1
MỞ ĐẦU
Lý do hình thành đề tài
Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang diễn ra với tốc
độ vũ bão, và tạo nên những biến đổi sâu sắc và làm thay đổi tận gốc các mặt
của đời sống xã hội loài người.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật - công nghệ
hiện đại của thế giới, trong điều kiện của nền kinh tế trí thức ấy, cơ hội phát
triển thực sự lớn lao nhưng thử thách không kém phần khắc nghiệt đang đặt ra
cho nước ta trên con đường đổi mới của mình. Đảng và Nhà nước đã khẳng đònh
công nghệ thông tin là một trong những động lực quan trọng nhất của sự phát
triển xã hội, ứng dụng công nghệ thông tin là phương tiện chủ lực để đi tắt đón
đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước, tạo đà cho nền kinh tế
tăng trưởng và phát triển nhanh, mạnh, bền vững. Chủ trương, chiến lược đã đề
ra, song thực tế việc phát triển ngành công nghiệp non trẻ này, đặc biệt là ngành
công nghiệp phần mềm nhằm khai thác giá nhân công rẻ và trí thông minh người
Việt, đang diễn ra không suôn sẻ như mong đợi.
Vì thế, hơn lúc nào hết, việc tìm hiểu lý do dưới góc độ lý luận và cả về thực
tiễn chiến lược phát triển ngành công nghiệp phần mềm non trẻ nước ta nói
chung, đặc biệt là ở đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh, là vô cùng cần thiết để góp
phần trụ vững và phát triển ngành Công Nghiệp Phần Mềm TP.Hồ Chí Minh ,
và qua đó góp phần phát huy được hiệu quả nguồn lực tổng hợp của xã hội, khai
thác triệt để nguồn năng lực nội sinh và thực hiện thành công chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội từ nay đến năm 2010 mà Đảng đã đề ra.
- Phạm vi nghiên cứu : trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh
- Giai đoạn, thời gian nghiên cứu: giai đoạn 2001 – 2005.
Phương pháp luận nghiên cứu
- Vận dụng cách tiếp cận theo duy vật biện chứng, vận
dụng quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển công nghệ thông
tin, và theo cách tiếp cận hệ thống để phân tích làm rõ thực trạng. Từ
đó nhận đònh, phân tích tình hình, phát triển ý tưởng của các quan
điểm, để góp phần đònh hướng chiến lược phát triển ngành công
nghiệp phần mềm thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2006 – 2010.
- Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu ứng dụng kết
hợp phương pháp thống kê – khảo sát, phân tích – tổng hợp – so sánh.
2 3
Phương pháp thu thập số liệu nghiên cứu
Các số liệu thông tin thứ cấp:
- Cục Thống kê TP.Hồ Chí Minh;
- Bộ Bưu chính viễn thông;
- Hội Tin học Việt Nam;
- Hội Tin học TP. Hồ Chí Minh;
- Niên Giám Công nghệ Thông tin Việt Nam 2000 –
3 4
Chương I :
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯC PHÁT TRIỂN
NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHẦN MỀM
1.1 KHÁI LUẬN VỀ CHIẾN LƯC PHÁT TRIỂN
1.1.1. Khái niệm chiến lược – Chiến lược phát triển.
Khái niệm “chiến lược” được sử dụng đầu tiên trong lónh vực quân sự và sau đó
ở lónh vực chính trò. Từ những năm 50 của thế kỷ XX, khái niệm chiến lược được
sử dụng trong lónh vực kinh tế xã hội.
Trong bài báo “Chiến lược là gì?” năm 1996, Giáo sư nổi tiếng về chiến lược
kinh doanh của trường Harvard, Michael E. Porter, cho rằng chiến lược là sự
sáng tạo ra vò thế có giá trò và độc đáo bao gồm các hoạt động khác biệt; thứ hai,
chiến lược là sự chọn lựa, đánh đổi trong cạnh tranh; thứ ba, chiến lược là việc
tạo ra sự phù hợp giữa tất cả các hoạt động của công ty.
