LỜI CẢM ƠN
Luận văn Thạc sĩ “Đánh giá hiện trạng tuyến đê Đông tỉnh Bình Định, đề
xuất giải pháp xây dựng đê đảm bảo ngăn mặn, nước dâng và thoát lũ” được
hoàn thành ngoài sự nỗ lực của bản thân học viên còn có sự chỉ bảo, giúp đỡ tận
tình của TS. Dương Đức Tiến, các thầy cô giáo khoa Công trình thủy - Trường Đại
học Thủy lợi.
Học viên xin chân thành cảm ơn Trường đại học Thủy lợi, các thầy cô giáo
trong, ngoài trường và các bạn bè đồng nghiệp, Viện Quy hoạch Thủy lợi.
Học viên xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến các cơ quan, đơn vị và cá nhân
nêu trên. Đặc biệt là thầy giáo hướng dẫn TS. Dương Đức Tiến đã tạo điều kiện giúp
đỡ, hướng dẫn và cung cấp những thông tin cần thiết cho bản luận văn này.
Hà Nội, tháng 11 năm 2012
HỌC VIÊN
Trần Đình Dũng
BẢN CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn Thạc sĩ: “Đánh giá hiện trạng tuyến đê
Đông tỉnh Bình Định, đề xuất giải pháp xây dựng đê đảm bảo ngăn mặn, nước
dâng và thoát lũ” là đề tài do cá nhân tôi thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học
của TS. Dương Đức Tiến.
Các số liệu sử dụng để tính toán là trung thực, những kết quả nghiên cứu
trong đề tài luận văn chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài luận văn của mình./.
45T1.4.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước45T 16
45T1.4.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước45T 19
45TCHƯƠNG 2. ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG TUYẾN ĐÊ ĐÔNG VÀ HỆ THỐNG
CÔNG TRÌNH, CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG LŨ, BÃO VÙNG NGHIÊN CỨU22
45T2.1. Hiện trạng mặt cắt từng đoạn đê trên tuyến.45T 22
45T2.2. Hiện trạng công trình thủy lợi dưới đê (cống, tràn, kè, trạm bơm…)45T 30
45T2.2.1. Cống.45T 30
45T2.2.2. Tràn.45T 34
45T2.2.3. Các đoạn đê lũ tràn qua.45T 35
45T2.3. Đánh giá hiện trạng phòng chống lũ vùng nghiên cứu.45T 36
45T2.4. Hiện trạng địa chất, địa hình tuyến đê và vùng nghiên cứu.45T 40
45T2.4.1. Đặc điểm địa hình45T 40
45T2.4.2. Đặc điểm địa cht và đt đai thổ nhưng45T 40
45T2.5. Quá trình nâng cấp, tu bổ qua các thời kỳ.45T 41
45T2.6. Đánh giá hiện trạng công tác quản lý tuyến đê, phòng chống lụt bão.45T 42
45T2.7. Những tồn tại trong thiết kế và thi công tuyến đê và các công trình qua đê
dẫn đến không đảm bảo nhiệm vụ và hư hỏng.
45T 43
45T2.7.1. Nguyên nhân thiết kế45T 43
45T2.7.2. Nguyên nhân thi công công trình45T 45
45T2.7.3. Nguyên nhân quản lý45T 45
45T2.8. Kết luận Chương 2.45T 46
45TCHƯƠNG 3. NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP XÂY DỰNG TUYẾN ĐÊ
ĐẢM BẢO NGĂN MẶN, NƯỚC DÂNG VÀ THOÁT LŨ 47
45T3.1. Nghiên cứu giải pháp phòng chống lũ, bão được nghiên cứu và phê duyệt
cho vùng.
