BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI Nguyễn Hồng Khanh
NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH MIỄN GIẢM THUỶ LỢI PHÍ
TRONG HOẠT ĐỘNG TƯỚI TIÊU PHỤC VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Hà Nội, 2010 LỜI CAM ĐOAN
sự tham gia của các bên có liên quan, từ người sử dụng đến người lập kế hoạch quy
hoạch, người lập chính sách, ở mọi cấp độ.
Nguyên tắc xã hội: Phụ nữ đóng vai trò trung tâm trong việc cung cấp, quản lý
và đảm bảo an toàn về nước.
Nguyên tắc kinh tế: Nước có giá trị kinh tế ở mọi nhu cầu sử dụng có tính cạnh
tranh và phải được xem như hàng hóa kinh tế”.
Ở nước ta, trong những năm gần đây, nước đã được coi là tài nguyên và Chính
phủ đã đệ trình Quốc hội ban hành Luật Tài nguyên nước, chính thức được thông
qua vào tháng 5/1998.
Việc ban hành Luật Tài nguyên nước là một bước tiến quan trọng trong việc
đưa vấn đề bảo vệ tài nguyên nước trở thành một yêu cầu cấp bách trong giai đoạn
hiện nay của Chính phủ Việt Nam, đồng thời cũng đưa Việt Nam là một trong số ít
các nước có Luật riêng về Tài nguyên nước.
Tại mục 3, khoản 1, Điều 23 của Luật Tài nguyên nước đã quy định về nghĩa
vụ của các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước như sau:
“1. Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước có những nghĩa vụ
sau đây:
e) Thực hiện nghĩa vụ tài chính; bồi thường thiệt hại do mình gây ra trong khai
3
thác, sử dụng tài nguyên nước theo quy định của pháp luật”.
Tại khoản 3, Điều 47 của Luật Tài nguyên nước, về khai thác và bảo vệ công
trình thuỷ lợi đã quy định:
“3. Tổ chức, cá nhân khai thác và hưởng lợi từ công trình thủy lợi phải thực
hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp
luật”.
Như vậy, tiếp cận nước là một loại hàng hoá kinh tế và việc các tổ chức, cá
Chi cục thuỷ lợi, công ty khác cũng được giao chức năng quản lý, khai thác công
trình thuỷ lợi.
Để đảm bảo cho các hệ thống công trình thuỷ lợi nói trên vận hành an toàn,
hàng năm yêu cầu phải có đủ kinh phí để vận hành, duy tu, bảo dưỡng, chưa kể đến
kinh phí yêu cầu xây dựng mới, nâng cấp, khôi phục công trình hư hỏng do sử dụng
lâu ngày và do thiên tai gây ra và kinh phí khắc phục hạn hán, úng lụt. Với mục tiêu
này, chính sách thuỷ lợi phí đã được ban hành.
Nhằm bù đắp một phần kinh phí yêu cầu nói trên, giảm nhẹ gánh nặng bao cấp
ngân sách nhà nước, Nhà nước đã có chủ trương thu thuỷ lợi phí từ người hưởng lợi
và thực hiện chế độ hạch toán kinh tế trong các đơn vị quản lý khai thác công trình
thủy lợi. Ngay từ năm 1962, Hội đồng Chính phủ, nay là Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 66/CP ngày 5/6/1962 quy định điều lệ thu thuỷ lợi phí, tuy nhiên Nghị
định này chỉ áp dụng đối với các hệ thống nông giang lớn. Tiếp đó, là các Nghị định
số 112-HĐBT ngày 25/8/1984 của Hội đồng Bộ trưởng và Nghị định số
143/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ.
Để khuyến khích sản xuất lương thực, trong các văn bản trên, thuỷ lợi phí đối
với tưới chỉ thu ở mức cần thiết, đảm bảo chi phí cho sửa chữa thường xuyên (chưa
tính đến chi phí nâng cấp, thu hồi vốn). Nhà nước phải hỗ trợ phần chi phí tiền điện
tiêu úng, sửa chữa công trình hư hỏng nặng do thiên tai gây ra bằng những quy định
chặt chẽ.
Xuất phát từ chính sách hỗ trợ nông dân được giao đất sản xuất nông nghiệp,
lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và làm muối, từ năm 2008, Chính phủ đã miễn giảm
thuỷ lợi phí cho người dân theo quy định của Nghị định số 154/2007/NĐ-CP ngày
15/10/2007 của Chính phủ, sau đó được thay thế bằng Nghị định số 115/2008/NĐ-
CP ngày 14/11/2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
143/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số
điều của Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi.
quyền các địa phương rất quan tâm, nhằm đảm bảo một khoản kinh phí nhất định để
đáp ứng cho công tác vận hành, duy tu bảo dưỡng, sửa chữa các công trình thuỷ lợi.