Có thể nói, Chiến lược là một tập hợp những mục tiêu và các chính sách cũng
như các kế hoạch chủ yếu để đạt được mục tiêu đó, nó cho thấy rõ tổ chức (đơn
vò/ công ty/ngành..) đang hoặc sẽ thực hiện hoạt động gì, và tổ chức đang hoặc sẽ
thuộc vào lónh vực nào. Chiến lược thường được hiểu là hướng và cách giải quyết
nhiệm vụ đặt ra mang tính toàn cục, tổng thể và trong thời gian dài, nó chỉ tạo ra
các khung nhằm hướng dẫn tư duy để hành động.
Quản trò chiến lược bắt nguồn từ khái niệm chiến lược công ty được phát triển
kiện thực tế.
Khắc phục những hạn chế của cơ chế thò trường, đònh hướng mục tiêu,
bảo đảm sự cân đối trong hệ thống kinh tế và các mục tiêu xã hội.
Cuối cùng, chiến lược cung cấp một tầm nhìn và khuôn khổ tổng quát
cho việc thiết lập các quan hệ hợp tác và hội nhập quốc tế một cách
chủ động và hiệu quả.
1.1.3 Những nội dung cơ bản của chiến lược phát triển
Một chiến lược phát triển ở tầm quốc gia thường có các nội dung cơ bản sau:
1.1.3.1 Căn cứ của chiến lược phát triển
Những kinh nghiệm trong phát triển kinh tế-xã hội. Đây là những bài
học kinh nghiệm trong quá trình phát triển đã qua của đất nước, nhất
là những khoảng thời gian thực hiện chiến lược liền kề trước đó. Mặt
khác, kinh nghiệm phát triển của các nước trên thế giới và khu vực
cũng có thể giúp chúng ta nghiên cứu, tham khảo, rút kinh nghiệm khi
xây dựng chiến lược.
Xác đònh điểm xuất phát về kinh tế-xã hội, tức đánh giá thực trạng
thời điểm mở đầu chiến lược, tìm xem nền kinh tế đang ở giai đoạn
nào và trình độ nào so với các nước khác trong khu vực và trên thế
giới.
5 6
Đánh giá, dự báo các nguồn lực, các lợi thế so sánh, lợi thế cạnh
tranh.. và môi trường phát triển trong thời kỳ chiến lược, bao gồm các
yếu tố như: vò trí đòa lý, tài nguyên thiên nhiên, dân số và lao động, cơ
sở vật chất kỹ thuật, nguồn vốn…
7
Theo nguồn tài liệu chuyên ngành của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, một
chiến lược phát triển ngành cần có các nội dung cơ bản sau:
Các mục tiêu cơ bản của chiến lược phát triển ngành
Các lựa chọn đònh hướng chiến lược ngành.
Các chính sách cơ bản cho việc thực hiện chiến lược.
Các giải pháp chính sách cơ bản cho giai đoạn trung hạn sắp tới.
Chiến lược phát triển ngành và chiến lược phát triển tổng thể kinh tế-
xã hội.
1.1.4.2 Quy trình thực hiện
Chiến lược phát triển ngành có thể được xây dựng theo các bước như sau:
Nghiên cứu các dữ liệu về các ngành kinh tế-xã hội khác. Từ các số
liệu này, chúng ta sẽ có cái nhìn tổng quan về chiến lược phát triển
của toàn bộ nền kinh tế, qua đó xác đònh được vò trí của ngành đang
nghiên cứu trong mối tương quan với các ngành kinh tế-xã hội khác.
Phân tích thực trạng của ngành đang nghiên cứu. Việc phân tích này
để xác đònh các điểm mạnh, điểm yếu, các cơ hội và đe dọa thách
thức đối với sự phát triển của ngành. Từ đó tìm ra yếu tố lợi thế của
ngành để tập trung phát triển.
