Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Đất đai là một tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, tư liệu sản xuất đặc
biệt, là điều kiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại của bất kỳ ngành sản xuất
nào. Nước ta có tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 33,1 triệu ha, trong đó đất
đồi núi và đất dốc chiếm ¾ lãnh thổ, đất nông nghiệp chỉ chiếm 7,348 triệu ha
với 80% dân số sống ở nông thôn và miền núi nên bình quân đất nông nghiệp
trên một lao động nông nghiệp chỉ có 3446 m
2
/người (Bộ NN &PTNT, 1997)
[1]. Nói đến nông thôn miền núi là nói đến sản xuất nông lâm nghiệp, nhìn
chung phát triển kinh tế xã hội ở vùng nông thôn miền núi thấp và chậm hơn
các vùng khác, việc phát triển kinh tế xã hội ở vùng nông thôn miền núi còn
thiếu đồng bộ, trình độ kỹ thuật sản xuất còn lạc hậu, chưa có kinh nghiệm,
công tác quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp vẫn còn nhiều bất cập. Vì
vậy mà tài nguyên thiên nhiên ngày càng suy thoái, cạn kiệt, đất đai bị xói
mòn, rửa trôi, diện tích đất rừng có xu hướng giảm dần. Chính vì thế các sản
phẩm thu được từ rừng và sản xuất nông nghiệp không đủ đáp ứng nhu cầu
cuộc sống của người dân. Với những áp lực và hiện trạng sử dụng đất đai như
hiện nay cho thấy đất đai ngày càng khan hiếm và có giới hạn, do đó đòi hỏi
phải bố trí, sắp xếp và sử dụng các loại đất đai một cách hợp lí để đạt được
khả năng tối đa về sản xuất ổn định và an toàn lương thực, đồng thời cũng bảo
vệ được hệ sinh thái cây trồng và môi trường sống. Do vậy việc quy hoạch
phát triển sản xuất nông lâm nghiệp là một yêu cầu cấp thiết hiện nay đối với
các vùng nông thôn miền núi nói riêng và cả nước nói chung.
Công tác quy hoạch sử dụng đất ở các cấp lãnh thổ đặc biệt việc quy
hoạch ở cấp xã và thôn, bản đã góp phần phân bổ đất đai một cách hợp lí và
phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương, phù hợp với mục đích sử
dụng đất đai một cách bền vững với mục tiêu phương hướng phát triển của
cộng đồng địa phương và tâm tư nguyện vọng của người dân. Không những
núi nói chung và xã Hà Hiệu nói riêng trong những năm gần đây vẫn gặp phải
những khó khăn và thiếu sót như: Tiềm năng đất còn hạn chế, chưa có quy
hạch cụ thể và chi tiết cho hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp, sản xuất
2
22
manh mún chưa tập chung, chưa thật sự đáp ứng nhu cầu sản xuất ngày càng
cao của người dân trong xóm. Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi vẫn
còn nhiều bất cập, người dân thiếu vốn, thiếu kiến thức về quy hoạch sử dụng
đất, nên họ chưa phát huy được vai trò và năng lực của bản thân. Vì vậy
hướng giải quyết hiện nay là phải xây dựng các kế hoạch phát triển sản xuất
nông lâm nghiệp có sự tham gia của người dân, nhằm tao cơ hội cho họ được
tham gia vào mọi giai đoạn của kế hoạch để họ có thể nhận thức được khó
khăn, thuận lợi và tiềm năng của xóm. Từ đó đề xuất được giải pháp phù hợp
với điều kiện của địa phương.
Qua tình hình thực tế tại địa phương và vai trò to lớn của công tác quy
hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Lập
quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân tại xã Hà Hiệu,
huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn” nhằm đáp ứng nhu câu sử dụng đất ổn định và
bền vững cho xã.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Cung cấp thêm cơ sở khoa học trong công tác quy hoạch sử dụng đất
cấp xã có sự tham gia của người dân.
- Đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất và phát triển kinh
tế nông thôn cho xã Hà Hiệu, Huyện Ba Bể, Tỉnh Bắc Kạn.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Điều tra, đánh giá được hiện trạng sử dụng đất và một số loại cây
trồng, vật nuôi trong xã Hà Hiệu, Huyện Ba Bể, Tỉnh Bắc Kạn.
- Xác định được những thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức trong
phát triển sản xuất nông lâm nghiệp tại đại bàn nghiên cứu.
- Xây dựng được phương án quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp
quân đất tự nhiên theo đầu người vào loại thấp (thứ 126), với mức 0,48
ha/người chỉ bằng 1/6 mức bình quân thế giới (Bộ NN &PTNT,1997)[1]. Đất
nông nghiệp quá ít, chỉ 7,348 triệu ha (22,2% diện tích). Đất đai là tài nguyên
không tái tạo và nằm trong nhóm tài nguyên hạn chế của Việt Nam. Do đặc
điểm “đất chật người đông” bình quân đất nông nghiệp trên đầu người chỉ có
1,074 m
2
, với 80% dân số sống ở nông thôn, nên bình quân đất nông nghiệp
trên một lao động nông nghiệp cũng chỉ có 3,446 m
2
. Hiện nay nước ta vẫn
đang thuộc nhóm 40 nước có nền kinh tế kém phát triển, vì vậy đặc điểm hạn
chế về đất đai càng thể hiện rõ và đòi hỏi việc sử dụng đất phải dựa trên
những cơ sở khoa học. Với thực trạng sử dụng đất đai như hiện nay, cho dù
đến năm 2020 tiềm năng đất nông nghiệp được khai thác hết (10 triệu ha), với
số dân không thấp hơn 100 triệu người, vào lúc đó bình quân đất nông nghiệp
không quá 1000 m
2
/người.
Như vậy nước ta là một trong những nước hiếm đất sản xuất nông
nghiệp nhất trên thế giới, với quỹ đất đó việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã
hội của đất nước phải luôn luôn gắn liền với việc sử dụng cần kiệm nguồn tài
nguyên đất đai có hạn này.
Đất lâm nghiệp gắn với trung du miền núi với tổng diện tích khoảng
19,1 triệu ha, đất trung du miền núi là một phần quan trọng trong quỹ đất
Việt Nam, chiếm 63% diện tích toàn quốc.
5
55
Hình thành trên địa hình đất phân cắt, trong môi trường sinh thái rất
nhạy cảm, thực bì bị thoái hóa nhiều, nên nguy cơ xói mòn và rửa trôi diễn ra
như các nước Đức, Anh, Úc,
+ Tiến hành quy hoạch nông nghiệp là nền tảng, sau đó làm quy hoạch
cơ bản, lập sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất yêu cầu của cơ chế,
6
66
kế hoạch hoá tập trung. Lao động và đất đai là yếu tố cơ bản của vấn đề
nghiên cứu, như Liên Bang Nga và các nước xã hội chủ nghĩa.
Ngoài ra ở các nước khác còn có các phương pháp quy hoạch đất đai
mang tính đặc thù và riêng biệt như: Ở Bungari quy hoạch lãnh thổ đất đai
được phân thành các vùng đặc trưng gắn liền với bảo vệ thiên nhiên và môi
trường. Ở Pháp quy hoạch sử dụng đất được xây dựng theo hình thức mô hình
hoá nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao trong việc sử dụng tài nguyên và lao động,
áp dụng bài toán quy hoạch tuyến tính có cấu trúc hợp lý, tăng hiệu quả sản
phẩm của xã hội.
Ở Nam Mỹ đã tiến hành lập đồ án quy hoạch mặt bằng ở cấp quốc gia.
