SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị Phòng Giáo dục Tiểu học
Mã số: ................................
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng
sinh hoạt chuyên môn theo mô hình trường học mới trong các trường tiểu
học trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Người thực hiện: Nguyễn Minh Kiếm
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: ........................
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Lĩnh vực khác: Giáo dục
(Ghi rõ tên lĩnh vực)
Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN
Mô hình
Phần mềm
Phim ảnh
Hiện vật khác
Năm học: 2015 - 2016
1
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
+ Một số biện pháp nâng cao chất lượng phong trào Xây dựng trường học Xanh
- Sạch - Đẹp.
+ Đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong quản lí và giảng dạy.
+ Một số biện pháp nâng cao chất lượng chuyên môn giáo dục tiểu học ở cơ sở.
+ Biện pháp nâng cao chất lượng đa dạng hóa các hoạt động giáo dục trong các
trường tiểu học.
2
BM03-TMSKKN
Tên SKKN:
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
SINH HOẠT CHUYÊN MÔN THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI TRONG
CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đối với một trường tiểu học, chất lượng giáo dục có chuyển biến và từng bước
nâng dần chất lượng hay không đó là do công tác quản lí chuyên môn của nhà trường
có đạt hiệu quả hay không? Hoạt động chuyên môn ở trường tiểu học phản ánh chất
lượng của việc trồng người và hiệu quả đào tạo của nhà trường. Chính vì thế mà công
tác chuyên môn trong trường tiểu học giữ một vai trò vô cùng quan trọng. Để chuyên
môn hoạt động có hiệu quả, đồng bộ giữa các đơn vị trường học trên địa bàn các
huyện, thị, thành phố nói riêng hay trong tỉnh Đồng Nai nói chung thì việc đổi mới
nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn từ cơ sở là một việc làm rất cần thiết và
giữ vai trò vô cùng quan trọng.
Nói đến sinh hoạt chuyên môn, tức là nói đến sinh hoạt chuyên môn nhà trường
và sinh hoạt chuyên môn tổ khối. Thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn làm cho
các cán bộ, giáo viên nắm cụ thể hơn yêu cầu, nhiệm vụ công tác của đơn vị, cá nhân
1. Thuận lợi
- Được sự quan tâm chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Ban quản lí Dự án
trung ương; cấp ủy, chính quyền địa phương tỉnh Đồng Nai.
- Ngành Giáo dục tỉnh Đồng Nai luôn kịp thời quán triệt tinh thần Nghị quyết,
Chỉ thị và nhiệm vụ năm học của các cấp học đến từng phòng giáo dục và Đào tạo các
huyện, thị, thành phố Biên Hòa; đến các đơn vị trường học và đội ngũ CB-GV-CNV
toàn ngành trên cơ sở xây dựng, định hướng phương hướng nhiệm vụ chung của
ngành, tạo cơ sở để các đơn vị căn cứ vào tình hình thực tế đơn vị xây dựng kế hoạch
hoạt động cụ thể cho từng đơn vị, đặc biệt chú trọng những nội dung trọng tâm cho
các đơn vị thực hiện điểm mô hình trường học mới.
- Đội ngũ CB-GV-CNV tương đối ổn định, an tâm công tác. Nhiều CBQL; GV
năng động, sáng tạo, tích cực, nhiệt tình tham gia các hoạt động của nhà trường; nhiệt
huyết với công tác, hết lòng yêu nghề, yêu học sinh.
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học được xây dựng, sửa chữa kịp thời,
từng bước đáp ứng yêu cầu dạy và học.
2. Khó khăn
- Một số CBQL chưa thật nhiệt tình, tâm huyết với công việc, chưa chủ động
trong công tác.
- Một số giáo viên chưa nhìn nhận một cách đúng đắn về vai trò, ích lợi của
việc thực hiện mô hình trường học mới nên chưa tích cực trong các hoạt động; vì thế
mà một số hoạt động giáo dục tổ chức cho học sinh tham gia học tập còn đơn điệu,
cứng nhắc, chưa tạo được hứng thú cho học sinh tích cực tự học và tham gia các hoạt
động. Ngoài ra, còn có tư tưởng xem nhẹ các buổi sinh hoạt chuyên môn, chưa thực
sự tích cực, ít phát biểu trong các buổi sinh hoạt, thường sinh hoạt chuyên môn theo
hướng triển khai một chiều từ trên xuống, trên nói sao dưới làm vậy.
