Luận văn: Xâm phạm bản quyền qua Internet: nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia Anh, Pháp, Mỹ - Pdf 12



1
Luận văn
Xâm phạm bản quyền qua
Internet: nghiên cứu kinh
nghiệm của một số quốc gia
Anh, Pháp, Mỹ 2

A.LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài:
Ngày nay ít ai trong chúng ta biết rằng những hoạt động thường nhật
được biết đến như chia sẻ dữ liệu, tải nhạc Mp3, sao chép các văn bản dữ liệu
trên mạng Internet lại có thể là những hành động xâm phạm bản quyền qua
Internet. Hơn nữa, đối tượng xâm phạm bản quyền qua mạng Internet chủ yếu
là giới trẻ nhưng rất ít trong số họ nhận thức được đầy đủ về hành vi của
chính mình.
Thế giới đang ngập tràn trong các phương tiện truyền thông và giải trí,
máy tính cá nhân, sự kết nối Internet và sự truyền tải dữ liệu thông tin rộng rãi.
Xung quanh chúng ta là máy nghe nhạc Mp3, ti vi, máy ghi hình cá nhân,
máy ghi đĩa CD, Ipods, máy tính xách tay, máy chơi game Công nghệ đó
khiến chúng ta có thể biết đến những phần mềm truyền thông đa phương tiện,
những trò chơi máy tính, âm nhạc, phim ảnh theo những cách mà chúng ta
không thể có được hơn hai mươi năm về trước. Nhưng đây cũng chính là lúc

bản quyền qua Internet khác nhau tuy nhiên hầu hết vẫn dựa trên cơ sở các
Công ước quốc tế đã ký kết. Do vậy, vì thời gian có hạn nên bài khóa luận
này chỉ đi sâu tìm hiểu kinh nghiệm xử lý xâm phạm bản quyền qua Internet
của một số quốc gia tiêu biểu như Anh, Pháp, Mỹ và một số quốc gia thuộc
khối EU khác.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Khóa luận sử dụng phương pháp phân tích-tổng hợp,phương pháp thống
kê, phương pháp diễn giải,quy nạp ,so sánh và đối chiếu…
5. Bố cục bài khóa luận:
Khóa luận được chia thành 3 phần chính như sau:

Chương I: Tổng quan về xâm phạm bản quyền qua Internet 4

Chương II: Thực trạng và kinh nghiệm của một số quốc gia về xử lý xâm
phạm bản quyền qua Internet
Chương III: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xử lý xâm
phạm bản quyền qua Internet
5

B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I

- Các tác phẩm nghe nhìn như phim ảnh, chương trình truyền hình, các
tác phẩm ghi âm, tác phẩm kịch câm
Trong đó, Internet là một định hình mới có sức ảnh hưởng vô cùng lớn,
vượt qua mọi khoảng cách về không gian và thời gian. Linda J. Engelman đã
định nghĩa Internet là một thế giới rộng lớn, mạng lưới tự quản lý kết nối với
hàng ngàn mạng lưới nhỏ hơn của hàng triệu máy tính và người sử dụng với
lượng thông tin khổng lồ [14, tr 1]. Internet bao gồm dữ liệu dưới dạng số hóa
của tất cả các định hình vật chất của tác phẩm. Bản quyền trên Internet phát
sinh khi một tác phẩm được công bố trên mạng Internet cho công chúng được
phép tiếp cận và sử dụng hợp lý. Sự xuất hiện của Internet thực sự đã tạo ra
rất nhiều cơ hội cũng như thách thức cho các tác giả trong môi trường kỹ
thuật số đang ngày càng đa dạng và phức tạp hiện nay.
1.2. Nội dung bản quyền trên mạng Internet:
Bản quyền trên mạng Internet được bảo hộ giống như bản quyền đối với
tác phẩm thông thường bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.
1.2.1. Quyền nhân thân:
Quyền nhân thân thông thường bao gồm các quyền sau:
 Quyền đặt tên cho tác phẩm
 Quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, được nêu tên thật
hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng.
 Quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm.
 Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt
xén hoặc xuyên tác tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại 7