Đồ án này sẽ làm căn cứ cho chính quyền cấp tỉnh soạn thảo các đồ án chi tiết
hơn với sự phối hợp của chính quyền cấp thấp hơn. Các đồ án quy hoạch dựa
vào sự điều tra tài nguyên thiên nhiên ở cấp tiếp theo (cấp huyện). Các nhà
chức trách địa phương bổ sung chi tiết hơn các đồ án đó với sự phối hợp của
các chủ sử dụng đất.
Ở Thái Lan việc quy hoạch phân theo 3 cấp: Cấp quốc gia, cấp vùng và
cấp địa phương. Quy hoạch nhằm thể hiện cụ thể những chương trình kinh tế -
xã hội của Hoàng gia Thái Lan, gắn liền với tổ chức hành chính và quản lý nhà
nước, phối hợp với tổ chức chính phủ và chính quyền địa phương. Dự án phát
triển Hoàng gia đã xác định vùng nông nghiệp chiếm một vị trí quan trọng về
kinh tế - xã hội, chính trị ở Thái Lan. Các dự án đều tập trung vào vấn đề như:
Đất đai, nông nghiệp, lao động,
Ở các nước như Trung quốc, Lào, Campuchia công tác quy hoạch đất
đai bắt đầu phát triển nhưng mới dừng lại ở quy hoạch tổng thể các ngành.
Để có phương pháp chung làm cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch
2.2.2.3. Thời kỳ Luật Đất đai 1987 - 1993
Năm 1987 Luật Đất đai đầu tiên của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam được ban hành, trong đó có một số điều nói về quy hoạch đất đai.
Tuy nhiên nội dung quy hoạch đất đai chưa được nêu ra.
Ngày 15/04/1991 Tổng cục quản lý ruộng đất (nay là Bộ Tài nguyên và
Môi trường) đã ra thông tư 106/QH - KH/RD hướng dẫn lập quy hoạch sử
dụng đất. Thông tư đã hướng dẫn cụ thể quy trình, nội dung và phương pháp
lập quy hoạch sử dụng đất. Kết quả là nhiều tỉnh đã lập quy hoạch sử dụng đất
cấp lớn hơn, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa được thực hiện (Lương
Văn Hinh, 2003)[3].
8
88
2.2.2.4. Thời kỳ Luật Đất đai 1993 đến nay
Tháng 7/1993 Luật Đất đai sửa đổi được công bố. Trong luật này các
điều khoản nói về quy hoạch đất đai được cụ thể hơn Luật Đất đai 1987.
Từ năm 1993 Tổng cục địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi
trường) đã triển khai quy hoạch đất đai toàn quốc giai đoạn 1996 - 2010. Dự
án quy hoạch này đã được Chính Phủ thông qua và Quốc Hội phê chuẩn tại
kỳ họp thứ XI Quốc Hội khoá IX. Đây là căn cứ quan trọng để xây dựng quy
hoạch đất đai của các bộ, ngành và các tỉnh. Quy hoạch đất đai theo lãnh thổ
hành chính đã và đang triển khai ở hầu hết các tỉnh trong toàn nước. Vấn đề
quy hoạch sử dụng đất đai ngày càng được Nhà nước quan tâm, vì vậy hàng
loạt các văn bản liên quan đến quy hoạch đã ra đời.
Ngày 12/10/1998, Tổng cục địa chính ra công văn số 1814/CV - TCĐC
về công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Ngày 1/10/2001, Chính Phủ ban hành Nghị định 64/NĐ - CP của Chính
Phủ về việc triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở 4 cấp hành chính.
Ngay sau đó Tổng cục địa chính đã ban hành Thông tư 1842/2001/TT-
TCĐC ngày 1/11/2001 kèm theo quyết định số 424a, 424b, Thông tư
2074/2001/TT - TCĐC ngày 14/02/2001 để hướng dẫn các địa phương thực
hợp với các tuyến đường trong tỉnh Bắc Kạn tạo thành một hệ thống giao
thông liên huyện khá thuận lợi cho việc giao lưu phát triển kinh tế, văn hoá -
xã hội với các xã trong và ngoài huyện.