45T 47
45T3.2. Nhiệm vụ tuyến đê Đông.45T 50
45THình 2.3. Mặt cắt ngang đê theo thiết kế năm 2001 tại K 0 + 60045T 24
45THình 2.4. Sơ đồ đoạn đê 2 – tuyến đê Đông Bình Định45T 26
45THình 2.5. Ảnh hiện trạng tuyến đê Đông45T 26
45THình 2.6. Sơ đồ đoạn 3 – tuyến đê Đông Bình Định45T 27
45THình 2.7. Sơ đồ hiện trạng toàn tuyến đê Đông45T 29
45THình 2.8. Hiện trạng các công lấy nước qua đê45T 33
45THình 2.9. Ảnh hiện trạng cống qua đê.45T 33
45THình 2.10. Ảnh các tuyến cống qua đê phục vụ nuôi trồng thủy sản45T 34
45THình 2.11. Đê cửa sông được bọc bê tông 3 mặt45T 36
45THình 2.12. Ảnh tuyến đập, tràn xả lũ hồ Định Bình45T 38
45THình 2.13. Ảnh các hộ dân xây dựng lấn chiếm tuyến đê Đông45T 45
45THình 3.1. Sơ đồ nắn tuyến đê đoạn 2.45T 54
45THình 3.2. Sơ đồ nắn tuyến đê đoạn 145T 55
45THình 3.3. Sơ đồ tính thủy lực sông Kone - Hà Thanh (Mike11)45T 61
45THình 3.4. Sơ đồ tính thủy lực sông Kone - Hà Thanh (Mike-21fm)45T 62
45THình 3.5. Sơ đồ kết nối Mike 11 và Mike-21fm45T 62
45THình 3.6. Bình đồ địa hình tỷ lệ 1 : 10.000 vùng bãi ngập lũ45T 65
45THình 3.7. Mực nước lũ tháng x/2009 tại trạm Phú Ngọc45T 67
45THình 3.8. Mực nước lũ tháng x/2009 tại trạm Diêu Trì45T 67
45THình 3.9. Lưu lượng trận lũ tháng x/2009 tại trạm Diêu Trì45T 68
45THình 3.10. Sơ họa mặt cắt ngang đoạn đê cho nước tràn qua45T 70
45THình 3.11. Mặt cắt ngang, mặt bằng đoạn đê đại diện45T 71
45THình 3.12. Vị trí tuyến đê đoạn 1 từ Km 0 + 000 đến Km 2 + 70045T 73
45THình 3.13. Vị trí tuyến đê đoạn 1 từ Km 2 + 700 đến Km 6 + 70045T 73
45THình 3.14. Bản đồ nước dâng đã xảy ra và có thể xảy ra từ vĩ tuyến 16 trở vào45T 76
45THình 3.15. Kè mái đê biển bằng khối bê tông liên kết mảng45T 79
45THình 3.16. Bảo vệ chân kè bằng ống buy bê tong đổ đá bên trong45T 81
45THình 3.17. Sơ đồ mặt cắt tính thấm mặt cắt đê45T 85
45THình 3.18. Sơ đồ lưới phần tử tính toán mặt cắt đê45T 85
45THình 3.19. Đường bão hòa thấm và lưu lượng đơn vị thấm qua mặt cắt đê45T 86
45TBảng 3.9. Chiều rộng đỉnh đê theo cấp công trình45T 71
45TBảng 3.10. Tuyến và hạng mục công trình qua đê đoạn 1.45T 72
45TBảng 3.11. Chiều cao nước dâng thiết kế cho các cấp đê45T 76
45TBảng 3.12. Kết quả tính toán cấu kiện tấm lát bảo vệ mái.45T 78
45TBảng 3.13. Kết quả tính toán ổn đinh45T 91
1
CHƯƠNG MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu luận văn.
Tỉnh Bình Định nằm ở miền Nam Trung bộ của Việt Nam với diện tích đồng
bằng ven biển nhỏ hẹp nhưng thường xuyên bị ảnh hưởng lũ lụt, triều cường, nước
dâng do bão… Mùa mưa bão hàng năm diễn ra từ trung tuần tháng 9 đến trung tuần
tháng 12, vùng đồng bằng thuộc các huyện: Phù Cát, An Nhơn, Tuy Phước và
phường Nhơn Bình, Nhơn Phú, Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu, Đống Đa của
thành phố Quy Nhơn bị nước lũ của thượng nguồn sông Kone và Hà Thanh dồn về
gây ngập lụt nghiêm trọng, sức tàn phá lớn gây thiệt hại về người và tài sản mỗi
năm trên vài trăm tỷ đồng. Lũ lụt cũng làm cho vùng đồng bằng hạ lưu sông Kone
và Hà Thanh, bị sa bồi thuỷ phá và hư hỏng các công trình hạ tầng cơ sở như: Nhà
dân, trường học, bệnh viện, kho tàng bến bãi, đường sá, gây ách tắc giao thông, ô
nhiễm môi trường, trong đó thiệt hại nhiều nhất là: huyện Tuy Phước, Phường Nhơn
Bình, Nhơn Phú, một phần phường Đống Đa, Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu.
