PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẬN THANH XUÂN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÍCH CỰC HÓA ĐỂ GIÚP
HỌC SINH HỌC TỐT MÔN HỌC VẦN LỚP 1
MÔN: TIẾNG VIỆT
Năm học 2014 - 2015
Mã SKKN
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Như chúng ta đã biết giáo dục giữ một vai trò quan trọng trong việc phát
huy tiềm năng của con người: Vì sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, vì
mục tiêu không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục, nâng cao cuộc sống của cá
nhân, gia đình cộng đồng và xã hội.
Trong tài liệu BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN, giáo sư Nguyễn Hữu
Dũng đã viết: “Cuộc sống trong những thập kỉ mới chứa đựng đầy thử thách,
vừa kèm theo những cơ hội hiếm có. Những thế hệ sắp tới cần được giáo dục
tốt để có thể đương đầu với những thử thách mới, vừa sử dụng được những
thuận lợi và cơ hội mới.” Muốn vậy ngay từ bậc Tiểu học, đặc biệt là học sinh
lớp 1, giáo viên phải hình thành cho các em khả năng nhận biết và những quy
tắc để các em vận dụng những tư tưởng, tri thức một cách thường xuyên. Với
quan điểm như vậy, những người làm công tác giáo dục đều đang cố gắng đổi
mới phương pháp dạy học trong tất cả các nhà trường nói chung và bậc tiểu học
nói riêng. Hòa nhịp với sự đổi mới đó bản thân tôi cũng thấy trăn trở trước
những khó khăn trong quá trình giảng dạy hiện tại. Khó khăn đó là dạy cho học
sinh lớp 1 nắm vững cách đọc và viết Tiếng Việt để học sinh đọc thông viết
thạo, đặc biệt nắm chắc qui tắc chính tả trong hệ thống chữ tiếng Việt.
Học vần là một trong các phân môn của bộ môn Tiếng Việt, được kéo dài
2/3 chương trình Tiếng Việt lớp 1. Học vần chiếm một vị trí vô cùng quan trọng
trong quá trình học tập của học sinh. Học vần là điểm tựa vững chắc cho các em
lĩnh một công cụ mới để sử dụng cho việc học tập và giao tiếp. Chữ viết là tầm
quan trọng của học vần, nó chịu sự quy định trong hệ thống ngôn ngữ. Nếu chữ
viết được coi là ưu thế nhất trong giao tiếp bằng văn bản thì học vần có một vị
trí quan trọng không thể thiếu được trong chương trình môn Tiếng Việt ở bậc
Tiểu học. Học vần có nhiệm vụ lớn lao là trao cho các em chiếc chìa khóa để các
em học tốt và vận dụng chữ viết vào học tập. khi học sinh đã biết đọc, biết viết
các em có điều kiện nghe giáo viên trên lớp, sử dụng sách giáo khoa, sách tham
khảo, làm bài tập thực hành,… từ đó các em có điều kiện học tốt các môn học
khác trong chương trình. Ngoài ra, thông qua việc dạy chữ, dạy âm, dạy vần,
dạy tiếng, dạy từ, dạy câu, học vần còn giúp các em phát triển vốn từ tạo cho các
em ham thích thơ văn. Đây là điều kiện để cho các em học tốt hơn môn Tiếng
Việt ở các lớp trên.
3
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để đạt được những mục đích và nhiệm vụ trên đây, tôi đã đề ra những
phương pháp nghiên cứu sau:
1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Tìm hiểu nội dung chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1
- Đọc, nghiên cứu sách giáo viên và các tài liệu tham khảo
2. Phương pháp điều tra, quan sát, tổng kết, rút kinh nghiệm
trong quá trình dạy học
3. Phương pháp thực nghiệm dạy học
4
NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI
ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
A. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TẾ
I. Cơ sở tâm lý học
1. Tâm lý học sinh
Đi học lớp 1 là một bước ngoặt quan trọng trong đời sống của trẻ. Từ đây
hoạt động chủ đạo của trẻ, hoạt động vui chơi, ở giai đoạn mẫu giáo đã chuyển
hợp ở trẻ khá hoàn chỉnh, từ đó cho phép các em có khả năng tập tách từ thành
tiếng, thành âm và chữ.
Tuy nhiên, trong cảm nhận sự vật không riêng gì trẻ em mà con người nói
chung, lúc đầu sẽ tri giác, nhận biết sự vật trên những nét tổng thể, khái quát sau
đó đi vào chi tiết tách bạch: “Những hình ảnh trọn vẹn này được xác định trên
cơ sở khái quát những hiểu biết về tính chất và đặc trưng riêng biệt của đối
tượng đã tiếp nhận cảm giác khác nhau”.