* Địa hình, địa mạo
Hà Hiệu là xã vùng núi nên địa hình khá phức tạp, đồi núi cao là chủ
yếu (chiếm trên 70% tổng diện tích tự nhiên) được phân bố trên toàn xã, các
vực sâu kết hợp với những dãy núi, các đồi thấp, tạo thành những cánh đồng
bậc thang nhỏ hẹp nằm ở độ cao từ 400m đến 800m so với mặt nước biển.
Địa hình đa phần là đồi núi, vùng thấp nhất có độ cao trên 250m so với mặt
biển, núi cao trung bình từ 500 đến 600m, cao nhất có thể tới 800m và được
chia cắt bởi các dãy núi cao, do vậy thực vật ở đây rất phong phú và đa dạng.
Do đặc điểm của địa hình nên đất đai của Hà Hiệu được chia thành các loại
chính như sau:
+ Đất đồi gò (đất đỏ vàng) được hình thành do sự phong hoá của đá mẹ
(như phiến thạch sét, đá mác ma axit, một số ít là đá mác ma trung tính và đá
biến chất).
Loại đất này phù hợp với việc phát triển rừng, cây ăn quả, cây đậu
tương và phát triển kinh tế vườn đồi nói chung.
+ Đất ruộng (sản phẩm của dốc tụ) chiếm (tỷ lệ nhỏ) khoảng 7,26%
tổng diện tích tự nhiên toàn xã, các cánh đồng chạy dọc theo các con suối nhỏ
và ven đường liên xã, thôn xóm. Do đặc điểm địa hình nên việc canh tác chịu
ảnh hưởng rất lớn của chế độ thuỷ văn.
Nhìn chung, đất đai của xã Hà Hiệu không màu mỡ, hàm lượng mùn
thấp, lân dễ tiêu nghèo, độ chua trung bình, đất ruộng có tầng canh tác mỏng
nên cần có biện pháp cải tạo phù hợp như: bón phân chuồng, phân xanh
10
1010
Đất rừng có tầng đất mặt trung bình phù hợp với việc phát triển cây lâm
nghiệp đặc biệt là trồng cây làm nguyên liệu giấy như Tre, Trúc,
* Khí hậu
- Mùa khô bắt đầu từ tháng 10 và kết thúc vào tháng 4 năm sau, mùa
này có nhiệt độ trung bình ngày là 18,5
0
C, lượng mưa ít, số giờ nắng trung
bình là 3,8 giờ/ ngày, tổng tích ôn toàn mùa là 2873,3
0
C.
Nhìn chung, khí hậu thời tiết thuận lợi cho việc phát triển nông -
lâm nghiệp.
Tuy nhiên, do lượng mưa phân bố không đồng đều nên vào mùa mưa
hiện tượng xói mòn, rửa trôi (Khuổi Hiu, Khuổi Vài) và các khe rạch phân bố
khá đều cùng với hệ thống ao hồ, đập lớn nhỏ là những nguồn nước quý phục
vụ cho sinh hoạt và trôi diễn ra mạnh mẽ, ngược lại vào mùa khô lại thiếu
nước phục vụ cho sản xuất, điều đó ảnh hưởng lớn đến năng suất và sản lượng
cây trồng.
11
1111
* Thuỷ văn
Mạng lưới thuỷ văn của xã có 33,39 ha sông suối, có con suối chính là
suối Hà Hiệu chảy theo hướng từ Đông Bắc sang Tây Nam. Ngoài ra trên địa
bàn xã còn có các suối nhỏ (như suối Khuổi Duồng, Khuổi sản xuất). Mặc dù
có nguồn nước dồi dào như vậy, nhưng do địa hình dốc nên việc tưới tiêu cho
cây trồng vẫn còn gặp nhiều khó khăn nhất là những khu ruộng bậc thang hay
khu ruộng cao.