Trận lũ tháng 11/1987 và tháng 12 năm 1993 gây ngập úng từ (1000 ÷ 1200) ha lúa,
màu sắp tới kỳ thu hoạch, độ sâu ngập trên 1m, thời gian ngập tới (2÷3) ngày,
khoảng 25.000 ngôi nhà, trường lớp bị ngập nước.
Ngoài ảnh hưởng lũ từ thượng nguồn, thì triều cường kết hợp nước dâng do
bão cũng là một hiểm họa gây xâm nhập mặn và ngập các xã ven biển Phước Sơn,
Phước Hòa, Phước Thắng, Phước Thuận huyện Tuy Phước; phường Nhơn Bình
Thành phố Quy Nhơn lên tới hàng nghìn ha.
Từ thực tế nêu trên tỉnh Bình Định đã đầu tư xây dựng tuyến đê Đông để
như: điều tra trực tiếp, thu thập từ các đơn vị đã thực hiện nghiên cứu về những vấn
đề liên quan, tham khảo ý kiến chuyên gia và người có kinh nghiệm.
5. Bố cục luận văn.
Ngoài chương mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương chính như sau:
Chương 1: Tổng quan vùng và các nghiên cứu trong, ngoài nước về xây
dựng các tuyến đê cửa sông, đê biển.
3
Nội dung chương này sẽ trình bày tổng quan lưu vực sông Kone – Hà Thanh,
vùng nghiên cứu, hiện trạng tuyến đê và công tác phòng chống lũ bão cũng như
quy hoạch phòng chống lũ, đê biển đê cửa sông. Đồng thời cũng tìm hiểu đánh giá
tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về xây dựng đê biển, đê cửa sông.
Chương 2: Đánh giá hiện trạng tuyến đê Đông và hệ thống công trình,
công tác phòng chống lũ, bão vùng nghiên cứu.
Đánh giá hiện trạng mặt cắt tuyến đê Đông, công trình thủy lợi qua đê như
cống, tràn… và công tác quản lý vận hành tuyến đê. Đánh giá nguyên nhân hư hỏng
đê trong quá trình sử dụng, những điểm còn tồn tại trong khâu thiết kế và xây dựng
công trình.
Chương 3: Nghiên cứu, đề xuất giải pháp xây dựng tuyến đê đảm bảo
ngăn mặn, nước dâng và thoát lũ.
Nghiên cứu các giải pháp phòng chống lũ bão cho vùng, xác định nhiệm vụ
tuyến đê, đề xuất bố trí tuyến đê, các công trình dưới đê, hình thức mặt cắt kết cấu
đê đảm bảo khả năng chống lũ, bão.
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VÙNG VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRONG, NGOÀI NƯỚC
VỀ XÂY DỰNG CÁC TUYẾN ĐÊ CỬA SÔNG, ĐÊ BIỂN
nhánh. Một nhánh chảy về phía Bắc qua cửa Trường Úc đổ vào đầm Thị Nại và
nhánh thứ 2 chảy về phía Nam qua cầu sông Ngang, sau chảy qua cầu Đôi đổ ra
đầm Thị Nại tại cửa Hưng Thạnh.
Sông Kone là con sông chính ảnh hưởng trực tiếp đến vùng hạ lưu . Đây là
sông lớn nhất tỉnh Bình Định có diện tích lưu vực là 3.067 km
P
2
P dài 178 km. Sông
bắt nguồn từ các dãy núi có các đỉn h cao trên 1000 m. Sông chảy theo hướng Tây
Bắc - Đông Nam đến Thanh Quang - Vĩnh Phú sông chảy theo hướng Bắc Nam cho
đến Bình Tường , Phú Phong, chảy theo hướng Tây Đông . Tại Bình Thạnh sông chia
thành hai nhánh chính : Tân An và Đập Đá.
