Nghiên cứu bào chế tiểu phân nano curcumin - Pdf 29



BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
PHẠM VĂN GIANG

NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ HỆ TIỂU
PHÂN NANO CURCUMIN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ HÀ NỘI - 2013 LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với dược sĩ Dương Thị Hồng Ánh,
người thầy đã hết lòng hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
này.
Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Trần Linh, người thầy đã tận tình
giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này. Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết
ơn chân thành đối với các thầy cô và các anh chị kỹ thuật viên thuộc bộ môn bào
chế đã có những giúp đỡ qúy báu trong quá trình tôi học tập và thực nghiệm tại bộ
môn.
Tôi xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu nhà trường, phòng đào tạo và các
phòng ban liên quan trong nhà trường đã có nhiều giúp đỡ thiết thực về cơ sở vật

1.2.2. Tính chất lý hóa 8
1.2.3. Tác dụng của curcumin 9
1.2.4. Dược động học 9
1.3. Một số nghiên cứu bào chế hệ tinh thể nano curcumin 10
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1. Nguyên vật liệu, thiết bị 14
2.1.1. Nguyên liệu 14
2.1.2. Thiết bị 14
2.2. Nội dung nghiên cứu 15
2.3. Phương pháp nghiên cứu 15
2.3.1. Phương pháp bào chế hệ tiểu phân nano curcumin 15
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu các yếu tố thuộc về công thức ảnh hưởng tới
đặc tính lý hóa của hệ tiểu phân nano curcumin 16
2.3.3. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng củaccác yếu tố thuộc về quy trình
bào chế ảnh hưởng tới đặc tính lý hóa của hệ tiểu phân nano 17
2.3.4. Phương pháp đánh giá tiểu phân nano curcumin 17
2.3.5. Phương pháp định lượng curcumin trong các mẫu nghiên cứu. 18
2.3.6. Phương pháp đánh giá độ tan của curcumin từ các mẫu nghiên cứu. 19 2.3.7. Phương pháp đánh giá mức độ và tốc độ hòa tan của curcumin trong các
mẫu nghiên cứu. 20
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM, KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 21
3.1. Kết quả nghiên cứu các yếu tố thuộc về công thức ảnh hưởng tới đặc tính
lý hóa của hệ tiểu phân nano curcumin 21
3.1.1. Kết quả nghiên cữu ảnh hưởng của chất diện hoạt 21
3.1.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất diện hoạt 24
3.1.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của chất ổn định 25
3.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố thuộc về quy trình bào chế
ảnh hưởng tới đặc tính lý hóa của hệ tiểu phân nano 27

NaLS Natri laurylsulfat
PEG Polyethylenglycol
Pol Poloxame F127
PVA Polyvinyl alcohol
PVP Polyvinyl pyrolidon
TPGS D-tocopherol polyethylen glycol 1000 succinat
Tw6 Tween 60
Tw8 Tween 80
βCD β-cyclodextrin

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của các chất diện hoạt khác nhau đến một số
đặc tính lý hóa của hệ tiểu phân nano curcumin 22
Bảng 3.2. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của nồng độ Tween 80 đến một số dặc tính lý
hóa của hệ tiểu phân nano curcumin 24
Bảng 3.3. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của chất ổn định tới một số đặc tính lý hóa
của hệ tiểu phân nano curcumin 26
Bảng 3.4. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của quá trình nghiền mịn bằng máy nghiền


Hình 1.3 Các nguyên nhân làm giảm sinh khả dụng của curcumin 9

Hình 2.1 Sơ đồ bào chế hệ tiểu phân nano curcumin 15

Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của kích thước tiểu phân và hệ
số PDI với các chất diện hoạt khác nhau khi dùng nồng độ 5% 23

Hình 3.2 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của kích thước tiểu phân và hệ
số đa phân tán với các chất diện hoạt khác nhau khi dùng
nồng độ 10% 23

Hình 3.3 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của kích thước tiểu phân và hệ
số đa phân tán khi phối hợp Tween 80 với các chất diện hoạt
khác 24

Hình 3.4 Đồ thị biểu diễn sự thay dổi của kích thước tiểu phân và hệ số
đa phân tán khi tăng nồng độ Tween 80 từ 1% lên 100% 25

Hình 3.5 Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của chất ổn định tới kích thước
tiểu phân và hệ số đa phân tán 26

Hình 3.6 Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của quá trình nghiền mịn tới kích
thước tiểu phân 28