Trong giáo trình tâm lý đại cương, A.V.Peetrovxkiy cho biết: “Ở tuổi tiền
mẫu giáo, tư duy về cơ bản mang tính trực quan hành động. Đứa bé phân tích và
tổng hợp những đối tượng cần nhận thức trong quá trình nó dùng tay tách ra,
chia cắt rồi ghép lại những sự vật khác nhau mà nó tri giác được trong lúc đó.
Trẻ em ham hiểu biết thường phá vỡ đồ chơi của mình xem trong đó có gì không
và tư duy trực quan hành động ở dạng đơn giản nhất đã nảy sinh chủ yếu ở lứa
tuổi 4 – 7 tuổi. Trong quá trình phân tích và tổng hợp đối tượng cần nhận thức
không phải bao giờ cũng phải sờ đến vật nó quan tâm…nhưng trong mọi trường
hợp đều cần phải xem xét và hình dung một cách trực quan đối tượng đó.
Nghiên cứu việc vận dụng phương pháp âm thanh phân tích tổng hợp trong dạy
vần ở các trường Xô Viết, L’vov cho biết: “Những khảo cứu chuyên biệt và
khảo nghiệm đã chỉ rõ trẻ em vào lớp 1 đã sẵn sàng trí giác các ngữ âm tách biệt,
đã sẵn sàng thể hiện các hoạt động tư duy phân tích và tổng hợp”
Như vậy ở lứa tuổi lớp 1 tư duy phân tích tổng hợp tuy còn mang tính sơ đẳng
cả nội dung và hình thức nhưng đã có ở mức độ cao thấp khác nhau.
4.Năng lực vận động của trẻ ở lứa tuổi lớp 1
Ở lứa tuổi 6 -7 năng lực vận động của trẻ cũng đạt được những bước phát
triển đáng kể. Các em có thể chủ động điều khiển các hoạt động của cơ thể như
tay, mắt, đầu, cổ, có thể phối hợp nhiều động tác khác nhau. Đây cũng là điều
kiện cần thiết để các em có điều kiện học viết, một hoạt động đòi hỏi phải chủ
động trong các hoạt động của cánh tay, ngón tay, bàn tay trong sự phối hợp với
mắt nhìn, tai nghe, tay viết.
Ở thời kì này, ý thức về cấu trúc không gian của trẻ cũng đã hình thành, Sự
phần các âm tiết độc lập mang nghĩa. Vì thế trong chuỗi lời nói, ranh giới giữa
các âm tiết được thể hiện rõ ràng, các âm tiết không bị nối dính vào nhau như
trong các ngôn ngữ biến hình. Đây là điều kiện thuận lợi cho quá trình dạy âm –
dạy chữ.
Về cấu tạo tiếng Việt là một tổ hợp âm thanh có tổ chức chặt chẽ. Các yếu tố
âm tiết kết hợp với nhau theo từng mức độ lỏng, chặt khác nhau. Phụ âm đầu,
vần và thanh kết hợp lỏng, còn các yếu tố của vần kết hợp với nhau khá chặt
chẽ. Vần có vai trò quan trọng trong tiếng Việt. Âm tiết có thể không có phụ âm
đầu nhưng không thể thiếu phần vần. Người Việt ưa thích nói vần và nhạy cảm
với vần. Điều này thể hiện rõ trong vần thơ và cách nói lái của người Việt.
Cách miêu tả âm tiết như một cấu trúc hai bậc là cách miêu tả phù hợp với
cảm thức tự nhiên của người bản ngữ. Cách đánh vần theo kiểu: lập vần (a + mờ
- am) ghép vần với phụ âm đầu và thanh điệu (lờ + am – lam – huyền – làm) là
7
phù hợp với cách miêu tả nói trên. Việc phân âm tiết ra thành các bộ phận: âm
đầu, vần, thanh điệu, do vậy cũng là điều dĩ nhiên. Có thể nói thái độ này của
người bản ngữ là một xác nhận chắc chắn việc miêu tả âm tiết của các nhà khoa
học. Nói lái không phải lối nói “lóng” của một số người mà là một trò chơi vì nó
phổ biến và quen được đối với trẻ em từ tuổi mẫu giáo. Một người nước ngoài
dù thạo tiếng Việt, gặp phải trường hợp nói lái sẽ lúng túng và không thể khôi
phục được từ mà người nói thông báo. Trái lại, một em bé bình thường ở lứa
tuổi lớp 1 cũng nắm được điều này một cách tự nhiên.
