Đặc biệt, trong phân loại dạng sống thực
vật của T.Isatrenko (1954), I.V.Brixôva (1960, 1961), … đã sử dụng những đặc
điểm cấu trúc cả phần dưới đất của thực vật. Dôdulin (1959), Xêbêbriacôp (1954,
1955, 1962, 1964) cũng đã đưa ra một số hệ thống dạng sống tương tự. Nhưng hệ
thống dạng sống hoàn mỹ hơn cả cho hoà thảo có lẽ là của Golubep (1957, 1962,
1968) [10].
Những công trình nghiên cứu về dạng sống thực vật thuộc thảo ở Việt Nam
cũng như ở Đông Dương hầu như chưa có. Doãn Ngọc Chất (1969) đã nghiên cứu
dạng sống của một số loài thuộc họ hoà thảo. Hoàng Chung (2004) dựa trên những
nguyên tắc phân loại của Golubep (1962, 1968), thống kê thành phần dạng sống cho
loại hình đồng cỏ Bắc Việt Nam đã đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân
loại nó được trình bày ở bảng 1.4 (trang 13) [10].
1.2.4. Những nghiên cứu về năng suất
Nghiên cứu về năng suất sinh vật học của các thảm thực vật đã bắt đầu từ thế
kỷ XIX, ban đầu chủ yếu là những công trình nghiên cứu có tính chất thống kê
trong kinh tế nông nghiệp. Sang đầu thế kỷ XX, những công trình nghiên cứu về
năng suất sinh vật học của các quần xã cỏ tự nhiên và cỏ cho chăn nuôi đã được
nghiên cứu nhiều hơn, với những thí nghiệm trên các kiểu đất khác nhau.
Cuối thế kỷ XX, những công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu vào nghiên
cứu phần trên mặt đất, hoặc là số lượng các chất hữu cơ ở trạng thái sống và chết,
sự tăng trưởng của nó, phần chết hàng năm, thảm mục...
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
Sau đó nhiều công trình nghiên cứu phần trên mặt đất được tiến hành cùng với
phần dưới đất trong sự phụ thuộc từ những điều kiện tạo thành nó của các kiểu thực

7 Cây thảo lâu năm có hệ rễ cái
4.2 4.2
8 Cây có chồi mọc từ rễ
0.9 1
9 Cây thảo sống lâu năm có hệ rễ cái, có thân rễ ngắn
0.9 0
10 Cây thảo có hệ rễ chùm, sống lâu năm
14.4 14.7
11 Cây thảo có hệ rễ chùm, sống lâu năm, có thân bò
2.3 4.2
12 Cây thảo mọc thành búi thưa, sống lâu năm
15.7 12.4
13 Cây thảo mọc thành búi dày, sống lâu năm
4.2 7.3
14 Cây thảo sống lâu năm có thân rễ dài
4.2 5.2
15 Cây thảo sống lâu năm có thân rễ dài và thân bò
5.1 7.3
16 Cây thảo một năm có rễ cái
6.5 5.2
17 Cây thảo một năm có hệ rễ cái, có thân bò
0.4 0
18 Cây thảo một năm có hệ rễ chùm
4.2 2
Tổng số:
- Cây thuộc thảo, sống nhiều năm.
51.9 56.3
- Cây thuộc thảo, sống một năm.
11 7.2
- Cây có hệ rễ cái.

