Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Công cuộc đổi mới ở Việt Nam được tiến hành từ năm 1986 bằng việc
chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường
theo định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước. Tạo điều kiện phát triển tất
cả các thành phần kinh tế theo định hướng XHCN là một trong những nhiệm vụ
chiến lược trong đường lối phát triển nền kinh tế ở nước ta. Trong quá trình đổi
mới kinh tế ở Việt Nam, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) đã đóng
một vai trò rất quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, tăng
GDP,… Chiếm một tỷ lệ khá lớn trong tổng số lượng doanh nghiệp ở Việt Nam,
các DNNQD hiện nay đang hoạt động trong môi trường kinh tế chưa hoàn toàn
thuận lợi cả về tầm vĩ mô và vi mô, gặp rất nhiều khó khăn về công nghệ, tiếp
cận dịch vụ tài chính, vốn đầu tư, đặc biệt là vốn trung và dài hạn.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam tới năm 2010 là phát
triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong đó chú ý tới khu vực DNNQD.
Việc xem xét thực trạng của các DNNQD hiện nay đang trở nên bức thiết để tìm
ra những biện pháp hữu hiệu nhằm khai thông môi trường đầu tư, tạo điều kiện
DNNQD phát triển các hoạt động kinh doanh, trong đó đặc biệt chú ý tới mối
quan hệ tín dụng giữa các Ngân hàng thương mại (NHTM) và các DNNQD.
Xuất phát từ quan điểm trên và thực trạng của khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh, qua thời gian thực tập tại Ngân hàng No&PTNT Bà Triệu tôi đã mạnh
dạn chọn đề tài: “Mở rộng hoạt động cho vay đối với DNNQD tại chi nhánh
Ngân hàng No&PTNT Bà Triệu”, với kết cấu gồm 3 chương ngoài phần mở
đầu và kết luận:
Chương 1: Tổng quan về cho vay đối với DNNQD của NHTM
Chương 2: Thực trạng cho vay đối với DNNQD tại chi nhánh NH
No&PTNT Bà Triệu
Chương 3: Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay đối với DNNQD tại chi
nhánh Bà Triệu
PHẠM THANH HUYỀN – TCDN 44B 1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước hoạt động theo luật doanh nghiệp, đó
là các công ty Trách nhiệm hữu hạn Nhà nước do Trung ương và địa
phương quản lý.
- Công ty cổ phần vốn trong nước mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều
lệ.
+ DNNQD: Là các doanh nghiệp có vốn trong nước, mà nguồn vốn
thuộc sở hữu tập thể, tư nhân, một người hay một nhóm người có sở hữu Nhà
nước nhưng chiếm từ 50% vốn điều lệ trở xuống, gồm:
PHẠM THANH HUYỀN – TCDN 44B 3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Hợp tác xã: Là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu
cầu, lợi ích chung tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định
của pháp luật để phát huy sức mạnh tập thể và từng xã viên nhằm giúp
nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh và cải
thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế - xã hội đất nước (Đ1, C1, Luật
HTX).
- Doanh nghiệp tư nhân (DNTN): Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ
và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động
của doanh nghiệp.
1
- Công ty cổ phần tư nhân: Là doanh nghiệp mà vốn điều lệ được chia
thành nhiều phần bằng nhau được gọi là cổ phần, người nắm giữ cổ phần
gọi là cổ đông. Các cổ đông có thể là cá nhân, tổ chức không thuộc Nhà
nước. Số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa.
- Công ty cổ phần có vốn Nhà nước nhỏ hơn hoặc bằng 50% vốn điều lệ:
Là công ty cổ phần tư nhân nhưng có thêm cổ đông là Nhà nước và vốn
đóng góp của Nhà nước nhỏ hơn hoặc bằng 50% vốn điều lệ.
- Công ty hợp danh: Là doanh nghiệp trong đó phải có ít nhất 2 thành viên
là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên
chung (gọi là thành viên hợp danh); ngoài ra có thể có thành viên góp
phát triển nhanh và ổn định của nền kinh tế đất nước.
1.1.2. Vai trò của DNNQD
Loại hình doanh nghiệp nào cũng có vai trò của nó, xác định vai trò của
DNNQD để tạo điều kiện cho các DNNQD ra đời, phát triển và nâng cao hơn
nữa vai trò của mình làm tăng sức mạnh cho đất nước. Vai trò của các DNNQD
thể hiện ở các khía cạnh sau:
1.1.2.1. Tác động mạnh mẽ đến dịch chuyển cơ cấu kinh tế quốc dân theo hướng
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước:
- Theo cơ cấu nghành: Trước đây, DNNQD xuất hiện rất ít, chủ yếu trong
các nghành công nghiệp, còn các nghành khác như du lịch, dịch vụ… rất ít. Đến
nay, DNNQD có mặt ở hầu hết các ngành sản xuất kinh doanh và đặc biệt
DNNQD phát triển mạnh trong lĩnh vực công thương nghiệp và dịch vụ. Hiện
nay, DNNQD tập trung ở khu vực dịch vụ là 56,9%, trong đó thương nghiệp,
khách sạn và nhà hàng chiếm 43,9%. Tiếp đến là khu vực công nghiệp – xây
PHẠM THANH HUYỀN – TCDN 44B 5