Rõ ràng với người Việt, ấn tượng về vần rất đậm nét. Điều này cũng lí giải vì
sao các sách dạy tiếng Việt đầu tiên cho trẻ em đều được gọi là sách học vần.
2. Cơ sở của việc đọc, viết
Trong giao tiếp bằng ngôn từ người ta nảy sinh ra một ý, lời dùng ngôn ngữ
để lồng ý đó và phát triển thành lời. Khi tiếp nhận lời nói, người nghe lại rút ở
trong từ, trong câu nghe được các ý của người nói để biết người ta muốn nói gì.
Để chuyển ý thành lời người ta phải sử dụng một mã chung của xã hội gọi là
ngôn ngữ (bao gồm các từ và những quy tắc ghép từ thành câu) lựa chọn sắp xếp
bộ. Nguyên tắc cơ bản của kiểu chữ này là nguyên tắc ngữ âm học. Về cơ bản,
nguyên tắc đảm bảo sự tương ứng một – một giữa âm và chữ, tức là mỗi âm chỉ
ghi bằng một chữ, mỗi chữ chỉ có một cách phát âm mà thôi. Ngoài ra về mặt
chữ viết, các âm tiếng Việt đều viết rời, có cấu tạo đơn giản nên việc đánh vần
không phức tạp lắm.
Dạy học vần, dạy viết (nhất là những tiết đầu) có một số khó khăn nhất định
do nguyên nhân sau:
Cấu tạo của hệ thống chữ viết tiếng Việt còn tồn tại một số bất hợp lí như
một âm ghi bằng nhiều con chữ (âm /k/ ghi bằng ba con chữ c, k, q…). Tình
hình đó lúc đầu dễ làm cho các em lẫn lộn khi đọc, khi viết, ví dụ: kẻ đọc thành
cẻ, quả viết thành của
III. Cơ sở thực tế
Trong quá trình giảng dạy nhiều năm và trong thực tế cuộc sống hằng ngày,
tôi thấy việc nhận diện âm và vần rất quan trọng. Nó giúp cho các em có điều
kiện để học tập tốt các môn học khác, đặc biệt viết đúng chính tả giúp các em
hình thành các văn bản khác trong học tập và cuộc sống. Tuy vậy thực tế cho
thấy khi các em lên lớp 2, 3, 4, 5 vẫn còn một số em đọc còn yếu và viết sai lỗi
chính tả do không nắm chắc quy tắc chính tả.
Một điều đáng nói là hiện nay các bài học vần trong sách giáo khoa Tiếng
Việt 1 được sắp xếp chưa thật hợp lý. Một số âm có cách đọc giống nhau nhưng
cách viết khác nhau thì lại sắp xếp xa nhau quá làm học sinh dễ nhầm lẫn.
Ví dụ: Bài 12: i – a
Bài 26: y – tr
Cùng một cách đọc là i nhưng khác nhau về viết và phân biệt mà để xa bài
quá khiến học sinh nhầm lẫn.
Còn ở phần vần một điều mà giáo viên chúng tôi thấy trăn trở là: nhiều vần
đọc quá khó cho lên trước các vần dễ đọc dễ nhận biết nên khi dạy học sinh
nhận biết các vần này chậm hơn, bỡ ngỡ hơn về cách đọc, cách viết vì thế mà
học sinh hay đọc sai, viết sai.
9
dạy hay và dễ hiểu được.
Nhưng chúng ta sử dụng đồ dùng dạy học như thế nào để có hiệu quả cao?
Đó chính là vấn đề mà tôi luôn suy nghĩ và tìm ra giải đáp. Từ thực tế giảng dạy
tôi đã rút ra những đồ dùng giảng dạy cần thiết trong môn học đó là:
- Máy tính, máy chiếu, máy đa vật thể
- Sưu tầm, lập kho học liệu để phục vụ cho việc giảng dạy
- Tranh minh họa hay vật thật
- Bộ chữ học vần thực hành dùng cho giáo viên và bộ chữ thực hành dùng
cho học sinh
- Bảng từ để gắn nam châm, tấm viết,…
- Phiếu học tập
Thông thường tranh minh họa, vật thật hay clip quay thực tế tôi dùng để giới
thiệu bài mới, giảng từ và câu ứng dụng hay dạy cho học sinh phần luyện nói, từ
phần luyện nói giúp học sinh phát triển ngôn ngữ, các diễn đạt qua từng chủ đề,
từng văn cảnh.