5
Nhánh Tân An có các nhánh con như Gò Chàm cách ngã ba về phía hạ lưu 2 km
nhập vào sông Tân An và dòng chính sông Tân An đổ ra cửa Gò Bồi - Tân Giảng.
Nhánh Đập Đá chảy ra cửa Đại An .
Bảng 1.1. Đặc trưng hình thái lưu vực sông vùng nghiên cứu
STT
Lưu vực sông
Diện
tích lưu
vực
(km
P
2
P
)
Từ nguồn – Biển
3067 178 567 15,8 0,65 1,54
Hình 1.1. Mạng sông suối lưu vực sông Kone – Hà Thanh
6
b. Tình hình bão lũ.
Do tác dụng chắn gió của dải Trường Sơn nên hàng năm lưu vực sông Kone
- Hà Thanh - La Tinh luôn bị bão tác động trực tiếp gây mưa to gió lớn làm ngập lụt
nghiêm trọng vùng hạ lưu. Bình quân mỗi năm có từ 1,55 đến 2 cơn bão đổ bộ từ
Đà Nẵng trở vào, trong vòng 48 năm gần đây (1961- 2009) số cơn bão đổ bộ vào
ngày càng gia tăng, trung bình mỗi năm có tới 2,7 đến 3 cơn, riêng bão vào khu vực
Miền Trung chiếm 65% số cơn bão vào Việt Nam, trong đó có vùng sông Kone -
Hà Thanh - La Tinh. Thời gian mưa của các trận mưa lớn thường ko dài từ 5 đến
10 ngày nhưng lượng mưa lớn nhất trong trận chỉ từ 1 đến 3 ngày. Qua tính toán
thống kê lượng mưa lớn nhất thời đoạn 1, 3, 5, 7 ngày liên tục thường tập trung nửa
cuối tháng X và tháng XI thời gian thường bị ảnh hưởng của bão và các đợt không
khí lạnh, áp thấp nhiệt đới . Lượng mưa 1 ngày có thể đạt trên 300 mm ngày . Đặc
biệt trận mưa lũ tháng XI/2009 do bão số 11 kết hợp với KKL đã gây ra mưa rất to
trên địa bàn vùng nghiên cứu, trong đó mưa đặc biệt to trên lưu vực sông Hà Thanh
với lượng mưa 24h (từ 13h ngày 2/XI đến 13h ngày 3/XI, lượng mưa tại Vân Canh
đo được là 754 mm, lượng mưa 1 ngày max đạt 503mm (ngày 3/XI/2009).
Hình 1.2. Ngập lụt do cơn bão Mirinae ngày 4/11/2009 tại tỉnh Bình Định
7 Hình 1.3. Vùng rốn lũ các xã đông Tuy Phước 11/2010
755,8
8-14/XI/1981
337,8
15/X/1988
An Nhơn
239,6
21/X/1998
461,7
16-
18/XI/1996
570,7
15-
19/XI/1996
631,3
16-22/XI/1996
233,6
23/X/2005
Phù M
326,0
21/X/1998
536,1
20-22/X/1998
644,9
14-18/X/2003
701,7
14-20/X/2003
325,5
14/X/1979
Phù Cát
390,0
971,9376,5
21/X19/98
15-17/X/2003
15-19/X/2003
14-20/X/2003
Hoài
Nhơn
304,1
4/XI/2007
650,9
20-22/X/1998
728,6
24-28/X/1981
822,5
24-30/X/1981
269,6
26/X/1981
Cây
Muồng
289,3
23/X/2005
595,5
23-25/X/05
671,8
22-26/X/2005
699,0
8
Trạm
X1 ngày max X3 ngày max X5 ngày max X7 ngày max
X1max
(mm)
Thời gian
X3max
(mm)
Thời gian
X5max
(mm)
Thời gian
X7max
(mm)
Thời gian
285,4
9/XI/1988
23-25/X/1992
25-29/X/1992
708,9
773,7
15-21/XI/1996
V hướng dòng chảy lũ:
- Đối với sông Kone : Sau khi lũ từ th ượng nguồn ch ảy về, đến ngã ba Bình
Thạnh: Sông Kone chia làm hai nhánh là Tân An và Đập Đá , trong đó:
+ Có khoảng 70% lưu lượng lũ chảy theo hướng sông Tân An Gò Tràm qua Nhơn
Khánh, Nhơn Lộc, Nhơn Hòa, thị trấn An Nhơn , sau khi qua đường sắt, chia làm hai
hướng: Hướng chính xuống Phước Hưng, Phước Quang, Phước Hòa, chảy ra cửa Tân
Giản và đổ vào đầm Thị, còn hướng phụ, lưu lượng lũ băng qua cầu Bà Ri và vùng đồng
ruộng của xã Phước Hiệp, Phước Lộc, Phước Nghĩa theo hướng Tây Bắc - Đông Nam
nhập vào nhánh Trường Úc thuộc sông Hà Thanh và đổ vào đầm Thị Nại.