* Các nguồn tài nguyên
+ Tài nguyên đất
Đất đai của xã được hình thành từ đá mẹ như: Phiến thạch sét, đá mác
ma axit, một số ít là đá mác ma trung tính và đá biến chất. Do đó có thể chia
thành các loại đất chủ yếu sau:
- Đất phù sa sông suối
tại, hiện nay chỉ tồn tại các kiểu rừng tái sinh, rừng trồng, thảm guột, cây bụi
… Rừng trồng thường gặp ở vùng thấp với các kiểu như rừng Keo, Mỡ, Bồ
đề, Thông và Bạch đàn. Rừng tái sinh tự nhiên phân bố ở vùng cao hơn, đó là
kiểu rừng rậm nhiệt đới, cận nhiệt đới, thường gặp các loài Lim xẹt , Chẹo tía,
Thầu tấu, Thành ngạnh, Gạc hươu, Dẻ gai, Sau sau, Cáng lò… Thảm cỏ dưới
rừng thường gặp là Cỏ lá tre lá to, Cỏ lá tre lá nhỏ, … trên các bãi cát ở bờ
sông hay gặp là Cỏ gà, Cỏ mật, Cỏ đắng, Cỏ may; trên đồi gặp thảm cỏ thấp
như Cỏ may, Cỏ chỉ, Cỏ lông, Cỏ lông xương, Cỏ tranh, Chè vè, Chít, Lau.
Các loài cây bụi như Mua, Sim, Cỏ lào, Guột …
+ Tài nguyên nhân văn
Hà Hiệu gồm các dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Dao và một số dân tộc khác
trong đó dân tộc Tày chiếm đa số, sống phân bố trên 14 thôn bản trong
vùng. Do có nhiều dân tộc sống trên địa bàn nên phong tục tập quán tương
đối đa dạng.
Ở đây có nguồn nhân lực dồi dào, nhưng trình độ dân trí phát triển còn
thấp và không đồng đều, người dân chưa thật cần cù, chịu khó, số cán bộ có
trình độ khoa học kỹ thuật và năng lực còn ít.
Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan
môi trường
Hà Hiệu có địa hình, đất đai, khí hậu đa dạng, phong phú, có thể trồng
được nhiều loại cây trồng với năng suất cao và ổn định như cây Xoài, cây
Vải, cây Cam, cây Quýt, cây Chuối
13
1313
Tuy nhiên, ruộng đất của xã đang ở trong tình trạng manh mún, thiếu
nước đã gây cản trở cho nền sản xuất. Đặc điểm của Hà Hiệu mà trước hết là
đất đai và thảm thực vật rừng mặc dù có bị xói mòn và mất đi khá nhiều trong
những năm gần đây nhưng đã và đang được cải thiện, phục hồi. Bên cạnh đó
xã Hà Hiệu vẫn còn rất nhiều hạn chế kìm hãm sự phát triển đó là:
+ Địa hình đồi núi bị chia cắt nhiều bởi các thung lũng nhỏ và ruộng
Hạng mục Đơn vị tính Năm 2011
1 Tổng GTSX 19.460
1.1 Nông - lâm - thuỷ sản Tr. đồng 13.600
- Trồng trọt Tr. đồng 8.500
- Lâm nghiệp Tr. đồng 2.500
- Chăn nuôi Tr. đồng 1.900
- Nuôi trồng thủy sản Tr. đồng 700
1.2 Công nghiệp, TTCN và Xây Dựng Tr. đồng 2.400
- Công nghiệp, TTCN Tr. đồng 1.800
- Xây dựng Tr. đồng 600
1.3 Thương mại, Dịch vụ Tr. đồng 3.460
- Thương mại Tr. đồng 260
- Dịch vụ Tr. đồng 3.200
2 Cơ cấu GTSX (%) (%) 100,00
- Nông - lâm – thuỷ sản (%) 69,00
- Công nghiệp, TTCN và XD (%) 12,3