VD: Dùng tranh minh họa để giới thiệu bài khi dạy bài 22
11
Tôi đã cho các em quan sát tranh phố xá Hà Nội để từ đó giới thiệu từ “phố
xá” đồng thời giảng cho các em hiểu về phố xá ở Hà Nội. Việc quan sát tranh
giúp các em hiểu về đối tượng, nội dung mà từ nói đến.
Tranh minh họa và clip quay thực tế tôi còn sử dụng trong phần luyện nói.
VD: Khi dạy bài 17: u – ư
Chủ đề luyện nói là: Thủ đô
Giáo viên cho học sinh xem tranh, hoặc clip về Chùa Một Cột, cột cờ Hà
Nội, Tháp Rùa, Văn Miếu Quốc Tử Giám để từ đó học sinh biết Thủ đô Hà Nội
có di tích lịch sử đó là Chùa Một Cột và từ đó các em phát triển ra các di tích
lịch sử ở Hà Nội cũng như các phong cảnh ở Hà Nội. Từ đó giúp các em hiểu
biết hơn về thủ đô Hà Nội, biết giới thiệu về thủ đô của nước Việt Nam.
Hay cho học sinh xem clip hình ảnh con chim vành khuyên để nhớ từ khóa
“chim khuyên”
VD:
Khi dạy bài 40: iu – êu
Phiếu bài tập
Nối tiếng tạo từ (cụm từ)
Hoặc nhìn hình đoán chữ khi dạy củng cố bài dạy vần uông, ương
Mẹ nhỏ xíu
Đồ chơi
rêu
Bể đầy
địu bé
con đường luống cày
ruộng bậc thang
13
4. Quan tâm rèn cả 4 kĩ năng Nghe – Nói – Đọc – Viết
Ở mỗi giờ Học vần, tôi thường chủ động phát triển cho học sinh cả 4 kĩ năng:
nghe – nói – đọc – viết dưới nhiều hình thức và với các biện pháp khác nhau.
Trong giờ kiểm tra bài cũ, học sinh được nghe cô đọc một âm, hoặc vần,
tiếng, từ rồi viết lại ra bảng. Để phát âm đúng, học sinh cũng phải nghe cô phát
âm (đọc) mẫu.
Hay tại phần luyện nói, học sinh cũng phát huy khả năng được nói lên từ,
câu mà mình nhận thức được qua hình vẽ, qua tranh trong bài học
Học sinh được đọc âm, vần tiếng, từ trong bài Học vần. Đọc cho bạn nghe,
đọc cho cô giáo nghe,…
Vì kết hợp cả 4 kĩ năng trong giờ Học vần nên đã giúp học sinh học tốt hơn,
không nhầm lẫn ngay từ những âm đầu tiên trong chương trình học Tiếng Việt.
5. Kiểm tra thường xuyên để nắm lỗi chính tả phổ biến của học sinh
Khi học bài 21: Ôn tập, tôi đã kiểm tra việc phân biệt x – s cho học sinh bằng
bài tập:
Điền s hay x:
trong vào việc dạy chinh tả, tập làm văn và các môn học khác ở lớp trên. Để
giúp học sinh nắm chắc “luật chính tả” tôi đã dạy cho học inh thông qua các bài
dạy và trình tự sau:
1. Biện pháp nghiên cứu quy tắc chính tả để phù hợp với học sinh
lớp 1:
Qua nghiên cứu trên thực tế giảng dạy ở lớp 1 đã nhiều năm, tôi nhận thấy
học sinh lớp 1 hay nhầm lẫn một số qui tắc sau:
a. Qui tắc c/k/qu:
Như đã biết, phụ âm đầu “cờ” trong tiếng Việt được ghi bằng ba chữ cái:
* Ghi bằng ‘c’ khi đứng trước nguyên âm hàng sau, như o, ô, ơ, a, ă, â, u, ư,
uô, ươ, (ví dụ: cao cả, căn cứ,…)
* Ghi bằng ‘k’ khi đứng trước nguyên âm hàng trước, như: i, ê, e, iê, ia (kì
kèo, keo kiệt, kiểm kê,…)
* Ghi bằng ‘q’ khi đứng trước âm đệm “u” như quà quê, quanh quẩn, quả
quyết,…
Sách giáo khoa Tiếng Việt 1 chủ trương dạy tổ hợp âm ‘quờ’ như một phụ
âm đầu trong tiếng Việt.