+ Có khoảng 30% lưu lượng lũ ch ảy theo hướng sông Đập Đá và sông Cầu
Dài qua Nhơn Hưng , Nhơn An, Nhơn Hạnh , Nhơn Long , Phước và đổ vào đầm Thị
Nại qua cửa An Lợi .
Hình 1.4. Sơ đồ tách dòng chính hạ lưu sông Kone
9
Đối với sông Hà Thanh : Sông Hà Th anh ngắn và dốc , sau khi chảy qua cầu
Diêu Trì trên Quốc lộ 1A , xuống hạ lưu khoảng 800 m, thì sông chia làm hai nhánh ,
trong đó:
- Nhánh Trường Úc, chảy về phía Bắc qua địa phận Nam thị trấn Tuy Phước
và Bắc địa phận phường Nhơn Bình và Nhơn Phú thành phố Quy Nhơn , lưu lượng
lũ đổ vào đầm thị Nại qua cửa Trường Úc , do cửa sông này khá rộng nên khả năng
thoát lũ tốt.
- Nhánh sông Ngang ch ảy phía Nam qua cầu Đôi đổ ra đầm Thị Nại qua cửa
Hưng Thạnh.
Nhìn chung từ ngã ba sông Hà Thanh trở xuống hạ lưu , lũ bắt đầu tràn bờ và
đi sâu vào vùng đồng bằng , sau đó được tiêu thoát qua các tràn và các cống tiêu trên
XI
XII
Năm
Mực nước triều
trung bình
158 153 151 148 146 143 140 145 155 170 170 168
154
Đỉnh triều cao
257
256
238
243
246
254
242
248
271
277
271
296
296
Chân triều thấp
50 38 56 45 33 25 36 27 59 83 63 57
27
Bình quân đỉnh
triều cao
243 229 211 216 226 228 227 223 227 246 252 252
232
Bình quân
chân triều thấp
Số liệu triều tính toán – Hệ
cao độ quốc gia
Cực trị
loại I
82 103 99 94 90 87 85
Bảng 1.5. Các đặc trưng thống kê của mực nước triều thp nht trạm Quy Nhơn
Yếu tố
Tbình
(cm)
CR
v
CR
s
H
R
p
R
% (cm)
50 %
75%
80%
85%
90%
95%
Mực nước chân
triều thấp nhất
49 0.62 0.62 47 38 36 34 31 27
Mực nước triều tại Quy Nhơn đã đưa về hệ cao độ quốc gia. Kết quả tính
140
132
121
112
102
98
93
- Bình Thái
162
156
146
138
129
125
122
- Vinh Quang
160
153
143
135
123
119
115
- An Lợi
161
154
143
134
124
121
có đá, lát khan bảo vệ . Mái phía đồng m = 2,50 trồng cỏ liền mặt bảo vệ . Chiều dài
đoạn này L
R
II
R = 24.360 m.
Đoạn III: Xuất phát từ bờ hữu cầu Gò Bồi đến cống Lão Đ ông. Trên đoạn
này bố trí 5 tràn xả lũ . Tổng chiều dài tràn L
R
tr
R = 1.050 m, cao trình ngưỡng tràn
(0,50 ÷ 0,80)m. Cống tiêu gồm 6 cống tổng cộng 18 cửa, mỗi cửa rộng 2 m. Cao
trình đỉnh đê từ (3,50÷1,50) m. Mặt đê rộng (5,0 ÷ 3,0) m. Mái phía đầm m = 3,0 có
đá lát khan bảo vệ . Mái phía đồng m = 2,5 trồng cỏ liền mặt bảo vệ . Chiều dài đọan
này L
R
III
R = 6.300 m.