đến danh dự và uy tín tác giả. [Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, (2005),
Điều 19]
Quyền nhân thân cũng được đề cập đến trong hai Công ước về Internet

tế đối với các buổi biểu diễn chưa được định hình, quyền sao chép, quyền
phân phối, quyền cho thuê và quyền cung cấp các buổi biểu diễn định hình.
+ Quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng được thể hiện trong quyền
kinh tế đối với các buổi biểu diễn chưa được định hình trong WPPT như sau:
" Đối với các buổi biểu diễn của mình, người biểu diễn được độc quyền
cho phép:
(i) phát sóng và truyền đạt tới công chúng buổi biểu diễn chưa được định
hình của mình trừ khi buổi biểu diễn cũng chính là buổi biểu diễn phát sóng, và
(ii) định hình buổi biểu diễn chưa được định hình của mình." [The WIPO
Performances and Phonograms Treaty (1996), Art. 6]
Ở đây, WPPT quy định rõ ràng hơn và áp dụng riêng trong môi trường kỹ
thuật số đối với quyền biểu diễn trước công chúng của một tác phẩm.
+ Quyền sao chép tác phẩm được thể hiện trong Điều 7, WPPT như sau:
" Người biểu diễn được độc quyền cho phép sao chép trực tiếp hoặc gián
tiếp buổi biểu diễn của mình đã được định hình trong bản ghi âm dưới bất kỳ
hình thức hoặc cách thức nào." [The WIPO Performances and Phonograms
Treaty (1996), Art. 7]
Quyền sao chép được thể hiện đầy đủ hơn về hình thức bao gồm cả sao
chép trực tiếp hoặc gián tiếp và dưới bất kỳ hình thức hoặc cách thức nào.
WPPT 1996 đã quy định một cách rõ ràng và chi tiết hơn đối với quyền sao
chép của tác giả.
+ Quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm được thể
hiện trong Điều 8 (1), WPPT về quyền phân phối tác phẩm: 9

" (1) Người biểu diễn được hưởng độc quyền cho phép cung cấp cho công
chúng bản gốc hoặc bản sao buổi biểu diễn của mình đã được định hình trong
bản ghi âm thông qua việc bán hoặc hình thức chuyển nhượng quyền sở hữu

có thể thấy rằng các điều khoản của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005 lại
phù hợp một cách cơ bản với các điều khoản của Công ước quốc tế về bản
quyền, đặc biệt là các điều khoản liên quan đến vấn đề bản quyền trên
Internet.
2. Xâm phạm bản quyền qua Internet
2.1. Các hình thức xâm phạm bản quyền qua Internet
Thông thường một tác phẩm có thể bị xâm phạm bản quyền qua Internet
bằng cách sao chép htlm, javascript, hay các đoạn mã truyền tải dữ liệu khác;
tải xuống bất hợp pháp các tác phẩm bản quyền vào ổ cứng máy tính; tải lên
hay phân phối bất hợp pháp tác phẩm; cắt xén, sửa chữa hay làm sai lệch tác
phẩm mà chưa được sự cho phép của chủ sở hữu bản quyền.
2.1.1. Hình thức sao chép bất hợp pháp các bài báo, bản tin, tranh ảnh, đồ
họa
Các đối tượng sao chép bất hợp pháp trên mạng Internet thông thường là
các bản tin, bài báo, tranh ảnh đồ họa.
 Sao chép bản tin, bài báo
Việc sao chép các nội dung các đoạn văn bản từ trang web này sang trang
web khác trên hệ thống world wide web mà không được sự đồng ý của tác
giả vô cùng phổ biến. Chúng ta có thể dễ dàng đọc được một nhiều bài
báo hay các bản tin giống hệt nhau trên các trang thông tin điện tử khác
nhau. Điều đáng chú ý là các trang web sao chép các bài báo, bản tin này
không hề đề tên tác giả và trích dẫn nguồn. Đặc biệt là giới trẻ hiện nay
còn chưa ý thức được về vấn đề sao chép các đoạn văn hay bài báo cần
trích dẫn nguồn trên hệ thống blog cá nhân và các forum. Sự thiếu ý thức 11