- Việc huy động các nguồn lực trong nhân dân còn hạn chế; công tác xã hội hoá
giáo dục tuy có phát triển hơn so với những năm học trước nhưng chưa đáp ứng đầy
đủ nhu cầu cần thiết cho công tác giáo dục.
4
được những yêu cầu trên thì không thể không kể đến việc giáo viên trao đổi học tập
lẫn nhau thông qua các lần sinh hoạt chuyên môn từ tổ khối đến cấp trường, liên
trường, cụm trường và cấp huyện, tỉnh.
2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
Từ thực tế trên, tôi đã đề ra các biện pháp phát huy những thuận lợi và khắc
phục các khó khăn tồn tại, từng bước nâng cao chất lượng chuyên môn ở cơ sở theo
mô hình trường học mới thông qua các biện pháp cụ thể sau:
a) Chú trọng công tác tổ chức quán triệt và xây dựng kế hoạch thực hiện
các văn bản về đổi mới công tác quản lí, nâng cao chất lượng giáo dục
5
Thực hiện các văn bản hướng dẫn của Bộ GD&ĐT; Ban quản lý dự án Trung
ương, UBND tỉnh Đồng Nai về hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học; hướng dẫn
thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành về đổi mới công tác quản lí, nâng cao
chất lượng dạy - học, đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong dạy học,.... Ngành giáo dục
tỉnh đã xây dựng kế hoạch phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh Đồng Nai để chỉ đạo
các đơn vị tổ chức thực hiện. Từ kế hoạch của ngành giáo dục tỉnh, các đơn vị Phòng
Giáo dục và Đào tạo các huyện, thị, thành phố căn cứ vào tình hình thực tế đơn vị xây
dựng kế hoạch nhiệm vụ năm học của địa phương chỉ đạo các trường học xây dựng kế
hoạch tổ chức thực hiện thật cụ thể, khả thi, phù hợp với tình hình thực tế của từng
đơn vị.
Trong quá trình triển khai các kế hoạch, văn bản hướng dẫn, ngành luôn có sự
theo dõi, nắm bắt các hoạt động của các đơn vị trường học để kịp thời đánh giá, rút
kinh nghiệm quá trình thực hiện ở các đơn vị từ đó có sự chỉ đạo, chấn chỉnh kịp thời
từng đơn vị để từng bước nâng cao chất lượng giáo dục.
Công tác đổi mới quản lí, nâng cao chất lượng giáo dục luôn là nhiệm vụ trọng
tâm của ngành; chính vì thế mà ngoài các văn bản kế hoạch, hướng dẫn nhiệm vụ
trọng tâm định kì, các văn bản hướng dẫn về đổi mới quản lí, nâng cao chất lượng
loại hình sinh hoạt là sinh hoạt cấp Cụm do phòng GDTH chủ trì mỗi năm 4 lần (mỗi
học kỳ 2 lần) và sinh hoạt liên trường gồm các trường gần nhau phối hợp tổ chức với
sự hỗ trợ của phòng GDTH; cụ thể qua các văn bản số 2457/KH-SGDĐT ngày
21/10/2014 và văn bản số 106/KH-SGDĐT ngày 19/01/2015 về việc sinh hoạt chuyên
môn Cụm, các trường tham gia mô hình trường học mới tại Việt Nam.
+ Trên cơ sở thực hiện công văn số 56/GPE-VNEN ngày 08/4/2013 của Ban
Quản lý Dự án trung ương về việc Hướng dẫn thực hiện Kế hoạch kinh phí Dự án
VNEN năm 2013, Sở GD&ĐT chỉ đạo các trường xây dựng kế hoạch sinh hoạt
chuyên môn cấp trường 2 lần/tháng, đồng thời xây dựng kế hoạch sinh hoạt chuyên
môn liên trường với hình thức các trường luân phiên đăng cai tổ chức (từ 2 đến 3
trường) 2 lần /năm, phòng GDTH cử cán bộ tham dự chỉ đạo.
+ Thường xuyên tổ chức các hội thảo, trao đổi để triển khai đồng bộ và hiệu
quả phương pháp dạy, phương pháp học, đánh giá học sinh, tổ chức lớp học nhằm
hình thành và phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh; chỉ đạo cụ thể việc đổi
mới sinh hoạt chuyên môn tại các trường, điều chỉnh tài liệu Hướng dẫn học (theo
hướng dẫn tại Công văn số 86/GPE-VNEN ngày 18/3/2014)
- Hình thức sinh hoạt chuyên môn, tổ khối
+ Sinh hoạt chuyên môn trường, tổ khối định kì theo quy định. Sinh hoạt
chuyên môn là thời gian để tổ khối thảo luận các nội dung sinh hoạt cụ thể, sát thực,
liên quan trực tiếp đến công tác chuyên môn của giáo viên như: đổi mới phương pháp
dạy - học; đổi mới tổ chức lớp học; đổi mới đánh giá học sinh; đổi mới sự thm gia của
cồng đồng, điều chỉnh và phát triển tài liệu; ...Sinh hoạt chuyên môn theo mô hình
VNEN cũng được thực hiện như sinh hoạt chuyên môn hiện hành. Nhưng nội dung
sinh hoạt chuyên môn phải phù hợp với các nội dung của mô hình trường học mới.
Việc tổ chức sinh hoạt chuyên môn ở cấp tổ, cấp trường và cấp cụm theo mô hình
trường học mới phải cụ thể thiết thực, hiệu quả được tổ chức qua các hoạt động cụ
thể, thực tiễn, tránh mang tính chất trình bày, lý thuyết; có thể tập trung vào các vấn
đề chính như: sinh hoạt chuyên môn về nội dung phương pháp dạy học, sinh hoạt
chuyên môn về đổi mới tổ chức lớp học; sinh hoạt chuyên môn về đổi mới đánh giá
học sinh; sinh hoạt chuyên môn về đổi mới sự tham gia của cồng đồng,..Thông
+ Dự giờ: Dự giờ nhằm tổ chức triển khai thảo luận sâu cho giáo viên trong
khối về những kĩ năng sư phạm, chú trọng về vận dụng đổi mới phương pháp dạy học
theo mô hình VNEN qua thể hiện các tiết dạy minh họa để đội ngũ nắm bắt cụ thể
hơn. (Dự giờ vào thời gian trước buổi họp vài ngày hoặc vào thời điểm liền trước buổi
họp, tuy nhiên không nhất thiết các lần sinh hoạt đều dự giờ).
Việc dự giờ phải đáp ứng nhu cầu của giáo viên trong tổ khối; quan tâm lựa
chọn các tiết giáo viên có điều chỉnh (logo hoạt động, nội dung chương trình, hình
thức tổ chức), các tiết có nội dung khó hoặc các tiết khó tổ chức các hình thức dạy
học. Việc trao đổi, chia sẻ và cùng suy ngẫm về tiết dạy sau khi dự giờ giữ vai trò vô
cùng quan trọng trong việc giúp GV thực hiện đổi mới phương pháp, hình thức dạy
học phát huy tính tích cực, chủ động của người học; các hoạt động trao đổi, chia sẻ
chỉ tập trung vào hoạt động học của học sinh để GV nhìn nhận và điều chỉnh quá trình
dạy của mình, không tập trung vào việc đánh giá GV hay đánh giá tiết dạy mà là dịp
để GV trao đổi, chia sẻ những ý tưởng về đổi mới phương pháp, hình thức dạy - học,
8
từ đó có nhiều hình thức tổ chức thực hiện giúp GV vận dụng, học hỏi đồng nghiệp để
nâng cao tay nghề của bản thân, tăng tư vấn, thúc đẩy, giúp đỡ giáo viên tiến bộ hơn.