b. Qui tắc lược bớt một chữ cái ‘u’, hay ‘i’ khi viết:
Với một số tiếng có ‘quờ’, cách đánh vần và cách viết chính tả có sự khác
nhau. Ví dụ:
- Đánh vần:
a) + quan →quờ - an – quan
+ quanh → quờ - anh – quanh
+ qua → quờ - a – qua
+ quân → quờ - ân – quân
b) + quốc → quờ - uôc – quốc – sắc - quốc
+ quyển → quờ - uyên – quyên – hỏi – quyển
+ quỳnh → quờ - uynh – quynh – huyền – quỳnh
15
- Viết chính tả:
Ở lớp 1, để học sinh viết đúng chính tả, học sinh cần vận dụng có ý thức một
số qui tắc làm căn cứ. Cụ thể giáo viên phải biết vận dụng kiến thức về ngữ âm
học tiếng Việt vào việc phân loại lỗi chính tả, phát hiện đặc điểm của từng loại
lỗi; nhất là việc xây dựng các qui tắc chính tả, các mẹo chính tả, giúp học sinh
ghi nhớ cách viết một cách khái quát thông qua các bài Học vần.
16
Khi dạy bài “k” tôi luyện kĩ cho học sinh nắm chắc khi âm “k” làm âm đầu thì
âm chính chỉ là âm i, e, ê
Ví dụ: k – i → ki
k – e → ke
k – ê → kê
Học sinh nắm chắc được và phân biệt được khi nào viết “g” khi nào viết
“gh”. Học sinh qua bài 23: g – gh, nắm chắc “gh” chỉ đi với i, e, ê còn các
nguyên âm khác sẽ là “g”.
Ví dụ: gh – i → ghi
gh – e → ghe
gh – ê → ghê
‘gh’ không kết hợp với a, o, ô, ơ, u, ư
- Tương tự với “ng” thì âm đầu là “ngh” học sinh cũng biết vận dụng và nắm
chắc “ngh” chỉ kết hợp với i, e, ê tạo thành tiếng qua bài Học vần 25: ng – ngh
Ví dụ: ngh – i → nghi
ngh – e → nghe
ngh – ê → nghê
17
C. KẾT QUẢ
Từ thực tế giảng dạy vận dụng linh hoạt đưa qui tắc chính tả vào dạy lồng ghép
trong giờ Học vần, học sinh lớp tôi chủ nhiệm đã nhớ tốt mặt chữ, đọc trơn
thành thạo và viết đúng chính tả.
Khi đã nắm được các qui tắc chính tả, học sinh đã nắm được cách viết đúng các
từ mà không cần phải ghi nhớ máy móc từng trường hợp chính tả riêng biệt. Học
Điểm 7-8
Điểm
dưới 6
56 hs 8 hs 0 64hs 0 0
Tỉ lệ 87,5% 12,5% 0 100% 0 0
Năm học 2013 – 2014
Môn
Tiếng
Việt
Học kì I Học kì II
Điểm 9-10 Điểm 7-8
Điểm
dưới 6
Điểm 9-
10
Điểm 7-8
Điểm
dưới 6
58 hs 6 hs 0 64hs 0 0
Tỉ lệ 91,6% 9,4% 0 100% 0 0
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
18
I. Kết luận
Để học sinh học tốt môn tiếng Việt, điều quan trọng với học sinh lớp 1 là
ngoài việc nắm chắc cách ghi các âm, cách phát âm đúng, chính xác thì việc
nắm chắc luật chính tả, các qui tắc chính tả là điều tối ưu giúp học sinh vận dụng
tốt để khi viết chính tả, tập làm văn và các môn học khác. Đặc biệt là giáo viên
đã dẫn dắt các em tìm hiểu qui tắc chính tả qua từng bài học vần chính là tạo cho
các em tính độc lập suy nghĩ, sáng tạo, tìm tòi.
Khi dạy học vần nếu ta kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa dạy chữ, nhận biết chữ
lớp 1
I. Biện pháp giúp học sinh phát triển tư duy – học tốt môn Học vần
lớp 1
1. Sử dụng đồ dùng trực quan - Công nghệ thông tin
2. Sử dụng giáo án dạy học có đổi mới phương pháp
3. Sử dụng hình thức dạy học phong phú
4. Quan tâm rèn cả 4 kĩ năng: Nghe – Nói – Đọc – Viết
5. Kiểm tra thường xuyên để nắm lỗi chính tả phổ biến của học sinh
6. Sử dụng biện pháp động viên khuyến khích
II. Biện pháp kết hợp dạy lồng ghép qui tắc chính tả trong giờ Học
vần lớp 1
1. Biện pháp nghiên cứu qui tắc chính tả để phù hợp với học sinh lớp1
2. Biện pháp lựa chọn nội dung cách cung cấp qui tắc chính tả vào bài
dạy Học vần
C. Kết quả
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO