Rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại Việt Nam - Pdf 29

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của ngân hàng thương mại là
đảm bảo khả năng thanh khoản đầy đủ. Một ngân hàng thương mại được xem là có
khả năng thanh khoản nếu nó tiếp cận dễ dàng các nguồn vốn khả dụng ở chi phí
hợp lý và đúng lúc cần thiết.
Ngày nay, quản trị thanh khoản trở nên quan trọng hơn so với trước đây rất
nhiều, bởi vì một ngân hàng có thể bị đóng cửa nếu không đáp ứng đủ nhu cầu
thanh khoản, mặc dù về kỹ thuật, nó vẫn còn khả năng trả nợ. Hơn nữa, năng lực
quản trị thanh khoản của một ngân hàng là thước đo quan trọng về tính hiệu quả
tổng thể để đạt đến các mục tiêu dài hạn của ngân hàng.
Hậu quả của rủi ro thanh khoản đối với mỗi ngân hàng nói riêng và cả hệ
thống ngân hàng thương mại nói chung là vô cùng nghiêm trọng. Rủi ro thanh
khoản xảy ra nhẹ sẽ làm suy giảm mức sinh lợi của ngân hàng, còn nêú nặng có thể
đưa ngân hàng đến chỗ phá sản. Vì vậy mà quản trị thanh khoản luôn là hoạt động
xuyên suốt trong quá trình hoat động của mỗi ngân hàng.
Do tâm quan trọng của quản lý thanh khoản, và với mong muốn hiểu rõ hơn về
rủi ro thanh khoản và các biện pháp hạn chế rủi ro thanh khoản nên em đã lựa chọn
đề tài:
“Rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại Việt Nam”
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Phần I: Cơ Sở lý luận về rủi ro thanh khoản trong các
ngân hàng thương mại
1. Các khái niệm cơ bản về thanh khoản
1.1. Tính thanh khoản của tài sản:
Tính thanh khoản của tài sản là khả năng chuyền tài sản đó thành tiền, được đo
bằng chi phí và thời gian đề chuyển tài sản thành tiền.
Thời gian và chi phí càng cao thì tính thanh khoản của tài sản càng thấp và ngược lại.
Tuy nhiền trong nhiều trường hợp muốn bán nhanh được một tài sản tức là muốn
chuyển đổi tài sản đó nhanh thành tiền thì chi phí lại lớn. Điều này cho ta thấy tính

đảm bảo khả năng chi trả của ngân hàng với chi phí hợp lý nhất.
1.5. Cung và cầu và trạng thái thanh khoản:
Cung thanh khoản chính là khả năng cung ứng tiền của một ngân hàng thương
mại nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng, bao gồm việc giữ tài sản và
khả năng huy động mới. Nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng bao gồm
− Các khoản tiền gửi sẽ nhận được
− Thu nhập từ việc cung cấp các dịch vụ
− Các khoản tín dụng sẽ thu về
− Bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng
− Vay mượn từ thị trường tiền tệ
Cầu về thanh khoản là nhu cầu thanh toán của khách hàng của ngân hàng mà ngân
hàng có nghĩa vụ đáp ứng. Cầu thanh khoản bao gồm yêu cầu chi trả và vay hợp pháp
của các khách hàng. Trong lĩnh vực ngân hàng, những hoạt động sau đây tạo ra nhu
cầu về thanh khoản:
− Khách hàng rút các khoản tiền gửi
− Đề nghị vay vốn hợp pháp của khác hàng
− Trả lãi cho các khoản tiền gửi và vay
− Thanh toán cho các khoản phải trả khác
− Chi phí cho quá trình tạo ra sản phẩm và dịch vụ ngân hàng
− Thanh toán cổ tức cho các cổ đông
Trong cầu thanh khoản có hai bộ phận quan trọng đối với ngân hàng đó là:
nhu cầu rút tiền và nhu cầu vay tiền của khách hàng. Trong đó nhu cầu rút tiền gắn
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
liền với tiền huy động được, còn nhu cầu vay tiền của khách hàng gắn liền với việc
tạo ra các sản phẩm mới.
Trạng thái thanh khoản: Ở bất kỳ thời điểm nào, các nguồn cung và nhu cầu thanh
khoản đến cùng một lúc và tạo thành trang thái thanh khoản ròng(Net Lquidity
Position). Khi trạng thái thanh khoản ròng (+) tức là ngân hàng đang trong trạng thái
thặng dư thanh khoản (liquidity surplus). Khi trạng thái thanh khoản ròng (-) tức là