- Thương mại, DV (%) 17,8
3 Tổng sản lượng lương thực có hạt Tấn 1.757,5
4 Thu nhập bình quân/người/năm Tr. đồng 6,86
5 Bình quân lương thực/người/năm Kg/người/năm 619,7
6 Tỷ lệ hộ nghèo % 11,76
7 Tổng thu ngân sách Tr. đồng 84
8 Tổng chi ngân sách Tr. đồng 2.554
(Nguồn: số liệu do địa chính xã cung cấp)
15
1515
+ Trong Công nghiệp, TTCN và xây dựng
- Công nghiêp, TTCN chiếm 75% trong tổng số và xây dựng chiếm 25%
* Thực trạng các ngành kinh tế
- Khu vực kinh tế nông nghiệp
Thực hiện tốt công tác quản lý, chăm sóc và bảo vệ rừng bao gồm:
Khoanh nuôi tái sinh rừng, trồng rừng sản xuất được 374,69 ha đạt 103% kế
hoạch, diện tích đạt nghiệm thu là 371,73 ha đạt 99,2%. Quản lý chăm sóc tốt
diện tích rừng trồng năm thứ 2 là 90,6 ha, năm thứ 3 là 55,95 ha.
+ Nuôi trồng thủy sản:
Nuôi trồng thủy sản chưa là thế mạnh của xã. Diện tích nuôi trồng chủ yếu
tận dụng từ các khe suối và ao hồ nhỏ. Hiện tại tổng diện tích nuôi
trồng của xã là 5,17 ha; sản lượng đánh bắt cá và nuôi trồng của xã ước đạt
6,5 tấn giá trị sản xuất đạt 700 triệu đồng chiếm 3,6% tổng giá trị sản xuất
toàn xã.
Trong thời gian gần đây đã có một số hộ gia đình đầu tư xây dựng ao
cá. Vì thế việc khuyến khích phát triển sản xuất cần được các cấp các ngành
quan tâm chú trọng.
+ Thương mại và dịch vụ:
Xã Hà Hiệu có đường Quốc lộ 279 và tỉnh lộ 253 chạy qua địa bàn nên
khá thuận lợi để phát triển ngành thương mại và dịch vụ của xã khá triển
nhưng chủ yếu dưới dạng buôn bán nhỏ lẻ. Hoạt đông thương mại chủ yếu tập
trung ở chợ trung tâm xã và ven trục đường quốc lộ 279 cũng như tỉnh lộ 253.
Toàn xã có 20 hộ tham gia các dịch vụ kinh doanh buôn bán nhỏ, dịch vụ vận
tải, dịch vụ ăn uống, dịch vụ nông nghiệp … và các dịch vụ khác.
Về cơ bản địa bàn chưa có nơi sản xuất tiểu thủ công nghiệp tập trung
và một làng nghề phục vụ cho chiến lược phát triển tiểu thủ công nghiệp, dịch
vụ và thương mại. Vấn đề đặt ra cần phải tập trung quy hoạch phát triển tiểu
thủ công nghiệp trở thành ngành thu hút số lượng lớn lao động nông nghiệp
nhằm giảm tỷ trọng trong các ngành nông – lâm – ngư nghiệp theo hướng
phát triển bền vững.
2.2.2.2. Xã hội
* Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
+ Giao thông:
- Đường quốc lộ: Quốc lộ 279 với chiều dài 7 km, là đường nhựa với bê
đặt tại thôn Nà Ma trong đó có diện tích đất xây dựng là 200 m
2
. Tỷ lệ
người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế trên địa bàn xã đạt 100%.
+UBND xã:
Trụ sở làm việc Đang ủy, HĐND, UBND xã đặt tại thôn Nà Ma với
diện tích 200 m
2
, gồm 2 dãy nhà với 6 phòng làm việc.