này là một vấn đề hết sức nan giải cho các nhà làm luật hiện nay. Trong
một bài báo mang tên " Copyright and Wrongs", Roberta Beach Jacobson

luật gia có thể cho rằng đó là hành vi làm phương hại đến các nhóm nhạc và
đòi bồi thường tổn thất về doanh số bán hàng.
Hình thức ghi âm lậu rồi công khai trên mạng Internet cũng là một hành
động hết sức phổ biến. Đây là hình thức thu âm lại các tác phẩm âm nhạc mà
chưa được chính thức công khai bởi nghệ sĩ hoặc quản lý liên quan của họ.
Các bản ghi âm lậu có thể là các bản nháp, tài liệu phòng thu khác hoặc việc
ghi âm buổi biểu diễn trực tiếp. Những tài liệu ghi âm lậu được phát tán một
cách nhanh chóng trên mạng Internet gây thiệt hại vô cùng to lớn cho nghệ sĩ
cũng như công ty sản xuất đĩa nhạc. Vì thế, thậm chí khi một tác phẩm chưa
được chính thức phát hành và phân phối chính thức nhưng vẫn được bảo vệ
đầy đủ bởi luật bản quyền. Các trang web âm nhạc mà công khai tải lên trang
web của mình các tác phẩm âm nhạc chưa được công bố chính thức bị coi là
xâm phạm bản quyền qua Internet.
 Tải xuống và phân phối bất hợp pháp tác phẩm điện ảnh
Các bộ phim xúc tiến quảng cáo, xem xét trao giải là những nguồn chính
cho việc sao chép bất hợp pháp trên mạng Internet khi các bộ phim này còn
đang trình chiếu ở rạp. Các bộ phim thường được tải xuống và phân phối bất
hợp pháp dưới các định dạng như Wav, MPEG , Quicktime, Ngoài ra, các
tác phẩm điện ảnh còn bị phân phối bất hợp pháp bằng cách đặt trộm máy
quay cá nhân vào rạp chiếu phim và công khai trình chiếu bộ phim đó trên
trang web cá nhân. Mặc dù các bản sao như vậy thường có chất lượng thấp
hơn đĩa DVD nhưng việc không mất tiền đến rạp chiếu phim hay mua một đĩa
DVD chất lượng là một việc vô cùng hấp dẫn đối với những cá nhân yêu thích
sử dụng Internet.
 Tải xuống và phân phối bất hợp pháp phần mềm chương trình máy
tính 13



biến. Các bức ảnh tìm thấy trên mạng Internet được tự do sửa chữa thành các
bức tranh biếm họa để làm avatar mà không có sự cho phép của chủ sở hữu.
Đặc biệt, hình thức này thường xảy ra trong vấn đề sáng tác tranh ảnh cổ động.
Điển hình là đầu năm 2005, bức tranh " Đảng là cuộc sống của tôi" của tác giả
Nguyễn Trung Kiên bị phát hiện sao chép và sửa đổi từ bức ảnh " Nụ hôn của
gió" từng giành huy chương vàng quốc tế của tác giả Trần Thế Long. Hoặc
tiếp đó vào tháng 4 năm 2006, trường hợp tương tự lại xảy ra với bức tranh cổ
động " Tất cả trẻ em nghèo được học" của tác giả Chu Ngọc Thăng và bức
ảnh " Lớp học vùng cao" của tác giả Lê Hồng Linh. Tất cả các tác phẩm trên
đều được chỉnh sửa dựa trên những hình ảnh tìm thấy trên mạng Internet mà
không có sự đồng ý của chủ sở hữu tác phẩm.
2. 2. Bảo vệ chống lại xâm phạm bản quyền qua Internet
2.2.1. Tự bảo vệ
Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền áp dụng các biện pháp tự bảo vệ
như sử dụng các biện pháp công nghệ; yêu cầu tổ chức cá nhân có hành vi
xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải
chính công khai, bồi thường thiệt hại; yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm
quyền xử lý hành vi xâm phạm; khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của mình. [Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam (2005), Điều
198]
a) Các biện pháp công nghệ:
Các chủ thể quyền sở hữu có quyền sử dụng tối đa các biện pháp công
nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Có hai biện
pháp công nghệ chính để bảo vệ quyền tác giả và quyền liên quan để chắc
chắn rằng Internet có thể trở thành một địa điểm an toàn để phổ biến và cấp
phép cho tác phẩm trí tuệ hay các tài nguyên thông tin.
+ Biện pháp kỹ thuật