giống cỏ đó. Thành phần dinh dưỡng của thức ăn xanh phụ thuộc vào giống cây
trồng, điều kiện khí hậu, kỹ thuật canh tác, giai đoạn sinh trưởng. Đây là một chỉ
tiêu hết sức quan trọng không thể thiếu khi nghiên cứu, đánh giá một giống cây thức
ăn, trên cơ sở đó giúp các nhà chăn nuôi tính toán khẩu phần ăn cho gia súc một
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
cách hợp lý, để chúng sinh trưởng và phát triển tốt.
- Độ ăn được:
Những loài trong đồng cỏ Bắc Việt Nam có giá trị chăn thả khá tốt, theo thành
phần loài thì trên 95% là thuộc nhóm hoà thảo, trong đồng cỏ tồn tại một số loài cây
bụi và cây thuộc thảo khác, phần lớn những loài này cũng được gia súc ăn. Tuy
nhiên, giá trị chăn thả của đồng cỏ cũng thay đổi theo thời gian và theo từng kiểu
thảm, điều này có quan hệ mật thiết với đặc điểm sinh thái, với các giai đoạn sinh
trưởng, với thành phần thực vật, với chiều cao thảm cỏ và thành phần hoá học của
nó cùng các hình thức tác động của con người vào thảm cỏ.
Ở một số loài giá trị chăn thả hầu như không thay đổi trong suốt cả thời kì sinh
dưỡng như: Ischaemum indicum, Paspalum scrobiculatum, Paspalum conjugatum
và một số loài một năm. Một số loài khác thì giá trị chăn thả giảm dần theo thời
gian, ở những loài này tuổi càng tăng thì tỉ lệ phần thân tăng và phần trăm chất xơ
trong thân và lá tăng lên. Lá nhiều loài trở nên cứng và sắc như cỏ Tranh, Chè vè, ...
Thành phần họ Đậu trong đồng cỏ Bắc Việt Nam rất ít, một số loài trong đó
giá trị chăn thả kém, lá cứng, có nhiều lông cứng như: Desmodium triquetum, một
số loài khác thì năng suất lại rất thấp – sinh khối tập trung chủ yếu ở phần thân như:
Desmodium microphyllum. Trong thành phần cỏ của một số quần xã có nhiều cây
họ Cói, những loài này lá cứng và sắc như Carex, Rhynchospora, ... một vài loài
khác năng suất rất thấp [10].
- Thành phần hoá học của thực vật:
Giá trị dinh dưỡng của các loài cây cỏ quan hệ mật thiết với thành phần hoá
học của nó và với hàm lượng của các chất chứa trong chúng, đó là những chất rất

%
chất

ĐVTA
1 Ischaemum indicum Cỏ lông 76.7 1.954 7.86 1.379 1 8.8 0.19
2 Arundinella nepalensis Cỏ xương 77.4 1.976 9.94 1.744 0.3 7.9 0.18
3 Cymbopogon caesius Cỏ sả 70.4 2.306 9.61 1.686 1.9 9.3 0.25
4 Imperata cylindrica Cỏ Tranh 74 1.945 9.747 1.71 1.1 8.8 0.25
5 Setaria viridis Cỏ sâu róm 67.5 2.1

