TÌM HIỂU VĂN HOÁ GIAO TIẾP KINH DOANH CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA CHÂU Á - Pdf 29

Đ ề t ài m ôn h ọc giao ti ếp trong kinh doanh
ĐỀ TÀI MÔN HỌC
TÌM HIỂU VĂN HOÁ GIAO TIẾP KINH DOANH
CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA CHÂU Á
  
HỌ VÀ TÊN: NGUYỄN THỊ KIM LOAN
LỚP: QT02 – HỆ HC
KHOÁ 13
L ớp QT02 - Nguyễn Thị Kim Loan Trang 1
Đ ề t ài m ôn h ọc giao ti ếp trong kinh doanh
MỤC LỤC
I. NHẬT BẢN
1. Giới thiệu sơ nét về đất nước Nhật Bản.
1.1 Địa lý Nhật Bản.
1.2 Văn hoá Nhật Bản
1.3 Kinh tế.
1.4 Khoa học và công nghệ.
1.5 Dân số
2. Văn hoá giao tiếp trong kinh doanh của người Nhật Bản.
II. HÀN QUỐC
1. Giới thiệu sơ nét về đất nước Hàn Quốc.
2. Văn hoá giao tiếp trong kinh doanh của người Hàn Quốc.
III. ẤN ĐỘ
1. Giới thiệu sơ nét về đất nước Ấn Độ.
2. Văn hoá giao tiếp trong kinh doanh của người Ấn Độ.
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
L ớp QT02 - Nguyễn Thị Kim Loan Trang 2
Đ ề t ài m ôn h ọc giao ti ếp trong kinh doanh
TÌM HIỂU VĂN HOÁ GIAO TIẾP TRONG KINH DOANH
CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA CHÂU Á

lẫn phương Nam. Dưới góc độ sử dụng và cú pháp, rõ ràng tiếng Nhật thuộc hệ ngôn ngữ Altai
của các dân tộc phía Bắc lục địa châu Á, song trong từ vựng lại có nhiều từ gốc từ phía Nam.
Trong các tập quán và tín ngưỡng, ta thấy các lễ nghi gắn với văn hóa lúa nước vốn có nguồn gốc
ở phía Nam; còn huyền thoại lập nước bởi vị thần - ông tổ của nòi giống - từ thiên đường xuống
hạ giới thì có nguồn gốc ở phía Bắc. Vì vậy, người ta cho rằng dân cư ở đây có xuất xứ từ cả
phương Bắc lẫn phương Nam, đến quần đảo Nhật Bản từ thời tiền sử và qua một quá trình hoà
trộn các chủng tộc dần dần tạo ra dân tộc Nhật Bản.
1.3 Kinh tế
L ớp QT02 - Nguyễn Thị Kim Loan Trang 3
Đ ề t ài m ôn h ọc giao ti ếp trong kinh doanh
Nhật Bản là nước rất nghèo nàn về tài nguyên ngoại trừ gỗ và hải sản, trong khi dân số thì
quá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến
tranh, nhưng với các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi (1945-1954)
phát triển cao độ (1955-1973). Từ 1974 đến nay tốc độ phát triển tuy chậm lại, song Nhật Bản tiếp
tục là một nước có nền kinh tế-công nghiệp-tài chính thương mại-dịch vụ-khoa học kĩ thuật lớn
đứng thứ hai trên thế giới (chỉ đứng sau Hoa Kỳ), GDP trên đầu người là 36.217 USD (1989).
Cán cân thương mại dư thừa và dự trữ ngoại tệ đứng hàng đầu thế giới, nên nguồn vốn đầu
tư ra nước ngoài rất nhiều, là nước cho vay, viện trợ tái thiết và phát triển lớn nhất thế giới. Nhật
Bản có nhiều tập đoàn tài chính, ngân hàng đứng hàng đầu thế giới. Đơn vị tiền tệ là: đồng yên
Nhật.
Nhật Bản đang xúc tiến 6 chương trình cải cách lớn trong đó có cải cách cơ cấu kinh tế,
giảm thâm hụt ngân sách, cải cách khu vực tài chính và sắp xếp lại cơ cấu chính phủ... Cải cách
hành chính của Nhật được thực hiện từ tháng 1 năm 2001. Dù diễn ra chậm chạp nhưng cải cách
đang đi dần vào quỹ đạo, trở thành xu thế không thể đảo ngược ở Nhật Bản và gần đây đã đem lại
kết quả đáng khích lệ, nền kinh tế Nhật đã phục hồi và có bước tăng trưởng năm 2003 đạt trên 3%,
quý I/2004 đạt 6%.
Dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản, bán lẻ, giao thông, viễn thông tất cả đều là
ngành công nghiệp lớn của Nhật Bản, Nhật Bản có năng lực rất lớn về công nghiệp, và đây là trụ
sở của nhiều nhà sản xuất công nghệ tiên tiến bậc nhất thế giới về các sản phẩm xe có động cơ,
trang thiết bị điện tử, công cụ máy móc, thép, phi kim loại, công nghiệp tàu thủy, hóa học, dệt