16

chính xác của thông tin mà họ nhận được để họ có thể cảm thấy an toàn khi
tiến hành các hoạt động trực tuyến.
Luật pháp các quốc gia dựa theo hai Công ước quốc tế của WIPO về
Internet đều cung cấp sự ủng hộ về mặt luật pháp cho hệ thống thông tin quản
lý quyền. Những hành động cố ý hủy, xóa, thay đổi thông tin quản lý quyền
dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm là một hành vi xâm phạm quyền tác
giả. [Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam (2005), Điều 28, Khoản 13]
Trong Công ước quốc tế, điều này được nêu rõ trong Điều 12 WCT và
Điều 19 WPPT:
" (1) Các Bên ký kết sẽ quy định những biện pháp pháp lý tương xứng và
hiệu quả đối với bất kỳ người nào cố ý thực hiện các hành vi sau đây, hoặc
theo các biện pháp dân sự, có cơ sở hợp lý biết rằng hành vi đó tạo khả năng,
điều kiện hoặc che giấu sự vi phạm bất kỳ quyền nào được quy định trong
Hiệp ước này:
(i) dỡ bỏ hoặc thay đổi bất kỳ thông tin quản lý quyền điện tử nào mà
không được sự cho phép;
(ii) phân phối, nhập khẩu để phân phối, phát sóng, truyền đạt hoặc cung
cấp tới công chúng, không được sự cho phép, các buổi biểu diễn, bản sao của
các buổi biểu diễn đã được định hình hoặc bản ghi âm mà biết rằng thông tin
quản lý quyền điện tử đã bị dỡ bỏ hoặc đã bị thay đổi mà không được sự cho
phép.
(2) Trong Điều này, “thông tin quản lý quyền” là thông tin xác định người
biểu diễn, buổi biểu diễn của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, bản
ghi âm, chủ sở hữu bất kỳ quyền nào đối với buổi biểu diễn hoặc bản ghi âm,
hoặc thông tin về điều khoản và điều kiện sử dụng buổi biểu diễn hoặc bản
ghi âm, và mọi con số hoặc mã ký hiệu thể hiện thông tin đó, khi các mục
thông tin này được gắn với bản sao của buổi biểu diễn đã được định hình hoặc