Xác đònh mục tiêu phát triển của ngành. Từ các dữ liệu phân tích của
ngành và đặc biệt từ dữ liệu phân tích các ngành kinh tế-xã hội khác
đã đề cập ở trên, chúng ta xác đònh được mục tiêu phát triển của
ngành.
Xác đònh các điểm tập trung, gồm có: cơ cấu, ngành mũi nhọn, công
trình trọng điểm, và các vùng phát triển tập trung để làm trục xương
sống cho chiến lược phát triển của ngành.
Xây dựng các chiến lược phát triển ngành và giải pháp thực hiện.
- Trước
- Sau
- Ngang
MỞ RỘNG
- Đa dạng hoạt
động đồng tâm
- Đa dạng hoạt
động ngang
- Đa dạng hoạt
động hỗn hợp
KHÁC
- Thu hẹp hoạt động
- Cắt bỏ hoạt động
- Thanh lý
- Liên doanh
CHIẾN LƯC
PHÁT TRIỂN
- Xâm nhập
- Phát triển thò phần
- Phát triển sản phẩm
Công nghiệp phần mềm (CNPM) là một ngành kinh tế nhằm phát triển, sản
xuất, phân phối các sản phẩm phần mềm và cung cấp các dòch vụ phần mềm
như đào tạo, huấn luyện, tư vấn, cung cấp giải pháp, hổ trợ kỹ thuật bảo trì cho
người sử dụng phần mềm.
[11,1]
1.2.2 Phân loại sản phẩm phần mềm
Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm sản phẩm phần mềm cũng như
cách phân loại sản phẩm phần mềm. Trong luận văn này, sản phẩm phần mềm
được phân loại bao gồm phần mềm đóng gói, phần mềm sản xuất theo hợp đồng
và các dòch vụ phần mềm:
1.2.2.1 Phần mềm đóng gói
Phần mềm đóng gói là những sản phẩm phần mềm hoàn chỉnh, có thể sử dụng
được ngay sau khi được cài đặt vào các thiết bò hay hệ thống, được nhà sản xuất
đăng ký thương hiệu và sản xuất hàng loạt để bán ra thò trường. Phần mềm đóng
gói được chia thành phần mềm ứng dụng, phần mềm hệ thống và phần mềm
phát triển:
Phần mềm ứng dụng là phần mềm được phát triển nhằm giúp giải quyết
các công việc hàng ngày cũng như các hoạt động nghiệp vụ như soạn thảo
văn bản, quản lý học sinh, quản lý kết quả học tập, quản lý thư viện, phần
mềm kế toán, phần mềm quản trò doanh nghiệp v.v.
Phần mềm phát triển (còn gọi là phần mềm công cụ) là các phần mềm
được dùng làm công cụ để cho các lập trình viên, những người phát triển
phần mềm sử dụng nó để phát triển các phần mềm ứng dụng.
9 10
10 11
và rất nhiều doanh nhân, chuyên gia đã nhanh chóng trở thành triệu phú, tỷ phú
nhờ ngành công nghiệp mới mẻ này.
Là ngành công nghiệp mới, có nhiều cơ hội cho sự phát triển
Công nghiệp phần mềm là một ngành công nghiệp mới mẻ. Phần lớn các doanh
nghiệp phần mềm mới bắt đầu hoạt động trong vòng 20 năm trở lại đây. Đặc
điểm nổi bật của ngành công nghiệp này là chủ yếu đầu tư đào tạo nhân lực,
nâng cao kỹ năng, trí tuệ. Thò trường phần mềm toàn cầu nói chung và trong mỗi
quốc gia nói riêng đều tăng trưởng khá nhanh. Nhu cầu về phần mềm, dòch vụ
và nhân lực CNTT ngày càng tăng. Các nước có mức độ phát triển càng cao thì
nhu cầu về phần mềm và dòch vụ càng lớn, đến mức họ buộc phải tìm kiếm các
nhà cung cấp và nguồn nhân lực phần mềm giá rẻ từ các nước kém phát triển
hơn. Đây là cơ hội lớn cho các nước đang phát triển biết nắm đúng thời cơ, có
những chiến lược đúng đắn, biện pháp hữu hiệu để có thể vượt lên. Từ năm
1982, thực tiễn của nước Ấn Độ đã chứng minh cho điều này. Và mới đây là
Trung Quốc, và một số nước khác trong khu vực như Philippin, Malaysia cũng
đang đạt được nhiều thành công lớn trong phát triển CNPM. Đây là những bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam trong giai đoạn sắp tới.