− Do sự nhạy cảm đối với sự thay đổi về lãi suất đầu tư, nhất là các khoản tiền
gửi. Khi lãi suất đầu tư tăng, một số người gửi tiền rút vốn của họ ra khỏi ngân hàng
để đầu tư vào nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn, còn các khách hàng vay tiền có thể trì
hoãn yêu cầu vay vốn và tích cực tiếp cận các khoản tín dụng có lãi suất thấp hơn.
Như vậy, sự thay đổi lãi suất ảnh hưởng cả khách hàng gửi tiền và khách hàng vay
tiền và cả hai đều tác động trạng thái thanh khoản của ngân hàng. Hơn nữa, những
xu hướng về sự thay đổi lãi suất còn ảnh hưỏng đến giá trị thị trường các tài sản mà
ngân hàng có thể đem bán để tăng thêm nguồn cung cấp thanh khoản và trực tiếp ảnh
hưởng đến chi phí vay mượn trên thị trường tiền tệ.
− Ngoại trừ hai nhân tố nêu trên, điều cơ bản là các ngân hàng phải đặt một sự
ưu tiên cao đối với việc đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Mất cảnh giác trong khu vực
này có thể làm tổn hại nghiêm trọng niềm tin của công chúng vào ngân hàng. Một
trong những nhiệm vụ của các nhà quản trị thanh khoản là duy trì mối liên hệ gần gủi
với những khách hàng gửi tiền lớn và những khách hàng vay đang nắm giữ hạn mức
lớn để xác định có hay không và khi nào rút vốn.
3. Giải pháp hạn chế rủi ro thanh khoản
Để hạn chế rủi ro thanh khoản cần phải có những biện pháp quản trị thanh khoản
có hiệu quả tốt.
3.1. Định hướng chung về quản lý thanh khoản:
Để quản lý thanh khoản tốt thì cần thiết phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:
− Người quản trị thanh khoản thường xuyên bám sát hoạt động của các bộ
phận chịu trách nhiệm huy động vốn và sử dụng vốn trong phạm vi ngân hàng và
điều phối hoạt động các bộ phận này với nhau. Chẳng hạn, bất cứ khi nào bộ phận
phụtrách tài khoản tiết kiện dự kiến nhận một số chứng chỉ tiền gửi có giá trị lớn
trong một vài ngày tới, thông tin này cần được chuyển ngay tới người quản trị thanh
khoản hoặc bộ phận cho vay đã thoả thuận cấp hạn mức tín dụng mớicho khách hàng,
nhà quản trị thanh khoản cần chuẩn bị khả năng khách hàng rút tiền từ hạn mức đó.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
− Nhà quản trị thanh khoản cần phải biết trước khả năng ở đâu và khi nào

6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhưng khách hàng gửi tiền đã không rút ra và tiếp tục gửi tiếp kỳ hạn mới. Những
khoản tiền gửi này ta có thể thấy về mặt bản chất chúng cũng có giá trị như các
khoản tiền gửi trung và dài hạn. Việc không cho vay phi thương mại-tài trợ bất động
sản, máy móc thiết bị, hàng tiêu dùng đã hạn chế khả năng thu nhập của ngân hàng.
3.2.2. Lí thuyết và khả năng chuyển đổi của tài sản
Cùng với sự phát triển của thị trường trái phiếu Chính phủ, các ngân hàng đã
có cơ hội mới trong việc nắm giữ các tài sản sinh lời mà vẫn có thể chuyển thành tiền
nhanh chóng với ít tổn thất. Dựa trên việc phân tích số lượng các ngân hàng Anh và
Mỹ bị phá sản trong khủng hoảng 29 – 30 các tác giả của lý thuyết này đã cho rằng,
số lượng các ngân hàng Anh ( chủ yếu cho vay thương mại) bị phá sản chẳng kém gì
các ngân hàng Mĩ ( mở rộng cho vay bất động sản và người tiêu dung) . Như vậy, cho
vay thương mại khi khủng hoảng xảy ra. Lí thuyết về khả năng chuyển đổi của tài sản
chứng minh vấn đề chính để đảm bảo an toàn thanh khoản là khả năng tạo ra thu
nhập của ngân hàng ( tăng khả năng tích lũy) và khả năng tạo ra thu nhập của ngân
hàng ( tăng khả năng tích lũy ) và khả năng chuyển đổi của tài sản. Với sự phát triển
của thị trường chứng khoán, thị trường tài sản, nhiều tài sản của ngân hàng có khả
năng chuyển dổi cao đảm bảo ngân hàng có khoản thu cần thiết khi phải đáp ứng nhu
cầu thanh khoản, Do vậy, các ngân hàng hoàn toàn có thể thực hiện cac khoản cho
vay phi thương mại mà vẫn đảm bảo khả năng thanh khoản của ngân hàng.
3.2.3. Lí thuyết về lợi tức dự tính
Tính thanh khoản của tài sản của ngân hàng không chỉ được đo bằng khả năng
chuyển đổi của tài sản. Trên cơ sở phân tích thanh khoản của ngân hàng trên quan
điểm dòng tiền, các tác giả của lý thuyết lợi tức dự tính cho rằng các khoản thu từ tài
sản không chỉ xảy ra khi tài sản đến hạn mà còn có được vào nhiều thời điểm trong
suốt thời hạn của tài sản. Các khoản tài trợ trung và dài hạn gắn liền với tài sản cố
định của khách hàng. Cấc tài sản này tham gia nhiều chu ky sản xuất hoặc tiêu dung,
bị hao mòn dần. Người vay( doanh nghiệp) sẽ thực hiện thu hồi dần giá trị của tài sản
dưới hình thức trích kháu hao. Nếu là người tiêu dùng vay để mua hàng hóa lâu bền,