Tại Mỹ, chủ sở hữu bản quyền thường chấp nhận mức bồi thường khoảng từ 18

3000$ đến 5000$. Biện pháp này nếu đạt được sự đồng thuận của cả hai bên
sẽ là một biện pháp hết sức hiệu quả vừa giúp cho chủ sở hữu quyền tự bảo vệ
tác phẩm của mình vừa hạn chế được việc tiếp tục xâm phạm bản quyền của
bên vi phạm.
c) Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài
Khi không thể thỏa thuận hòa giải được, để tự bảo vệ quyền lợi, lợi ích
hợp pháp của mình, chủ sở hữu bản quyền có thể khởi kiện ra tòa án hoặc
trọng tài. Tòa án hoặc trọng tài sẽ thực hiện giải quyết tranh tụng và có biện
pháp cưỡng chế đối với bên vi phạm. Cách giải quyết này là hình thức phổ
biến nhất được chủ sở hữu bản quyền sử dụng hiện nay. Tại Mỹ, khi đã nhờ
đến sự giúp đỡ của bên thứ ba, chủ sở hữu có thể chọn bồi thường thiệt hại
theo luật định tối thiểu là 250$ đến mức tối đa là 10.000 $. Tòa án có thể điều
chỉnh giới hạn này dựa trên sự cố ý và vô ý của bên vi phạm. Bên vô ý vi
phạm có thể chứng minh thiện chí của mình và có thể giảm mức phạt xuống
còn 100$. Trong khi đó bên cố ý xâm phạm bản quyền có thể bị tòa tuyên
phạt lên đến 50.000 $.
2.2.2. Biện pháp dân sự
Khi tranh tụng về xâm phạm bản quyền qua Internet được đưa ra tòa, tòa
án có thể áp dụng các biện pháp dân sự để xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi
xâm phạm. Biện pháp dân sự bao gồm các biện pháp sau:
+ Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm:
Đây là mệnh lệnh của tòa án mà thường cấm bên vi phạm tiếp tục xâm
phạm bản quyền qua Internet. Mệnh lệnh này có thể bao gồm yêu cầu dừng sử
dụng tác phẩm bị xâm phạm bản quyền, xin lỗi, cải chính công khai. Nếu bên
vi phạm không tuân theo, tòa án có thể sử dụng biện pháp cưỡng chế như

 Thiệt hại tinh thần: 20

Thiệt hại về tinh thần bao gồm các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy
tín, danh tiếng và những tổn thất khác về tinh thần gây ra cho tác giả của tác
phẩm. [Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam (2005), Điều 204, Khoản 1b]
Trong trường hợp chủ sở hữu bản quyền có thể tự xác định được thiệt hại
về tinh thần có thể yêu cầu Tòa án quyết định mức bồi thường về tinh thần
trong giới hạn do luật pháp quy định tùy theo mức độ thiệt hại.
Ngoài các khoản bồi thường thiệt hại trên, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có
thể yêu cầu Tòa án buộc tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm bản quyền
phải thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư và các chi phí khác để thực hiện
tranh tụng tại Tòa.
2.2.3. Biện pháp xử phạt hành chính:
Các hành vi xâm phạm bản quyền qua Internet bị xử phạt hành chính bao
gồm hành vi xâm phạm bản quyền gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc cho
xã hội và hành vi không chấm dứt xâm phạm bản quyền mặc dù đã được chủ
sở hữu bản quyền thông báo bằng văn bản yêu cầu chấm dứt hành vi đó. Hai
hình thức xử phạt hành chính thông thường là cảnh cáo và phạt tiền.
+ Cảnh cáo: Hình thức cảnh cáo trong xử phạt hành chính có thể là ngắt
đường truyền Internet trong thời gian nhất định hay một tiến trình cảnh báo
liên tục với các biện pháp công nghệ nhằm vào những đối tượng liên tục có
hành vi xâm phạm bản quyền qua Internet.
+ Phạt tiền: Mức tiền phạt trong xử phạt hành chính thông thường được
ấn định ít nhất bằng giá trị đối tượng xâm phạm được phát hiện ra và nhiều
nhất không vượt quá 5 lần giá trị đó. [ Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam (2005),
Điều 214, Khoản 4]. Tại Việt Nam hiện nay, mức phạt hành chính tối đa đối
với xâm phạm bản quyền sở hữu trí tuệ là 500 triệu đồng. [Pháp lệnh sửa đổi,

hội. Ngoài ra có các biện pháp khuyến khích hiệu quả khác như đầu tư thiết
lập cổng trực tuyến cho phép khách hàng tiếp cận hợp pháp đến các tác phẩm
bản quyền trên Internet 22