Là ngành công nghiệp vừa có xu hướng tiếp tục phát triển tập trung,
vừa lại có xu hướng phân tán trong thời kỳ mới.
Công nghiệp phần mềm tập trung phát triển chủ yếu ở Mỹ và xu hướng này tiếp
tục tăng. Đến nay, ngành công nghiệp này phần lớn do các công ty Mỹ thống trò
với các tập đoàn đa quốc gia hùng mạnh có chi nhánh hoạt động trên toàn cầu.
Ngoài Mỹ, Nhật Bản và các nước EU cũng là những khu vực có ngành CNPM
phát triển mạnh mẽ. Ở những khu vực này các phần mềm được phát triển chủ
yếu là những phần mềm đáp ứng nhu cầu nội đòa và các thiết bò cho các hãng
của các nước này sản xuất.
Việc ứng dụng và phát triển CNPM có ý nghóa rất quyết đònh đối với việc thúc
đẩy phát triển nhanh các lónh vực đa dạng và phong phú của đời sống, nhất là
nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế. Đây là một trong những
giải pháp hàng đầu để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo
mô hình “rút ngắn”, giúp cho các đòa phương, quốc gia đi sau, kém phát triển, ở
xa trung tâm... có thể khắc phục tốt nguy cơ lạc hậu so với các đòa phương, các
nước đang phát triển.
Giờ đây, chúng ta không thể phủ nhận được vai trò quan trọng vô cùng lớn của
công nghiệp phần mềm đối với sự phát triển của một đòa phương. Song phát
12 13
triển ngành CNPM như thế nào để phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của mỗi
đòa phương, để khai thác hết mọi tiềm năng đồng thời có được sự phát triển đồng
bộ với các ngành kinh tế khác, nhằm đạt đến sự cộng hưởng về lợi ích trên mọi
lónh vực đời sốâng kinh tế xã hội của đòa phương.
Các nghiên cứu thực tiễn cho thấy rằng chiến lược cho phép một đòa phương
năng động hơn với môi trường hoạt động, với những sự kiện trong việc đònh hình
tương lai. Nó cho phép đòa phương dự báo trước, sáng tạo ra và tạo ảnh hưởng
(hơn là chỉ phản ứng) với môi trường và do đó kiểm soát được số phận của chính
mình, thậm chí còn làm biến đổi và kích thích nhu cầu mang lại lợi ích thiết thực
cho mình.
1.3 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHẦN MỀM TRÊN THẾ GIỚI
VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỰC CHÂU Á
[11,7]
1.3.1 Tình hình chung
thường thấp hơn rất nhiều. Trong tổng số doanh thu của phần mềm đóng gói,
phần mềm ứng dụng luôn chiếm phần lớn nhất (khoảng gần 1/2), phần mềm hệ
thống luôn chiếm khoảng 1/3 và phần mềm phát triển chiếm phần còn lại (gần
1/4).
Về nguồn nhân lực CNPM: Cùng với sự phát triển nhanh chóng của CNPM thế
giới, nhân công trong lónh vực này tăng mạnh hàng năm, đến năm 2001 trên toàn
thế giới ước tính có khoảng 2,6 triệu nhân lực phần mềm. Hầu hết tất cả các
nước có nền CNPM phát triển đều phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt nhân lực
và phải nhập khẩu lao động phần mềm từ các nước đang phát triển.