Hình 3.7 Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của cách phối hợp chất diện hoạt
trực tiếp và dùng dung dịch 10% chất diện hoạt tới kích thước
tiểu phân và hệ số đa phân tán 29

Hình 3.8 Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của tốc độ đồng nhất hóa tới kích

tác dụng dược lý của curcumin cũng mở ra hướng đi mới trong điều trị viêm gan B,
viêm gan C và nhiễm HIV. Mặc dù vậy, do khả năng hòa tan kém tác dụng dược lý
của curcumin trong lâm sàng bị hạn chế. Do đó, vấn đề cải thiện khả năng hòa tan
dẫn tới nâng cao sinh khả dụng của curcumin là vấn đề lớn đang thu hút sự quan
tâm của nhiều nhà nghiên cứu.
Trong những năm gần đây, công nghệ nano đang phát triển với tốc độ chóng
mặt và làm thay đổi diện mạo của các ngành khoa học. Đặc biệt, ngành công nghệ
mới này đang tạo ra một cuộc cách mạng trong ngành dược phẩm. Trong đó, hệ tinh
thể nano được coi là hệ đưa thuốc vào cơ thể với nhiều ưu điểm nổi trội. Do giảm
kích thước tiểu phân xuống cỡ nanomet (nhỏ hơn 1000 nm), việc bào chế dưới dạng
tinh thể nano có thể cải thiện được độ tan và tốc độ hòa tan của các dược chất ít tan
trong nước. Vì vậy, với mong muốn cải thiện độ hòa tan của curcumin chúng tôi
tiến hành “Nghiên cứu bào chế hệ tiểu phân nano curcumin” với mục tiêu:
Xây dựng được công thức và quy trình bào chế hệ tiểu phân nano curcumin
bằng phương pháp nghiền bi kết hợp với đồng nhất hóa tốc độ cao.

2CHƯƠNG I. TỔNG QUAN
1.1. VÀI NÉT VỀ TINH THỂ NANO
1.1.1. Định nghĩa
Tinh thể nano (nanocrystal) hay tiểu phân nano tinh thể là các tiểu phân rắn
tinh khiết với kích thước trung bình dưới 1000 nm, trong đó không chứa bất cứ một
vật liệu mang nào [17], [20], nhưng có thể có một lượng tối thiểu chất hoạt động bề
mặt và các chất ổn định cần thiết cho sự ổn định của dược chất [12] và có phân bố
kích thước tập trung chủ yếu trong khoảng từ 200 nm – 600 nm [21]. Tùy theo kỹ







v
L
kh
, trong đó, k là
hằng số, L là độ dài quãng đường dòng chảy, v là vận tốc chuyển động tương đối
của dòng chất lỏng so với bề mặt tiểu phân chất rắn. Như vậy, h giảm khi v tăng,
nên bề dày lớp khuếch tán giảm khi tăng độ cong bề mặt của tiểu phân. Do đó, tiểu
phân dược chất có kích thước càng nhỏ thì bề dày lớp khuếch tán càng nhỏ [3], [35].
(hình minh họa phụ lục 1.2).
c. Độ tan C
s

Thực tế cho thấy, với các dược chất với kích thước trong phạm vi micromet, độ
tan là hằng số chỉ phụ thuộc vào dung môi, nhiệt độ và áp suất. Nhưng khi tiểu phân
có kích thước dưới 1 μm, tức kích thước nanomet, độ tan bị ảnh hưởng nhiều bởi
kích thước hạt [17].
 Năng lượng tự do trên bề mặt tiếp xúc, áp lực hòa tan
Theo phương trình Kelvin mở rộng với các tiểu phân rắn, áp lực hòa tan tăng
lên khi kích thước tiểu phân giảm. Ở trạng thái bão hòa, xảy ra cân bằng động giữa
các phân tử hòa tan và các phân tử đang kết tinh. Khi áp lực hòa tan tăng có thể làm
chuyển dịch cân bằng và do đó làm tăng khả năng hòa tan của dược chất [17].
(phương trình và hình minh họa ở phụ lục 1.1 và phụ lục 1.3)
Theo phương trình Ostwald-Freundlich, các tinh thể nano có thể làm tăng độ
tan do năng lượng tự do trên bề mặt tiếp xúc của tiểu phân với môi trường tăng lên