Trong khi dự giờ, người dự giờ phải luôn quan sát một cách tỉ mỉ thái độ, nét
mặt, hành vi, lời nói, cử chỉ, sự quan tâm của học sinh đối với bài học, mối quan hệ
tương tác giữa các học sinh, việc làm và sản phẩm học tập của học sinh; đồng thời suy
ngẫm về tiết dạy nhằm trả lời các câu hỏi: học sinh có năm được yêu cầu của hoạt
động học tập không? Học sinh có tự học, tích cực tham gia các hoạt động học được
không? Nhóm trưởng điều hành nhóm hoạt động thế nào? Các thành viên trong nhóm
hoạt động ra sao?... là cơ sở cho việc sẽ trao đổi, chia sẻ sau khi dự giờ để giúp GV có
những hình thức, phương pháp dạy học hiệu quả hơn.
+ Đánh giá công tác đã thực hiện: Trong các buổi sinh hoạt, trao đổi thông tin
hai chiều là điều rất cần thiết, nó góp phần quyết định chất lượng của một buổi sinh
hoạt chuyên môn thành công. GV cùng người chủ trì buổi sinh hoạt trao đổi, nhận xét,
hời hợt, thiếu thông tin cập nhật, lúng túng khi hướng dẫn HS và nhất là khi HS hỏi
thêm).
Các nội dung thường được GV đề ra thảo luận, hướng tổ chức: Chưa hiểu hết ý
của tài liệu; điều chỉnh như thế nào cho phù hợp; cần mở rộng, khắc sâu những bài
nào, cách tổ chức HS tham gia học tập với bài khó dạy, cách đánh giá học sinh thế
nào cho hiệu quả; làm thế nào giảm học sinh chưa hoàn thành và phát triển năng
khiếu cho học sinh năng khiếu,….
d) Tổ chức các hoạt động giao lưu công tác quản lí và sinh hoạt chuyên
môn các cấp (cụm tỉnh, cụm huyện, liên trường) để nâng cao chất lượng sinh
hoạt chuyên môn trường, chuyên môn khối
Sinh hoạt chuyên môn là nhu cầu thực sự cần thiết đối với giáo viên; để sinh
hoạt chuyên môn trở nên gọn nhẹ, có trọng tâm thì chuyên môn, tổ khối trưởng phải
phát huy vai trò là người đầu tàu, tập hợp các thành viên trong đơn vị, trong tổ khối
tích cực nghiên cứu, chuẩn bị những vấn đề trọng tâm và cụ thể xoay quanh các công
việc trọng tâm của chuyên môn như: Đổi mới PPDH; thực hiện giảm tải, điều chỉnh
dạy học, việc sử dụng đồ dùng dạy học,…từ đó với sự chủ trì của chuyên môn, tổ
khối các thành viên trao đổi, thảo luận xoay quanh các nhiệm vụ đã được định hướng
để bàn và vạch ra được biệc pháp sẽ thực hiện trong thời gian tới.
Ngoài ra, việc đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở cơ sở còn thể hiện vai trò kiểm
tra tư vấn, thúc đẩy của cấp trên. Chính vì thế mà sinh hoạt chuyên môn nhà trường
không thể không có Hiệu trưởng; sinh hoạt chuyên môn khối không thể không có
CBQL nhà trường. Thông qua việc cùng tham dự các buổi sinh hoạt chuyên môn các
cấp quản lí sẽ cùng suy ngẫm về những khó khăn, vướng mắc của GV, cùng bàn biện
pháp thực hiện khả thi hơn những tồn tại vướng mắc, hoặc những công tác trọng tâm
trong thời gian tới.
Xuất phát từ yêu cầu đó mà trong công tác lãnh đạo tôi đã chỉ đạo các bộ phận
chuyên môn của trường, Phòng GD&ĐT, bố trí sắp xếp lịch công tác, tăng cường
xuống cơ sở để cùng tham gia sinh hoạt hội đồng, sinh hoạt chuyên môn, chuyên đề
cùng cơ sở để cùng tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của cơ sở.