Về sự phân bố các doanh nghiệp phần mềm: các tập đoàn phần mềm lớn
thường có quốc tòch thuộc các nước OECD, song hiện nay xu hướng này đang
giảm dần do sự nổi lên của một vài quốc gia khác như Trung Quốc và Ấn Độ,...
tuy thế và lực các nước này chưa thể sánh bằng. Theo nguồn từ Bộ Bưu chính
Viễn thông Việt nam, năm 2002 với 300 doanh nghiệp, CNPM Israel đạt doanh
thu 4,2 tỷ USD; còn với 4.700 doanh nghiệp, CNPM Trung Quốc chỉ đạt doanh
thu 13,3 tỷ USD. Chỉ riêng công ty Microsoft của Mỹ đã có doanh thu phần mềm
25,9 tỷ USD, gần gấp đôi của cả ngành CNPM Trung Quốc.
1.3.2 Một số kinh nghiệm phát triển ngành công nghiệp phần mềm của
một số nước trên thế giới và trong khu vực Châu Á thời gian qua
Công nghiệp phần mềm là một ngành công nghiệp có nhiều tiềm năng, triển
vọng thành công lớn, và theo nguồn từ Bộ Bưu chính viễn thông Việt Nam,
nhiều quốc gia đã thành công với chiến lược, chính sách phát triển công nghiệp
phần mềm như: Mỹ, Nhật, Tây Âu, Ấn Độ và Trung Quốc.
14 15
15 16
- Phần mềm theo đặt hàng chiếm thò phần rất lớn vì yêu cầu phải mang tính
thích hợp cao với mô hình kinh tế sẵn có của nước Nhật.
- Thò trường phần mềm Nhật Bản là rất lớn và các công ty Nhật đang phải
đối mặt với tình trạng thiếu nhân lực trầm trọng, và ngày càng nhiều doanh
nghiệp Nhật bản áp dụng chiến lược thuê gia công để cắt giảm chi phí.
Song ngôn ngữ và văn hoá là rào cản lớn nhất cho các nước gia công khi
muốn thâm nhập thò trường Nhật Bản. Hiện nay, vì các công ty Ấn Độ và
Trung Quốc đang ngày càng lớn mạnh và trở thành đối thủ cạnh tranh trực
tiếp với mình, nên các công ty Nhật Bản đang tìm cách chuyển hướng sang
làm ăn với các nước khác trong khu vực như Việt Nam, Thái Lan, Philippin,
Myanmar...
1.3.2.3 Các nước Tây Âu
Tây Âu với 17 nước có giá trò tiêu thụ phần mềm chiếm khoảng 24% tổng tiêu
thụ toàn cầu, trong đó phần mềm đóng gói trên 1/3 và các dòch vụ phần mềm
chiếm khoảng 2/3. Các nước Tây Âu (trừ Ailen, Phần Lan, Thụy Điển) đều có
nhập khẩu phần mềm cao hơn xuất khẩu, trong đó phần mềm đóng gói nhập chủ
yếu từ Ireland, Mỹ, và Israel, một ít từ Pakistan, Bangladesh, Srilanca và
Philippin còn dòch vụ phần mềm chủ yếu đến từ Ấn Độ. Các thò trường tiêu thụ
phần mềm lớn nhất Tây u và xếp hạng trên thế gi
ới sau Mỹ, Nhật bản lần lượt
là Đức, Anh, Pháp, Italia. Các công ty phần mềm ở các nước đang phát triển khó
thâm nhập được vào thò trường Pháp và Ý do cả hai vấn đề ngôn ngữ và văn hóa
(ngay ở Italia cũng đã có sự khác nhau lớn giữa miền Bắc và miền Nam về kinh
tế cũng như văn hóa).