+ Biện pháp giáo dục:
Biện pháp giáo dục là một biện pháp hết sức quan trọng trong thời đại
Internet hiện nay. Theo một nghiên cứu của Microsoft tại Mỹ, phần lớn giới
trẻ là đối tượng xâm phạm bản quyền qua Internet. Trong cuộc điều tra này,
một nửa giới trẻ được phỏng vấn nói rằng chúng không biết luật và chỉ có
11% trong số chúng hiểu rõ luật hiện hành đối với việc download tranh ảnh,
sách báo văn học, âm nhạc hay những phần mềm. Việc giáo dục giới trẻ cũng
như các bậc cha mẹ ý thức được hành vi xâm phạm bản quyền có ảnh hưởng
rất lớn trong thời đại hiện nay. Biện pháp này đã đạt được những thành công
đáng kể tại một số các quốc gia trên thế giới.
2.3. Các cơ quan tham gia bảo vệ chống xâm phạm bản quyền qua Internet
Việc xử lý cũng như giám sát các hành vi xâm phạm bản quyền qua
Internet là nhiệm vụ của nhiều cơ quan chức năng khác nhau, có phạm vi
nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau thực hiện. Các cơ quan chức năng chính
bao gồm:
 Hệ thống Tòa án:
Việc áp dụng các biện pháp dân sự, hình sự đối với xâm phạm bản quyền
qua Internet thuộc thẩm quyền của tòa án. [ Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam
(2005), Điều 200, Khoản 2]. Vì mệnh lệnh của Tòa án có tính cưỡng chế với
mọi đối tượng nên hầu hết các vụ tranh chấp liên quan đến quyền tác giả nói
chung và liên quan đến xâm phạm bản quyền qua Internet nói riêng đều được
xử lý tại Tòa án. Tại Việt Nam, Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết
các tranh chấp về quyền tác giả cụ thể được quy định tại Điều 759 Bộ luật

Bộ luật dân sự", Điều 29]
- Cục Bản quyền tác giả Văn học - Nghệ thuật: Cơ quan này có nhiệm vụ
giúp đỡ Bộ Văn hóa - Thông tin thực hiện quản lý nhà nước về bản quyền như
soạn thảo các dự luật, pháp luật, nghị định và các văn bản pháp quy khác liên
quan đến bản quyền ; hướng dẫn Sở văn hóa - thông tin quản lý nhà nước về 24

bản quyền tại địa phương; tổ chức, thực hiện việc hợp tác với nước ngoài, các
tổ chức quốc tế về bản quyền; tuyên truyền phổ biến pháp luật về vấn đề bản
quyền và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho các cán bộ có liên quan ở
Trung ương và địa phương. [ibid., Điều 30]
- Thanh tra chuyên ngành văn hóa - thông tin: thanh tra chuyên ngành
văn hóa thông tin có thể trực thuộc Bộ Văn hóa - Thông tin hoặc Sở văn hóa -
thông tin tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Bộ phận này có nhiệm vụ xử
lý, giải quyết tranh chấp liên quan đến xâm phạm bản quyền tác giả.
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát việc thực hiện bảo hộ bản
quyền tại địa phương mình [ibid.,Điều 32]
- Sở Văn hóa - Thông tin: Cơ quan này có nhiệm vụ giúp Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện pháp luật bảo hộ bản
quyền tại địa phương. [ibid.]
- Các bộ ngành liên quan khác như cơ quan quản lý thị trường, cảnh sát
kinh tế, an ninh văn hóa : Các cơ quan này đều có nhiệm vụ thanh tra, quản
lý, giám sát, xử lý các trường hợp xâm phạm bản quyền qua Internet. Họ có
thể làm việc riêng theo từng nhiệm vụ được giao hoặc kết hợp lại với nhau
trong một nhiệm vụ chung chống lại xâm phạm bản quyền qua Internet. Các
cơ quan này đều có thẩm quyền áp dụng biện pháp hành chính khi phát hiện
ra đối tượng xâm phạm bản quyền qua Internet. Trong trường hợp cần thiết,

chống lại xâm phạm bản quyền qua Internet có thể kể đến như Tổ chức sở
hữu trí tuệ thế giới WIPO ( World Intelletual Property Organisation), Trung
tâm nghiên cứu kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp BSA (Business Software
Alliance)
Tóm lại, cách thức truyền thông qua Internet khác với các hình thức
truyền thông khác. Đối với các hình thức truyền thông thông thường, thông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status