thước mong muốn; các hạt ở dạng vô định hình có năng lượng thấp có xu
hướng bị kết tụ [22].
Chính vì các hạn chế trên, phương pháp này hiện nay ít được dùng, trong sản
xuất nano tinh thể, chủ yếu dùng phương pháp “Top-down”.
b. Top-down
“Top-down” gồm các phương pháp làm giảm kích thước các hạt có kích thước
lớn thành các hạt nhỏ hơn bằng cách sử dụng các kỹ thuật khác nhau: nghiền, đồng
nhất hóa tốc độ cao, đồng nhất hóa áp lực cao… Các phương pháp này không sử
5dụng dung môi độc hại, tuy nhiên chúng cần năng lượng đầu vào cao và hiệu quả
của phương pháp thấp [27].
 Kỹ thuật nghiền
 Nghiền ướt
Hỗn dịch thô được đưa vào máy nghiền có chứa các bi nghiền nhỏ. Bi nghiền
được xoay vòng với tốc độ cao ở nhiệt độ xác định, chúng di chuyển bên trong
buồng nghiền và va chạm với lớp vật liệu nằm ở thành buồng phía đối diện. Sự kết
hợp của lực ma sát và lực va chạm mạnh làm giảm kích thước tiểu phân [10], [30],
[31]. Vật liệu nghiền là các bi làm bằng chất liệu cứng như: thép, kẽm oxyd, thủy
tinh hoặc polyme đặc biệt (polystyren siêu cứng). Hiệu quả của quá trình phụ thuộc
vào: khối lượng dược chất, số lượng vật liệu nghiền, tốc độ quay, thời gian nghiền
và nhiệt độ [5]. Hạn chế của phương pháp: lẫn tạp chất từ thiết bị, sự phân hủy của
một số dược chất do nhiệt tạo ra trong quá trình nghiền, có sự hiện diện của một
lượng đáng kể các tiểu phân có kích thước trên 5µm [8], [10], hư hao do dính vào
vật liệu nghiền [12], [33].
 Nghiền khô
Trong phương pháp này, hợp chất được nghiền khô với polyme hòa tan và các
đồng polyme sau dó phân tán trong nước. Các polyme hòa tan và đồng polyme
thường được sử dụng là PVP, PEG, HPMC và các dẫn xuất của cyclodextrin [39].

nhiệt độ phòng. Kết quả, nước bắt đầu sôi tại nhiệt độ phòng và hình thành các bong
bóng khí, chúng bị nổ tung khi hỗn dịch ra khỏi kẽ hở hẹp và trở lại áp suất không
khí bình thường. Lực nổ của bóng khí đủ để phá vỡ các vi hạt thành các tiểu phân
nano [8], [23], [34]. Như vậy kích thước tiểu phân giảm thông qua quá trình tạo bọt,
Phẫn tĩnh
(stato)
Cánh cắt
(roto)
7ngoài ra còn nhờ lực cắt lớn và lực va chạm giữa các tiểu phân [19], [20], [39]. Kích
thước tiểu phân thu được phụ thuộc vào các yếu tố như độ cứng của tinh thể dược
chất [8], [10], [30], nhiệt độ, áp lực đồng nhất và số vòng đồng nhất [22].
 Nanopure
Nanopure là kỹ thuật đồng nhất trong môi trường không phải là nước hoặc các
hỗn hợp với thành phần nước tối thiểu [5], [34]. Trong kỹ thuật này, hỗn dịch được
đồng nhất ở 0
o
C thậm chí ở dưới mức đóng băng - thích hợp với các chất không bền
với nhiệt [8], [10], [33].
 Nanoedge
Trong kỹ thuật này, hỗn dịch thu được bằng phương pháp kết tủa tiếp tục được
đồng nhất hóa, do đó kích thước tiểu phân tiếp tục được làm giảm và tránh được sự
lớn lên của tinh thể - khắc phục được hạn chế của phương pháp kết tủa. Kết quả là
kích thước tiểu phân nhỏ hơn và độ ổn định tốt hơn [5], [8], [19], [23].
 Nanojet
Kỹ thuật này còn được gọi là kỹ thuật ngược dòng hay công nghệ Nanojet.
Trong một buồng, dòng hỗn dịch được tách thành 2 hay nhiều phần, bị nén và va
chạm vào nhau do áp suất cao. Lực cắt lớn được tạo ra trong suốt quá trình làm