18
1818
+ Thông tin liên lạc:
- Bưu điện văn hóa xã đặt tại thôn Nà Ma có diện tích 200 m
2
. Hiện
toàn xã tỷ lệ máy điện thoại cố định đạt 5 máy/100 dân, đại đa số người dân
hiện nay hầu hết đều có điện thoại di đông, thuận tiện cho việc thông tin liên
lạc. Bên cạnh đó với việc ứng dụng công nghệ thông tin như sóng 3G góp
phần hiệu quả sử dụng internet trên địa bàn xã.
- Xã có 1 đài truyền thanh cơ sở và hệ thống loa đài đến các khu vực
dân cư trong toàn xã, phục vụ kịp thời các chủ trương chính sách của Đảng và
Nhà nước.
+ Hệ thống điện:
Hiện nay trên địa bàn xã có 4 trạm biến áp với tổng công suất là 480
kVA, có 11,5 km đường dây hạ thế, và còn 2 thôn ở xã chưa có điện (Đông
Đăm, Lủng Cháng).
+ Hệ thống cấp nước sinh hoạt:
Số hộ sử dụng nước sạch của các hộ dân trên toàn xã là 565 hộ. Tỷ lệ
hộ dân trong xã sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh 92,77% (theo điều tra của
tram y tế xã). Cấp nước sinh hoạt cho dân chủ yếu bằng hình thức giếng đào,
hoạt
động
KT
Lao động trực tiếp
Hộ Khẩu
Lao động
NLN
Lao động
công nghiệp
Lao động
dịch vụ
Lao động
khác
Tổng
Lao
động
qua
đào
tạo
Tổng
Lao
động
qua
đào
tạo
Tổng
Lao
động
qua
đào
2020
1
4
Lủng
Cháng
55 314 170 14 13 6 6 15 5
(Nguồn: số liệu do địa chính xã cung cấp)
Dân số của các thôn trong xã Hà Hiệu tập trung không đồng đều, có
thôn mật độ dân quá đông như thôn Vàng Kè, và có thôn thì thưa thớt như
thôn Thôm Lạnh. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng trên là do điều kiện địa
hình phức tạp, và ảnh hưởng của các cộng đồng dân tộc cùng sinh sống trong
một khu vực nhất định.
Người dân đủ độ tuổi lao động khá dồi dào, và một phần cũng đã qua
đào tạo. Nhưng thanh niên trong đọ tuổi lao động ít khi ở xã. Mà đại đa số
những thanh niên có sức khỏe thì đều đi làm xa, còn lại người già và trẻ em
nên nhiều khi gặp khó khăn trong lao động. Nguyên nhân dẫn đến hiện tương
trên là do nhu cầu làm việc ở xã Hà Hiệu không đáp ứng đủ cho người dân,
cũng như mang lại hiệu quả kinh tế thấp.
Lao động đã qua đào tạo trung bình của xã vẫn còn thấp, chưa đáp ứng
đủ nhu cầu thực tiễn. Nhiều khi người dân được đào tào rồi nhưng khi đi làm
lai không đáp ứng đủ chi phí với mức lao động mà người đó đã làm ra nên
người dân khi được đào tạo rồi lại không làm việc trong xã, Nghành nghề lao
động được đào tạo chủ yếu là Nông - lâm - nghiêp, nhưng tỷ lê lao động này
qua đào tạo cũng không cao. Trung bình toan xã Hà Hiệu đạt 13,46%. Còn
lao động Công nghiệp cũng không cao, Chỉ đạt 13,64%. Còn lao động dịch vụ
qua đào tạo lại càng thấp chỉ đạt 6,12%.
21
2121
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG
tác giao đất lâm nghiệp.
+ Tổ chức họp thôn lần 2 và xây dựng kế hoạch sử dụng đất và phương
án giao đất của thôn.