Ngành CNPM của Trung Quốc chưa đạt được sự thành công rực rỡ như Ấn Độ,
tuy nhiên trong mấy năm gần đây CNPM của Trung Quốc đang vươn lên mạnh
mẽ và trở thành một đối thủ nặng ký đối với ngành phần mềm Ấn Độ. Doanh
thu của ngành phần mềm tỷ lệ tăng trưởng trung bình ngành hàng năm là 36,1%
trong giai đoạn 1992-2002 (gấp 4 lần so với tỷ lệ tăng trưởng GDP cùng kỳ).
Đặc điểm:
- Trước năm 2000, Trung Quốc nghiêng mạnh về phía phần mềm đóng gói
để phục vụ nhu cầu trong nước, song trong mấy năm gần đây có sự chuyển
dòch mạnh mẽ sang hướng các dòch vụ để tăng cường xuất khẩu.
-
Thành công trong việc thu hút các tập đoàn đa quốc gia và các công ty
nước ngoài lớn về CNTT đầu tư lập các trung tâm nghiên cứu phát triển
phần mềm cũng như các nhà máy sản xuất thiết bò công nghệ cao.
- Thò trường phần mềm nội đòa lớn và tăng nhanh, giá nhân công phần mềm
thấp, khả năng tin học, tư duy toán của người Trung Quốc khá tốt cũng như
nhờ sự quan tâm, ưu tiên hỗ trợ phát triển của Chính phủ.
17 18
- Tuy nhiên CNPM Trung Quốc cũng phải đối mặt với những khó khăn do sự
cạnh tranh gay gắt trên thò trường, sự tín nhiệm của quốc tế thấp với phần
mềm Trung Quốc, nạn sao chụp phần mềm bất hợp pháp cao, cơ sở hạ tầng
viễn thông còn hạn chế, tài chính nghèo, trình độ tiếng Anh thấp v.v.
1.3.2.6 Một vài nhận xét
Ngành CNPM nói riêng và CNTT nói chung là ngành kinh tế rất quan trọng
2.1
TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỰ PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP
PHẦN MỀM ĐỐI VỚI NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Thực ra, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, từ những năm 70, công
nghệ thông tin nước ta đã được ứng dụng và phát triển theo chủ trương của Đảng
và Nhà nước, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Bước sang thời kỳ đổi mới, chủ trương ấy đã được nhấn mạnh và cụ thể hóa
trong nhiều Nghò quyết của Đảng và Chính phủ như “Tập trung sức phát triển
một số ngành khoa học công nghệ mũi nhọn như điện tử, tin học...”.
[6]
, hay được
xác đònh “Ưu tiên ứng dụng và phát triển công nghệ tiên tiến, như công nghệ
thông tin phục vụ yêu cầu điện tử hóa và tin học hóa nền kinh tế quốc dân”.
[7].
Giờ đây, đất nước chúng ta đang đứng trước thách thức của yêu cầu cạnh tranh
và hội nhập kinh tế quốc tế, trong bối cảnh toàn cầu hóa, trước những cột mốc
khắc nghiệt của việc thực thi AFTA, thực thi Hiệp đònh Thương mại song phương
Việt – Mỹ, và xác đònh lộ trình gia nhập WTO. Trong khi đo,ù thế giới đang
chuyển từ xã hội công nghệ sang xã hội thông tin. Chính công nghệ thông tin
truyền thông nói chung và công nghệ phần mềm nói riêng là một trong những
yếu tố tác động mạnh mẽ, là động lực phát triển trong mọi lónh vực chính trò,
kinh tế- xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng. Chính những thành tựu trong lónh
vực này góp phần làm tăng vọt năng lực sản xuất và các luồng thông tin, kích
thích cạnh tranh, thu hẹp khoảng cách không gian và thời gian. Sự tiến bộ vượt
bực và sự hội tụ của các ngành công nghệ tính toán, viễn thông, số thức và
internet mặt khác lại tạo cho sản xuất phần mềm và dòch vụ phần mềm thêm cơ
hội để hoạt động và phát triển. Nó đã tạo ra khả năng và phương thức tiếp cận
mới cho phát triển quốc gia, đặc biệt tạo ra cơ hội giúp cho các nước đang phát
triển như nước ta vượt qua rào cản lạc hậu, thực hiện những mục tiêu chiến lược
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa, theo đó đến năm 2010 công
nghệ thông tin Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Để thực hiện mục
tiêu đó, Bộ Chính trò đã đưa ra một số chủ trương, trong đó phải “Phát triển công
nghệ thông tin thành một ngành kinh tế quan trọng, đặc biệt là phát triển công
nghiệp phần mềm”.