• Đừng quá vội vàng bắt tay với doanh nhân Nhật Bản.
Nói chung, người Nhật tránh sự tiếp xúc quá thân mật trong kinh doanh. Vỗ vai khách từ phía sau
để kết thúc một sự giao dịch được xem là bất lịch sự. Nhưng nếu một người Nhật thiện chí đưa tay
ra trước thì bạn cũng đáp lại bằng việc bắt tay họ để thể hiện thiện chí của mình.
• Sẵn sàng tôn trọng sự khác biệt về văn hoá. Khi gọi tên người Nhật bạn nhớ bỏ từ “Mr” ở
đằng trước và thêm từ “san”- nghĩa là Ông, Bà, Anh, Chị… vào sau Họ của người đó để
thể hiện sự kính trọng. Ví dụ : Mr. Fujita được gọi là Fujita-san. Mr. Jones được gọi là
Jones-san. Không gọi “Mr. Fujita-san” hay “Mr. Jones-san”. Lưu ý là người Nhật gọi Họ
chứ không gọi tên. Gọi tên được xem là thiếu lịch sự.
• Khi kết thúc câu chào hỏi, đừng bao giờ quên trao “card visit”, đây là điều quan trọng nhất.
Hầu hết người Mỹ nhận card của đối phương liếc nhìn rất nhanh rồi cất vào túi áo vét trong khi
người Nhật xem card rất cẩn thận cả mặt trước và mặt sau. Họ giới thiệu, chứ không chỉ đơn thuần
đưa cho bạn, và cầm card với dòng chữ in xuôi chiều về phía bạn để bạn dễ nhìn. Có thể kèm theo
một cái cúi đầu nhẹ và nhanh. Chiếc card của người Nhật to hơn card của người Mỹ một chút và
được in trên giấy chất lượng tốt hơn. Việc in có thể bằng tiếng Anh một mặt và mặt kia in bằng
tiếng Nhật.
• Vị trí ngồi vào bàn làm việc
Dọc theo bàn hội nghị, khác với khá nhiều công ty Mỹ là thường ngồi xen kẽ giữa người của bên
này với người của bên kia, người Nhật thường ngồi một bên, đối phương ngồi một bên, trưởng
đoàn hoặc người có chức vụ cao nhất ngồi ở giữa.
• Trường hợp bạn nhận được nhiều card visit một lúc:
Đặt card visit mà đoàn doanh nhân Nhật Bản vừa trao cho bạn lên mặt bàn theo đúng thứ tự của
doanh nhân Nhật ngồi đối diện với bạn. Người Nhật cũng sắp xếp card visit mà đoàn của bạn trao
cho họ lên bàn theo thứ tự của người ngồi đối diện tương tự như vậy.
Bạn có thể nhìn vào card visit để nhớ tên của người đó. Điều này có thể chấp nhận được. Tên của
người Nhật Bản có thể khó nhớ, nhưng tên của người nước ngoài cũng khó nhớ đối với người
Nhật.
• Khi bạn là khách ở các văn phòng của người Nhật bạn sẽ được mời uống trà xanh, đây là
truyền thống của người Nhật. Nhưng người Nhật cũng uống cafe.
• Nói chậm và đúng sự thật

quan sát các đối tác này để quyết định thời điểm bắt đầu thảo luận công việc. Nếu đại diện nhóm
nói chuyện thì những người còn lại nên ghi chú những điều cần thiết để bàn bạc thêm với nhóm
sau đó, vì người Nhật thường thể hiện mình khá phức tạp, khó hiểu.
Lời nói “Vâng” (Yes) của họ có thể có nghĩa là “không” nếu đi kèm với những cụm từ
như We will think about it (Chúng tôi sẽ suy nghĩ về điều đó), We will see (Chúng tôi sẽ xem lại)
hoặc Perhaps (Có lẽ). Bạn có thể mất ba lần gặp gỡ và có khi một năm để mối quan hệ kinh
doanh với họ được trở thành chính thức.
 Nghệ thuật chiêu đãi khách
Ăn uống là thông lệ chung của các doanh nhân, sự tương tác của hai phía trong bữa tiệc
còn quan trọng hơn cả thức ăn. Không nên mang vợ đến những buổi tiệc này, chủ tiệc người
Nhật thường là đàn ông và họ không bao giờ mang phu nhân theo họ. Người Nhật vẫn còn trọng
nam hơn nữ, nên chúng ta rất ít gặp những đối tác kinh doanh là nữ. Các buổi tiệc chiêu đãi
thường vào buổi tối và có rất nhiều thức ăn và rượu uống thoải mái, và đây là lúc họ nói lên cảm
xúc thật của mình. Việc đổ nước tương trực tiếp lên cơm bị xem là bất thường.
Người ta ít khi tự rót rượu cho mình trong các cuộc giao tế. Thông thường, một người sẽ
rót rượu cho người đi cùng và ngược lại người bạn sẽ rót rượu cho người đó. Tuy nhiên nếu một
trong hai người đang uống rượu từ trong chai và người kia chỉ uống từ ly thì bạn có thể tự rót
rượu, nếu không sẽ phải chờ rất lâu.
 Cương vị lãnh đạo và cấp bậc xã hội
Người Nhật đánh giá cao sự đồng tâm hiệp lực, lãnh đạo là người ra quyết định sau cùng
sau khi đã lắng nghe ý kiến của cấp dưới. Quyết định của lãnh đạo là đại diện của sự đồng tâm
L ớp QT02 - Nguyễn Thị Kim Loan Trang 6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status