thanh khoản, ngân hàng bán các tài sản dự trữ để lấy tiền cho đến khi tất cả nhu cầu
thanh khoản được đáp ứng đầy đủ. Chiến lược quản trị thanh khoản theo hướng này
thường được gọi là sự chuyển hoá tài sản bởi vì ngân hàng tăng nguồn cung cấp
thanh khoản bằng cách chuyển đổi các tài sản phi tiền mặt thành tiền mặt.
Tài sản có tính thanh khoản có 3 đặc điểm sau:
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
o Luôn có sẵn thị trường tiêu thụ để có thể chuyển đổi thành tiền mau
chóng.
o Giá cả ổn định để không ảnh hưởng đến tốc độ và doanh thu bán tài
sản.
o Có thể mua lại dễ dàng với ít rủi ro mất mát giá trị để người bán có thể
khôi phục khoản đầu tư.
Đối với các ngân hàng, những tài sản có tính thanh khoản cao nhất là trái
phiếu kho bạc, các khoản vay NHTW, trái phiếu đô thị, tiền gửi tại các ngân hàng
khác, chứng khoán các cơ quan chính phủ... Như vậy, trong chiến lược quản trị thanh
khoản dựa trên tài sản, một ngân hàng được coi là quản trị thanh khoản tốt nếu nó có
thể tiếp cận các nguồn cung cấp thanh khoản ở chi phí hợp lý, số lượng tiền vừa đủ
theo yêu cầu và kịp thời vào lúc nó được cần đến.
Tuy nhiên, sự chuyển hoá tài sản không phải cách tiếp cận ít chi phí đối với quản trị
thanh khoản:
o Một khi bán tài sản cũng có nghĩa là ngân hàng mất nguồn thu nhập mà
các tài sản này tạo ra. Như vậy, có chi phí cơ hội để dự trữ khả năng thanh
khoản bằng tài sản.
o Phần lớn các tài sản đem bán cũng liên quan đến chi phí giao dịch,
chẳng hạn hoa hồng phí phải trả cho người môi giới chứng khoán.
o Ngân hàng sẽ bị tổn thất vốn đáng kể nếu các tài sản cần phải bán có sự
giảm giá trên thị trường.
o Nhìn chung khả năng sinh lợi của các tài sản có tính thanh khoản càng
cao là thấp nhất trong số các tài sản tài chính. Nếu ngân hàng đầu tư nhiều vào

loại chiến lược trên để tạo ra chiến lược quản trị thanh khoản cân bằng.
Chiến lược này đòi hỏi, các nhu cầu thanh khoản có thể dự kiến, được dự trữ bằng
chứng khoán khả nhượng và tiền gửi tại các ngân hàng khác; trong khi đó các nhu
cầu thanh khoản đã dự phòng trước (theo thời vụ, chu kỳ, và xu hướng) được hỗ trợ
bằng các thoả thuận trước về hạn mức tín dụng từ các ngân hàng đại lý hoặc những
nhà cấp vốn khác.
Nhu cầu thanh khoản không thể dự kiến được đáp ứng từ vay mượn ngắn hạn trên
thị trường tiền tệ. Các nhu cầu thanh khoản dài hạn cần được hoạch định và nguồn
vốn để đáp ứng nhu cầu thanh khoản là các khoản tiền vay ngắn và trung hạn, chứng
khoán sẽ chuyển hóa thành tiền khi nhu cầu thanh khoản xuất hiện.
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status