Thực hiện Nghò quyết 07 của Chính phủ và chỉ thò 58 của Bộ Chính trò, ngày
20/11/2000 Thủ Tướng đã ký Quyết đònh số 128/2000/QĐ-TTg ban hành nhiều
chính sách ưu đãi và biện pháp khuyến khích đầu tư phát triển Công nghiệp
phần mềm, theo đó các doanh nghiệp phần mềm đã nhận được nhiều ưu đãi, đặc
biệt là các chính sách thuế.
20 21
Năm 2004, Chính phủ cũng thể hiện việc đặc biệt khuyến khích đầu tư vào
CNPM bằng các chính sách thuế ưu đãi ở mức cao nhất. Theo tinh thần Nghò
đònh số và Nghò đònh số 164/2003/NĐ-CP (22/12/2003) và 152/2004/NĐ-CP
(06/08/2004) về thuế thu nhập doanh nghiệp, Bộ Tài chính ban hành Thông tư
123/2004/TT-BTC (22/12/2004) hướng dẫn thực hiện ưu đãi về thuế đối với
doanh nghiệp sản xuất và làm dòch vụ phần mềm. Những ưu đãi này tập trung
vào thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trò gia tăng, thuế xuất nhập khẩu, và
thuế thu nhập cá nhân. Các doanh nghiệp phần mềm mới thành lập được miễn
thuế trong vòng 4 năm kể từ khi có thu nhập chòu thuế và giảm 50% số thuế phải
nộp trong 9 năm tiếp theo, hoặc được hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh
nghiệp ưu đãi là 10% trong vòng 15 năm kể từ khi bắt đầu kinh doanh.
Toàn cảnh CNTT Việt Nam. Ngoài ra, trong chương trình hợp tác EU-Việt
Nam, UBND TP.Hồ Chí Minh đã cho phép Hội Tin học TP.Hồ Chí Minh
hợp tác với Công viên Phần mềm Quang Trung thành lập Công viên Ươm
tạo Doanh nghiệp Phần mềm....
Năm năm qua Chính quyền thành phố đã chỉ đạo, đầu tư để nâng cấp khả
năng đào tạo về công nghệ thông tin của thành phố (Trung tâm đào tạo
thiết kế điện tử Cadence, đầu tư 500.000 USD; Trung tâm đào tạo Java,
Trung tâm học tập Nhật Bản), xúc tiến đầu tư nước ngoài về công nghệ
thông tin-truyền thông vào thành phố, triển khai chương trình Chính phủ
điện tử (City Web), thúc đẩy phát triển thò trường (chợ phần mềm), xây
dựng Công viên phần mềm Quang Trung thành khu phần mềm tập trung
hiện đại, lớn nhất nước.
Đã thành lập Sở Bưu chính, Viễn thông (tháng 11/2004).
Đẩy mạnh tuyên truyền, cổ vũ cho sự phát triển CNTT-TT qua các hình
thức như xuất bản ấn phẩm báo chí: Tạp chí Thế giới Vi tính Việt Nam (PC
World Viet Nam); Thời báo Vi tính Sài gòn, phát hành Niên giám công
nghệ thông tin Việt Nam hàng năm, ...• Các tờ báo lớn của thành phố đều
có các trang chuyên về công nghệ thông tin-truyền thông hàng tuần.