Hình 1.2. Công thức cấu tạo của curcumin [7]
1.2.2. Tính chất lý hóa
Curcumin là hợp chất có khối lượng phân tử thấp, có hoạt tính sinh học của
polyphenol – được phân lập từ thân rễ của cây nghệ. Xét trên phương diện hóa học,
curcumin là một β-diketo chứa 2 liên kết chưa bão bis - α, β và tồn tại ở dạng hỗ
biến keto - enol. Dạng keto tồn tại chủ yếu trong môi trường acid và môi trường
trung tính; dạng enol bền vững trong môi trường kiềm. Curcumin thường nằm trong
hỗn hợp của các curcuminoid, trong đó có khoảng 77% diferuloylmethan, 18%
demethoxycurcumin và 5% bis-demethoxycurcumin (BDMC) [25].
Curcumin tồn tại ở dạng tinh thể màu vàng cam, không tan trong nước (0,0004
mg/ml tại pH 7,4), tan một phần trong methanol, tan tốt trong dimethylsulfoxid và
cloroform. Curcumin nóng chảy ở

183
o
C [14]. Do là một diphenol nên curcumin có
tính acid, pK
a
của curcumin lần lượt là 7,8; 8,5 và 9,0 [32], [36].
Độ ổn định: Khi tiếp xúc với ánh sáng, curcumin bị phân hủy và thoái hóa
thành anillin, acid vanillic, aldehyd ferulic và acid ferulic [25]. Tại pH kiềm, tức là
khi quá trình phân ly diễn ra, hợp chất nhanh chóng bị thủy phân. Sản phẩm chính
của quá trình thủy phân này là feruloyl methan, acid ferulic và vanilin, sau đó là sản
9phẩm thoái hóa thứ cấp được hình thành do sự thủy phân feruloyl methan. Có thể
quan sát thấy các sản phẩm màu ngưng tụ [32], [36].
Về phương diện quang học, curcumin hấp thụ ánh sáng cực đại tại bước sóng
430 nm trong môi trường methanol, và 415-420 nm trong aceton. Dung dịch

c. Thải trừ
Một nghiên cứu lâm sàng trên 15 bệnh nhân cho thấy: khi dùng curcumin qua
đường uống với liều từ 36 - 180 mg mỗi ngày, cho tới 4 tháng không tìm thấy
curcumin và chất chuyển hóa của nó trong nước tiểu, nhưng một lượng lớn
curcumin so với liều dùng được phát hiện trong phân. Như vậy tuyến đường chính
để đào thải curcumin ra khỏi cơ thể là thông qua phân [4].
Như vậy, curcumin thể hiện hoạt tính dược lý hạn chế trong thử nghiệm lâm
sàng một phần là do khả năng hòa tan kém, kém hấp thu và bị đào thải nhanh chóng
bởi các tổ chức trong cơ thể (hình 1.3) [25].
1.3. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ HỆ TINH THỂ NANO CURCUMIN
 Bào chế tinh thể nano curcumin bằng phương pháp kết tủa
Kakran M. và cộng sự đã nghiên cứu bào chế hệ nano curcumin theo phương
pháp kết tủa do thay đổi dung môi (APSP) và phương pháp bốc hơi dung môi
(EPN) sử dụng dung môi hòa tan curcumin là ethanol, dung môi không hòa tan
(antisloven) là nước và hexan tương ứng với hai phương pháp. Kết quả phân tích
các mẫu bào chế theo hai phương pháp được trình bày trong bảng sau [18]

KTTP (nm)
Độ tan
(µg/ml)
Độ hòa tan
sau 4h (%)
Kết quả
phân tích
nhiệt vi sai
Đường kính