Đoạn IV: Xuất phát từ cống Lão Đông và kết thúc tại Núi Cát . Trên đoạn này
bố trí 4 tràn, tổng chiều dài tràn L
R
tr
R = 340 m, cao trình ngưỡng tràn (0,50 ÷ 0,80) m.
Cống tiêu gồm 4 cống, tổng cộng 17 cửa. Cao trình đỉnh đê 1,50 m . Mặt đê rộng
3,0m. Mái phía đầm m = 3,0 có đá lát khan bảo vệ . Mái phía đồng m = 2,50 trồng
cỏ liền mặt bảo vệ . Chiều dài đoạn này L
R
IV
R = 3.340m.
Đánh giá chung về hiện trạng công trình :
- Năm 1964 đê ngăn mặn lúc bấy giờ tuy đã hình thành nhưng chiều cao thấp
- Quy hoạch Thuỷ lợi lưu vực sông Lại Giang do Viện KHTL lập năm 2001.
- Thiết kế hoàn chỉnh tuyến đê Đông do Công ty Tư vấn & CGCN Trường
Đại học Thủy lợi lập năm 2001.
Theo các nghiên cứu trên, nhiều hệ thống thuỷ lợi đã được xây dựng như: hồ
Núi Một, Thuận Ninh, Hội Sơn, Vạn Hội, Đập Lại Giang, hệ thống Đê Đông, hồ
chứa lợi dụng tổng hợp Định Bình…Tuy nhiên, các nghiên cứu được thực hiện
không cùng thời gian, phạm vi khác nhau; nhiều công trình thuỷ lợi lớn đã được xây
dựng có quy mô và nhiệm vụ khác với quy hoạch; đồng thời tình hình khí hậu, thời
tiết những năm qua diễn biến phức tạp, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội toàn tỉnh
nói chung có những thay đổi theo hướng công nghiệp hóa, dẫn đến nhu cầu nước
của các ngành kinh tế của tỉnh cũng thay đổi, tiêu chun chống lũ bão bảo vệ người
và tài sản cũng cần được tăng lên.
1.3.2. Tiêu chuẩn tiêu ng chống lũ vùng hạ lưu sông Hà Thanh
Theo Quyết định 1590/QĐ-TTg ngày 10 tháng 10 năm 2009 của Thủ tướng
Chính Phủ phê duyệt định hướng chiến lược phát triển Thủy lợi Việt Nam đến năm
2020, đề xuất giải phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đối với vùng Duyên hải
Trung Trung Bộ là: Chủ động phòng tránh và thích nghi với lũ chính vụ, xây dựng
các hồ chứa và các hệ thống công trình ngăn lũ sớm và tiêu thoát lũ cuối vụ đảm
bảo sản xuất hai vụ Đông Xuân và Hè Thu với mức đảm bảo từ (10-5)%, giảm thiệt
hại của lũ chính vụ ở mức bảo đảm 10% .
Dựa trên cơ sở Tiêu chun phân cấp đê cho các khu vực dân sinh kinh tế
được quy định tại khoản 1 điều 2 nghị định 429-HĐBT ngày 15 tháng 12 năm 1990
và Quy phạm QPTL A6- 77 cho thấy: có quy mô diện tích tư nhiên 17,547 ha, tiêu
chun chống lũ được lựa chọn với mức bảo đảm của lũ chính vụ > 5%.
1.3.3. Định hướng phòng chống lũ vùng nghiên cứu.
1.3.3.1. Giải pháp phi công trình
1. Trồng rừng.
Giải pháp tăng cường diện tích che phủ rừng làm giảm cường suất lũ trên
toàn bộ lưu vực, đồng thời có tác dụng hạn chế lũ qut. Thực hiện tốt chương trình
lòng dẫn biến đổi từ: 30m ÷ 93,2 m
16
Tuyến thoát lũ Tân An - Gò Chàm tính từ ngã 3 Bình Thạnh đến đập By
Yển, chia ra nhánh Gò Chàm và nhánh Tân An sau đó đổ ra cửa Tân Giảng dài 48,5
km, mặt cắt lòng dẫn biến đổi từ 32m ÷ 94,5 m.