Giao lưu công tác quản lí và chuyên môn các cấp là một việc làm hết sức cần
giỏi được giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm
Ảnh minh họa hoạt động giáo dục trong
hội thi GVDG cấp tỉnh
trong công tác quản lí và thực hiện giảng dạy,…đây cũng chính là dịp để các CBQL,
GV được trau dồi, rèn luyện năng lực và kiến thức, kỹ năng của mình, ngoài ra còn có
tác dụng đẩy mạnh vai trò của công tác thi đua, khen thưởng trong mỗi đơn vị, mà
chúng ta đã biết, thi đua là động lực thúc đẩy sự phát triển.
Nhằm đổi mới công tác quản lý, Sở Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các đơn vị
đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong điều hành và quản lý thông qua hệ
thống các phần mềm. Công tác chỉ đạo giáo viên đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong
soạn giảng cũng được ngành quan tâm đúng mức, nhiều tiết dạy tích cực đổi mới
PPDH, phát huy tính tích cực học tập của HS, giúp HS chủ động trong học tập được
GV tổ chức khéo léo với CNTTđã được diễn ra và đạt nhiều kết quả cao ở mỗi đơn vị
11
trường học. Hiện tại nhiều GV đã thành thạo với việc ứng dụng CNTT trong soạn
giảng góp phần tích cự nâng cao chất lượng giáo dục của huyện nhà.
IV. KẾT QUẢ
Qua thời gian ứng dụng và trải nghiệm đã đem lại cho ngành giáo dục tỉnh
những hiệu quả thiết thực:
- Các cán bộ quản lý tự chủ và năng động hơn trong công tác quản lý, việc thực
hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý được nhẹ nhàng và tinh gọn hơn,
công tác trao đổi thông hai chiều từ Phòng Giáo dục về cơ sở trường học và ngược lại
nhanh hơn, hiệu quả hơn, kinh phí và công sức cho việc chuyển tải và phát hành văn
bản giảm đi rất đáng kể.
- Chất lượng GV giỏi các cấp ngày một tiến triển và càng có chiều sâu; đặc biệt
số lượng và chất lượng GV giỏi huyện tham gia thi cấp tỉnh ngày một tiến triển và
từng bước khẳng định vị thế của huyện nhà.
VI. KẾT LUẬN
Việc nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn theo mô hình trường học mới
trong các trường tiểu học trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hết sức cần thiết, nhằm đáp ứng
nhu cầu đổi mới phương pháp dạy – phương pháp học của học sinh; tạo cơ hội cho GV
học tập nâng cao trình độ, học hỏi nhau; tạo cơ hội cho tất cả HS học và phát triển; xây
dựng mối quan hệ bình đẳng giữa các thành viên trong nhà trường; giúp GV khắc phục
khó khăn; đáp ứng nhu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục theo nghị quyết 29
chuyển từ dạy học theo hướng tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực, chuyển từ
trọng tâm trang bị tri thức sang rèn luyện năng lực vận dụng thực tiễn cho HS, chuyển
từ dạy HS học sang dạy HS cách học, cách giải quyết những vấn đề trong cuộc sống.
VII. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Công văn số 86/GPE-VNEN ngày 18 tháng 3 năm 2014 về việc Hướng dẫn
sinh hoạt chuyên môn ở các trường VNEN.
2. Công văn số 5737/BGDĐT-GDTH ngày 21 tháng 8 năm 2013 về việc
Hướng dẫn thí điểm đánh giá học sinh tiểu học mô hình trường học mới Việt Nam.
3. Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo Ban hành Quy định đánh giá học sinh tiểu học.
NGƯỜI THỰC HIỆN
Nguyễn Minh Kiếm
13
BM04-NXĐGSKKN
SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI
Đơn vị .....................................
Trong Ngành
1. Tính mới (Đánh dấu X vào 1 trong 2 ô dưới đây)
-
Có giải pháp hoàn toàn mới
-
Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có
2. Hiệu quả (Đánh dấu X vào 1 trong 4 ô dưới đây)
-
Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng trong
toàn ngành có hiệu quả cao
-
Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng tại
đơn vị có hiệu quả
3. Khả năng áp dụng (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô mỗi dòng dưới đây)
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách:
Tốt