Chiều dài
Nguyên liệu - - 0,58 ± 0,03 10 -
APSP 330 ±

khuấy trộn). Kết quả cho thấy có nhiều tiểu phân ở kích thước nano, tuy nhiên vẫn
còn các tinh thể lớn có kích thước micromet. Hỗn dịch này sau khi tiếp tục được
đồng nhất hóa áp suất cao thu được hệ tiểu phân nano đồng nhất [13].
Như vậy, các ngiên cứu trên đều sử dụng dung môi hữu cơ để hòa tan
curcumin. Sử dụng dung môi khác nhau, hệ tiểu phân có các đặc tính lý hóa khác
nhau. Nhưng nhìn chung đã bào chế được hệ tiểu phân nano curcumin, kích thước
tiểu phân nhỏ, có một phần curcumin tủa lại ở dạng vô định hình.
 Bào chế tinh thể nano curcumin bằng phương pháp đồng nhất hóa tốc độ cao
Gao Y. và cộng sự đã nghiên cứu bào chế hỗn dịch nano curcumin bằng
phương pháp đồng nhất hóa tốc độ cao: 1 g curcumin được phân tán vào 25 ml dung
dichj 1% (kl/tt) lecithin dầu đậu nành, sau đó đồng nhất 10 phút ở tốc độ 26000
vòng/phút. Kết quả, hệ tiểu phân thu được có kích thước không đồng nhất, kích
thước dưới 25 µm và vẫn ở mức micromet [13].
12Hệ tiểu phân curcumin thu được bằng phương pháp này còn chứa nhiều tiểu
phân thô, phương pháp chưa được nghiên cứu sâu.
 Bào chế tinh thể nano curcumin bằng phương pháp đồng nhất hóa áp suất cao
Rachmawati H. và cộng sự đã nghiên cứu bào chế hỗn dịch curcumin 5%
(kl/kl) bằng phương pháp đồng nhất hóa áp suất cao với các chất ổn định: PVA,
PVP, TPGS, NaDS và Na-CMC. Kết quả cho thấy: hỗn dịch có kích thước tiểu
phân nhỏ nhất là 550 nm với hệ số đa phân tán PDI là 0,47 khi dùng chất ổn định là
TPGS. Kích thước tiểu phân tăng dần theo thứ tự: TPGS < NaDS < PVP < PVA <
Na-CMC. Kết quả phân tích DSC cho thấy: có sự thay đổi nhẹ trong nhiệt độ nóng
chảy của mẫu PVP-nanocurrcumin, điều này có thể do sự có mặt của PVP trong hỗn
hợp, quá trình đồng nhất không làm thay đổi trạng thái kết tinh của curcumin [32].
Donsi F. và cộng sự đã nghiên cứu bào chế hỗn dịch nano curcumin bằng
phương pháp nghiền kết hợp với đồng nhất hóa áp suất cao. Kết quả cho thấy: ở áp
suất 150 MPa kích thước ban đầu 2000 nm giảm xuống cực tiểu 600 nm sau 40

tiểu phân đạt được mức nano mặc dù chỉ sử dụng môi trường phân tán là nước và
các dung dịch nước. Một phần curcumin đã chuyển từ dạng kết tinh sang dạng vô
định hình. Các đặc tính lý hóa của hệ tiểu phân phụ thuộc nhiều vào các thông số kỹ
thuật (thời gian đồng nhất, áp suất đồng nhất) cũng như thành phần trong công thức
(chất ổn định, chất diện hoạt,…).
Như vậy, qua tham khảo các nghiên cứu có thể thấy, ở phương pháp kết tủa:
hệ nano thu được kích thước tiểu phân nhỏ, tỷ lệ dạng vô định hình cao tuy nhiên
khó áp dụng thực tế do sử dụng dung môi độc hại, khó khăn trong kiểm soát quá
trình. Ở phương pháp đồng nhất hóa tốc độ cao và đồng nhất hóa áp suất cao, tuy
tiểu phân thu được có kích thước lớn hơn khi sử dụng phương pháp kết tủa, nhưng
có khả năng triển khai ra thực tế do không sử dụng dung môi độc hại, dễ kiểm soát
thông số kỹ thuật, dễ áp dụng cho quy mô lớn. Đa số các nghiên cứu của các tác giả
đều sử dụng phương pháp đồng nhất hóa áp suất cao, phương pháp đồng nhất hóa
tốc độ cao và phương pháp nghiền ít được sử dụng do kích thước tiểu phân lớn và
không đồng nhất, tuy nhiên kết hợp các phương pháp này là một hướng đi hứa hẹn
và đã áp dụng thành công với nhiều dược chất (ví dụ: ezetimibe). Qua tham khảo tài
liệu và nghiên cứu điều kiện thực tế, trong nghiên cứu này hệ tiểu phân nano
curcumin được bào chế bằng phương pháp nghiền bi kết hợp đồng nhất hóa tốc độ
cao.
14CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Nguyên vật liệu, thiết bị
2.1.1. Nguyên liệu
STT Tên nguyên liệu Nguồn gốc Tiêu chuẩn
1 Curcumin 98% Việt Nam Cơ sở
2 Tween 80 Trung Quốc Tinh khiết hóa học
3 Poloxamer F127 Trung Quốc Tinh khiết hóa học
4 Tween 60 Trung Quốc Tinh khiết hóa học

hoạt, nồng độ chất diện hoạt, chất ổn định) đến đặc tính lý hóa của hệ tiểu
phân nano.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thông số kỹ thuật và quy trình bào chế (ảnh
hưởng của giai đoạn nghiền bi, tốc độ đồng nhất, thời gian đồng nhất, cách
phối hợp chất diện hoạt) đến đặc tính lý hóa của hệ tiểu phân nano.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp bào chế hệ tiểu phân curcumin nano tinh thể
Qua tham khảo tài liệu kết hợp với một số khảo sát sơ bộ, hệ tinh thể nano
curcumin được tiến hành bào chế theo công thức cơ bản như sau
Curcumin 4 g
Chất diện hoạt vừa đủ
Chất ổn định (nếu có) vừa đủ
Nước cất vừa đủ 100 ml.
Hệ tinh thể nano curcumin được bào chế bằng phương pháp nghiền bi kết hợp
đồng nhất hóa tốc độ cao theo sơ đồ hình 2.1. Hình 2.1. Sơ đồ bào chế hệ tiểu phân curcumin nano tinh thể
16Mô tả quy trình:
- Cân dược chất và tá dược theo tỷ lệ đã định
- Ngâm trương nở chất ổn định (nếu có) trong nước tạo dung dịch 1% (kl/tt)
- Nghiền mịn curcumin bằng thiết bị nghiền bi: mỗi mẻ 2 g chia đều sang 2
buồng nghiền, thời gian nghiền 10 phút ở tần số 15 Hz
- Thêm chất diện hoạt và các chất ổn định (nếu có). Nghiền ướt tạo hỗn dịch
đặc bằng chày cối
- Kéo từ từ hỗn dịch đặc bằng nước hoặc dung dịch chất ổn định tạo hỗn
dịch curcumin

bào chế ảnh hưởng tới đặc tính lý hóa của hệ tiểu phân curcumin nano tinh thể
- Ảnh hưởng của thao tác nghiền mịn bằng máy nghiền bi: Tiến hành bào
chế hệ tiểu phân nano curcumin trong đó curcumin nguyên liệu được
nghiền mịn bằng máy nghiền bi hoặc không nghiền. Đánh giá một số đặc
tính lý hóa của hệ tiểu phân nano.
- Ảnh hưởng của cách phối hợp chất diện hoạt: Tiến hành bào chế hệ tiểu
phân nano curcumin, thay đổi phương thức phối hợp chất diện hoạt: gây
thấm trực tiếp bằng chất diện hoạt hoặc dùng dung dịch chất diện hoạt 10%
trong nước. Đánh giá một số đặc tính lý hóa của hệ tiểu phân nano.
- Ảnh hưởng của tốc độ đồng nhất hóa: Tiến hành bào chế hệ tiểu phân nano
curcumin, thay đổi tốc độ đồng nhất: 5000, 10000, 15000 và 18000
vòng/phút. Đánh giá một số đặc tính lý hóa của hệ tiểu phân nano.
- Ảnh hưởng của thời gian đồng nhất: Tiến hành bào chế hệ tiểu phân nano
curcumin, thay đổi thời gian đồng nhất 0 phút, 5 phút, 10 phút, 15 phút, 25
phút, 35 phút. Đánh giá một số đặc tính lý hóa của hệ tiểu phân nano.
2.3.4. Phương pháp đánh giá tiểu phân nano curcumin
a. Đánh giá hình thái và kích thước hệ nano bằng kính hiển vi điện tử quét (SEM –
Scanning Electron Microscope )
Nguyên tắc: sử dụng kính hiển vi điện tử FESEM Hitachi S-4800 có độ phóng
đại M=20x-800000x; độ phân giải δ=1,0 nm; điện áp gia tốc U=0,5-30 kV. Chùm
điện tử quét trên toàn bộ bề mặt của mẫu được thu lại bởi các đầu dò để biến đổi
thành những tín hiệu phản ánh bề mặt, thành phần của mẫu đưa ra màn hình quan
sát. Do cách tạo ảnh, các ảnh SEM có đặc điểm của ảnh ba chiều [3].
Tiến hành: phân tán mẫu bột phun sấy trên một khung carbon, sau đó phủ một
lớp platin rồi đặt vào buồng soi mẫu của thiết bị.
b. Đánh giá kích thước và phân bố kích thước bằng thiết bị đo thể zeta và xác định
phân bố kích thước tiểu phân Zetasizer Nano ZS90 Malvern


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status