Tuyến thoát lũ cầu Bà Ri tính từ cầu đường sắt, cầu Quốc lộ 1, đổ ra cửa
nhập vào nhánh Trường Úc (sông Hà Thanh) dọc tuyến xuôi theo dòng chảy, có cầu
đường sắt, cầu Quốc lộ 1, cầu qua tỉnh lộ 640, mặt cắt lòng dẫn biến đổi từ 201m
đến 54 m.
Tuyến thoát lũ sông Hà Thanh dài 17,32 km, tính từ núi Thơm qua cầu Diêu Trì
khoảng 800 m, tuyến này rẽ ra làm 2 nhánh: Nhánh chảy về phía bắc là sông Trường
Úc dài 11,19 km, mặt cắt lòng dẫn biến đổi từ 219,3m ÷ 70,2 m; Nhánh chảy về phía
nam là sông Hà Thanh dài 14,26 km, mặt cắt lòng dẫn biến đổi từ 82 m ÷ 140 m.
b. Các hồ chứa cắt lũ phía thượng nguồn tham gia chống lũ
Hiện nay trong vùng nghiên cứu duy nhất có hồ chứa nước Định Bình là
tham gia cắt lũ cho hạ du, còn lại hồ Núi Một và Thuận Ninh chỉ có tác dụng điều
tiết chậm lũ. Dung tích phòng lũ hồ Định Bình 209,8 triệu m
P
3
P.
1.4. Tổng quan về các nghiên cứu trong và ngoài nước trong xây dựng các
tuyến đê cửa sông, đê biển.
1.4.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước
Nhiều nước trên thế giới đã nghiên cứu và xây dựng nhiều hệ thống công
trình dọc theo bờ biển với những mục tiêu và nhiệm vụ khác nhau, trong đó đặc
trưng nhất là nước nào cũng có hệ thống đê biển, đê cửa sông.
Các nước phát triển ở châu Âu, châu M, châu Á như Hà Lan, Đan Mạch,
Anh, Pháp, M, Hàn Quốc, Nhật, Trung Quốc đều xây dựng Quy hoạch hệ thống
Hình 1.6. Ảnh tuyến đê biển, ca sông của Hàn Quốc
Đê biển và các hạng mục công trình phụ trợ khác hình thành nên một hệ
thống công trình phòng chống, bảo vệ vùng nội địa khỏi bị lũ lụt và thiên tai khác từ
phía biển. Vì tính chất quan trọng của nó mà công tác nghiên cứu thiết kế, xây dựng
đê biển ở trên thế giới, đặc biệt là ở các quốc gia có biển, đã có một lịch sử phát
triển rất lâu đời. Tuy nhiên, tùy thuộc vào các điều kiện tự nhiên và trình độ phát
triển của mỗi quốc gia mà các hệ thống đê biển đã được phát triển ở những mức độ
khác nhau.
Ở Hà Lan đê biển đã được xây dựng rất kiên cố nhằm chống được lũ biển
(triều cường kết hợp với nước dâng) với tần suất hiếm (một quốc gia với khoảng
20% diện tích nằm dưới mực nước biển trung bình đang áp dụng tiêu chun phòng
lũ biển từ 1/1.250 đến 1/10.000 tùy theo vị trí). Khoảng vài thập niên trước đây
quan điểm thiết kế đê biển truyền thống ở các nước châu Âu là hạn chế tối đa sóng
tràn qua do vậy cao trình đỉnh đê rất cao. Nhưng vì lượng sóng tràn qua là rất ít nên
mái phía trong đê thường được bảo vệ rất đơn giản như chỉ trồng cỏ bản địa, phù
hợp cảnh quan với môi trường. Nhìn chung, mặt cắt ngang đê điển hình rất rộng,
mái thoải (phổ biến là 1/6 hoặc thoải hơn), có cơ mái ngoài và trong kết hợp làm