1.6 10.3 0.27
6 Chrysopogon aciculatus Cỏ may 64.4 3.1

0.6 8.3 0.3
7 Digitaria longiflora Cỏ chỉ 73.6 3.4

0.5 7.4 0.21
8 Digitaria decumbens Pangôla

2.295 8.88 1.558

9 Paspalum urvillei Mộc châu

2.6 10.48 1.839

0.1
10 Fimbristylis annua Họ cói

0.979 4.288 0.747


Dmitriep (1948) cho thấy nếu nhiều năm cắt cỏ vào đúng thời gian ra hoa của cỏ sẽ
làm thay đổi lớn thành phần loài thực vật trong đồng cỏ [24].
Dựa vào thời gian, khi nghiên cứu tác giả Lavrenco F.M (1938, 1940) đề nghị
chia những biến đổi của thực vật đồng cỏ thành những thay đổi hàng năm và những
thay đổi lâu năm. Đối với đồng cỏ chăn thả, những thay đổi ngắn hạn là quan trọng
nhất [24]. Còn Sennhicop A.P (1941) đã phân chia động thái mùa của thảm thực vật
thành 7 giai đoạn phát triển, nối liền với các thời kỳ ra hoa kết quả của một số cây
nhất định.
Theo Hoàng Chung (1974), Uchekhin (1977) đã nghiên cứu biến động mùa của
các quần xã và phân chia ra các kiểu thực vật theo phân bố không gian và thời gian.
Tính chất quan trọng của các quần xã thực vật có quan hệ mật thiết với cấu trúc không
gian và thời gian là năng suất. Đồng thời với nó là vấn đề tích luỹ và biến động của các
thành phần trong sinh khối của thực vật thuộc thảo, đặc biệt là trong thảo nguyên đồng
cỏ nó có ý nghĩa lớn trong nghiên cứu không chỉ thảm thực vật mà trong quá trình mùn
hoá, quá trình tích luỹ và phân huỷ các hợp chất hữu cơ [9].
Ngoài ra, đất đồng cỏ là một yếu tố quan trọng làm thay đổi thảm thực vật
trong đồng cỏ. Ở đồng cỏ trên đất đầm lầy hay đất than bùn, khi đốt cỏ vào cuối
mùa xuân, mùa hè và mùa thu thấy thảm cỏ cháy đến tận phần chất khoáng, do đó
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18
đất càng bốc hơi mạnh và càng bị mặn [24].
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về động thái đồng cỏ còn rất ít. Hoàng Chung
(1980) đã nghiên cứu biến động mùa của quần xã cỏ vùng Bắc Việt Nam. Công
trình nghiên cứu của ông được bắt đầu từ năm 1975 đã đề cập đến đầy đủ các chỉ
tiêu về khí hậu, thổ nhưỡng, phần trên mặt đất và phần dưới mặt đất và đưa ra
những kết luận, những qui luật của động thái đồng cỏ vùng Bắc Việt Nam [9].
1.2.7. Vấn đề thoái hoá đồng cỏ do chăn thả
Trong thực tế hiện nay đồng cỏ luôn luôn bị thay đổi do tác động thường
xuyên của con người, vì đồng cỏ đã và đang là đối tượng hoạt động kinh tế nông

hạ và cuối cùng là sự hình thành thảm bào tử thực vật.
A.V.Abramtruk; P.L Gortriakopski (1980) khi đánh giá mức độ thoái hoá của
các quần xã cỏ do tác động của con người ông đã đề ra bảng thang bậc riêng gồm có
3 mức, sự khác nhau giữa các mức là phụ thuộc vào mức độ thoái hoá do con người
tạo ra (1 - ít; 2 - trung bình; 3 - nhiều).
Sự biến đổi các thảm thực vật (đồng cỏ) dước tác động của yếu tố do con
người tạo ra ở vùng nhiệt đới đã từ lâu trở thành vấn đề nóng bỏng cho nền kinh tế
và cho chăn nuôi ở xứ nhiệt đới. Nhưng những nghiên cứu về vấn đề này cho đến
nay vẫn còn rất ít: Cooper I.P; Taiton N.M và pleming G (1968); Dương Hữu Thời
(1981); Hoàng Chung (1981, 1983)......
Đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam là loại hình đồng cỏ thứ sinh. Đặc biệt
trong điều kiện khí hậu nhiệt đới đồng thời đồng cỏ ở đây phân bố chủ yếu ở vùng
núi, các sườn đồi có độ dốc khá lớn (15 - 40
0
), nên vấn đề thoái hoá của đồng cỏ do
chăn thả là một trong những vấn đề nan giải hiện nay của các nhà nghiên cứu đồng
cỏ Bắc Việt Nam.
Những nghiên cứu về sự thoái hoá của đồng cỏ do chăn thả ở Việt Nam hiện
nay đã được Dương Hữu Thời (1981) đề cập trong cuốn “Đồng cỏ Bắc Việt Nam”
khi phân tích thành phần loài và các điều kiện sinh thái của đồng cỏ đã đề cập đến 2
nguyên nhân của sự thoái hoá đồng cỏ Bắc Việt Nam là do cường độ chăn thả và
điều kiện khí hậu.
Hoàng Chung (1981, 1983, 2003) sau hơn 10 năm nghiên cứu tại đồng cỏ ở
vùng Thôm Luông (Ngân Sơn) đã phân tích ảnh hưởng của sự chăn thả không có kế

Trích đoạn Tình hình phát triển đồng cỏ ở Việt Nam Đặc điểm thành phần dinh dưỡng của cỏ, cây trồng làm thức ăn gia súc. Địa hình, địa mạo Các phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm Tính toán lượng vật chất khô trong mẫu phân tích (S): Được tính theo công thức phần trăm (%):
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status