Hàng năm Hội Tin học thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí PC World Việt
Nam tổ chức các giải thưởng cho các sản phẩm công nghệ thông tin xuất
sắc. Các Công ty như Công ty Phát triển Công viên phần mềm Quang
Trung, Trung tâm CNPM Sài Gòn (SSP), FPT TP.HCM … đã nhận được giải
thưởng Sao Khuê năm 2004 của Bộ Bưu chính Viễn thông và Hiệp hội
phần mềm Việt Nam...
2.2.1.3 Các yếu tố xã hội liên quan phát triển ngành công nghiệp phần mềm
Về mặt dân cư, Việt Nam và TP.Hồ Chí Minh nói riêng được thế giới đánh giá
có lớp dân cư trẻ, rất nhiệt tình, chủ động tiếp cận với cái mới, năng động trong
Vấn đề độc quyền viễn thông đã từng bước được xoá bỏ. Hiện tại cả nước có 06
đơn vò cung cấp hệ thống đường trục kết nối trong nước và quốc tế (IXP) (bao
gồm VNPT, FPT, Vietel, ETC, SPT, và Hanoi Telecom); 13 nhà cung cấp dòch
vụ internet (ISP) trong đó VDC, FPT, SPT, Netnam, Vietel, One Connection,
Hanoi Telecom đã chính thức hoạt động; và 03 nhà cung cấp điện thoại đường
dài trong nước, quốc tế (VNPT, Vietel, ETC).
Xét về lónh vực viễn thông, internet theo các đòa phương, thành phố Hồ Chí
Minh đến nay vẫn là thò trường trọng điểm. Năm 2005, thành phố có 3 nhà cung
23 24
cấp dòch vụ viễn thông (VNPT, SPT, Viettel). Số thuê bao Internet tăng từ
20.000 năm 2000 lên khoảng 840.000 năm 2005 (tăng 42 lần), đạt tỷ lệ sử dụng
ở mức 13% dân số, xấp xỉ mức bình quân toàn thế giới (13,9%), cao hơn mức
bình quân Châu Á (8,4%). Thành phố Hồ Chí Minh hiện có hơn 40.000 thuê bao
ADSL, với 48,56% tổng thuê bao internet trong cả nước, chiếm tỷ lệ phân bổ
thuê bao theo đầu người thuộc loại cao nhất cả nước (1/7). Dung lượng kết nối
Internet đạt 2,3 GBps. Tất cả các Trường Đại học, Cao đẳng, tất cả các trường
trung học phổ thông đã kết nối Internet. Tất cả các báo lớn đều có phiên bản
báo điện tử. Trung tâm Đào tạo từ xa đang được xây dựng với tài trợ của Ngân
hàng Thế giới...
Tuy nhiên, hạ tầng Viễn thông, Internet ở TP.Hồ Chí Minh vẫn còn một số tồn
tại sau:
Tình trạng độc quyền viễn thông, internet vẫn còn. Giá cả vẫn còn cao so
1. Về chính trò: rất ổn đònh (+)
2. Các điều kiện về thương mại:
Việc phê chuẩn hiệp đònh
thương mại BTA với Mỹ và
chuẩn bò gia nhập WTO đặt đất
nước vào tình thế thuận lợi hơn
với các khách hàng (+)
3. Chính sách thuế: Rất ưu đãi
cho các doanh nghiệp phần
mềm (+)
4. Chính sách tiền lương: mức
lương tối thiểu thấp hơn nhiều
so với tiêu chuẩn của ngành (+)
5. Về chính sách cho ngành:
ngành được hổ trợ, ưu đãi (+)
6. Chính sách lao động: Tuần làm
việc: theo chuẩn quốc tế , lợi
ích của người lao động thì tuỳ
thuộc thỏa thuận hai bên, song
luật pháp có xu hướng bảo vệ
người lao động (bt).
7. Các bộ luật đang dần hoàn
thiện theo xu thế hội nhập,
khung pháp lý cho hiệu lực của
hợp đồng, giao dòch kinh tế
đang phát triển (bt)
8. Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ:
thuộc loại kém nhất trên toàn
2 – Economic – Kinh tế