- Sử dụng các công cụ PRA: Đắp sa bàn thôn bản, làm phiếu điều tra, đi thực
địa điều tra hiện trạng, các lát cắt sử dụng đất, các biểu đánh giá điều kiện tự
nhiên, kinh tế xã hội và môi trường
- Phương pháp kế thừa: Kế thừa có chọn lọc các số liệu có sẵn
- Phương pháp tổng hợp đánh giá so sánh
- Phương pháp xử lý số liệu
3.4.2. Phương pháp nội nghiệp
Sau khi các thông tin và số liệu được thu thập thì tiến hành dùng các
phương pháp sau để xử lý số liệu:
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá, so sánh số liệu.
- Phương pháp xử lý số liệu bằng Excel và GIS để hoàn thiện bản đồ hiện
trạng và quy hoạch sử dụng đất.
23
2323
Phần 4
KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ
4.1. Đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất hiện tại của xã Hà Hiệu
Xã Hà Hiệu nằm trên địa bàn miền núi rộng lớn với diện tích 4.006,66
ha, địa hình dốc, đi lại khó khăn, với 14 thôn bản và phân bố rộng khắp trên
địa bàn xã, vì vậy việc thực hiện theo 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất
đai của xã gặp nhiều khó khăn. Lực lượng cán bộ chuyên trách về quản lý Tài
nguyên và Môi trường chỉ 1 người, khối lượng công việc lớn, hiểu biết về
Luật đất đai của đồng bào dân tộc còn ít nên hoạt động của ngành có nhiều
hạn chế. Có sự chỉ đạo và giúp đỡ của phòng Tài nguyên và Môi trường
huyện cùng các cấp trong chính quyền xã đến nay đã thực hiện được khối
lượng lớn trong nội dung quản lý đất đai của xã cụ thể như sau :
- Xác định ngoài thực địa ranh giới hành chính: Đường giáp ranh, mốc
Kết quả điều tra hiện trạng năm 2011, tổng diện tích tự nhiên là 4.006,66
ha. Trong đó
- Đất nông nghiệp 3415,21 ha, chiếm 85,24% tổng diện tích tự nhiên:
Trong đất nông nghiệp thì đất rừng sản xuất chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm tới
74,91%, tiếp đến là đất trồng cây hàng năm còn lại chiếm 4,75%, tiếp theo là
đất lúa nước chiếm 4,69%, sau đó đến đất trồng cây lâu năm 0,76%, và cuối
cùng là đất đất nuôi trồng thủy sản có 0,13%.
- Đất phi nông nghiệp là 100,72 ha, chiếm 2,51% tổng diện tích tự
nhiên: Loại đất này chiếm tỷ lệ thấp nhất được thể hiện như sau: Đất Sông
suối chiếm tỷ lệ cao nhất trong loại đất này chiếm 1,51%, tiếp đến là đất phát
triển hạ tầng chiếm 0,95%, sau đó đến đất nghĩa trang, nghĩa địa chiếm
0,03%, và cuối cùng là đất xây dựng trụ sở cơ quan, đất sản xuất vật liệu, đất
chợ. Mỗi loại đất này chỉ chiếm 0,01%.
- Đất chưa sử dụng là 389,26 ha, chiếm 9,72% tổng diện tích tự nhiên.
chủ yếu là diện tích đồi núi chưa sử dụng phân bố ở nhiều thôn bản, trên địa
bàn rộng lớn, phần lớn diện tích thuộc loại đất (Fs), Fq, thích hợp với nhiều
cây trồng ngắn và cây dài ngày. Diện tích này còn chiếm tỷ lệ khá lớn trong
tổng diện tích tự nhiên của xã Hà Hiệu, gây lãng phí tài nguyên đất.
- Đất khu dân cư nông thôn có diện tích 101,47 ha, chiếm 2.53 % tổng
diện tích tự nhiên toàn xã.
Diện tích hiện trạng các loại đất được thể hiện chi tiết qua bảng 4.1 sau:
25
2525