Có thể liệt kê ra một số các công trình, tài liệu nghiên cứu có liên quan đến chính
6
sách thuỷ lợi phí như sau:
- Quản lý thuỷ nông trong nền kinh tế thị trường, Đoàn Thế Lợi, sách do Nhà
xuất bản nông nghiệp – 2004.
- Thuỷ lợi phí và chính sách thuỷ lợi phí trong nền kinh tế thị trường và hội
nhập kinh tế quốc tế - Đề tài cấp Bộ, Trung tâm nghiên cứu Kinh tế, Viện Khoa học
Thuỷ lợi thực hiện năm 2007-2008.
- Nghiên cứu xây dựng giá nước tại hệ thống thuỷ lợi hồ Núi Cốc – tỉnh Thái
Nguyên – Trung tâm nghiên cứu kinh tế, Viện Khoa học Thuỷ lợi thực hiện năm
2002.
- Nghiên cứu mô hình quản lý thuỷ lợi hiệu quả và bền vững phục vụ nông
nghiệp và nông thôn, Trung tâm nghiên cứu kinh tế, Viện Khoa học Thuỷ lợi thực
hiện năm 2006-2008.
- Nghiên cứu xây dựng hệ thống các chỉ tiêu khoản mục chi phí hợp lý trong
sản xuất 1m
P
3
P nước để tính giá nước lấy từ công trình thủy lợi cho các mục đích sử
dụng khác nhau, Trường Đại học Thuỷ lợi thực hiện, năm 2006-2007.
- Nghiên cứu tính giá thành 1m
P
3
P nước tưới tiêu của hệ thống thuỷ lợi sáu trạm
nghiên cứu điển hình tại 1 tỉnh.
Do thuỷ lợi phí là chính sách nhạy cảm, có tác động đến nhiều đối tượng dùng
nước, phạm vi của luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu, đánh giá các tác động của
thuỷ lợi phí trong tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, trên cơ sở hoạt động của
các doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi.
III. CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu đã nêu trên, cách tiếp cận và
phương pháp nghiên cứu trong luận văn được sử dụng như sau:
- Cách tiếp cận: được vận dụng theo phương pháp từ dưới lên, từ đối tượng
hưởng lợi; tổ chức quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi, tổ chức hợp tác dùng nước;
cơ quan nghiên cứu; cơ quan quản lý nhà nước về quản lý, khai thác công trình thuỷ
lợi.
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp khảo sát từ thực tế quản lý, khai thác ở một số hệ thống công
trình thuỷ lợi;
+ Áp dụng triệt để nguyên tắc tiếp cận từ dưới lên;
+ Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá;
+ Phương pháp chuyên gia.
8
IV. CÁC KẾT QUẢ DỰ KIẾN ĐẠT ĐƯỢC
- Cơ sở lý luận quá trình hình thành và thực thi chính sách thuỷ lợi phí;
- Những tác động chủ yếu của chính sách thuỷ lợi phí trong sản xuất nông
nghiệp tới hoạt động quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi;
- Đề xuất định hướng chính sách thuỷ lợi phí phù hợp đối với sản xuất nông
nghiệp.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và áp dụng
kênh rạch “dẫn thuỷ nhập điền” rộng khắp, nhằm khai thác mặt lợi và hạn chế mặt
hại của nước.
Từ khi giành độc lập, đặc biệt kể từ giai đoạn đất nước thống nhất đến nay,
Nhà nước và nhân dân ta đã đặc biệt quan tâm đến công tác thuỷ lợi. Kết quả đầu tư
thuỷ lợi không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế, mà còn mang ý nghĩa chính trị, xã hội
sâu sắc. Trong phát triển nông nghiệp, thuỷ lợi là biện pháp hàng đầu, nhờ được đầu
tư thuỷ lợi rộng khắp trên mọi vùng đất nước, đã tạo điều kiện đưa khoa học kỹ
thuật trong nông nghiệp, nhất là về giống, về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ.
Trước đây, nhiều khu vực ở miền núi, Trung bộ, Tây nguyên, Đông Nam bộ hầu hết
dựa vào nước "trời" thì nay phần lớn diện tích gieo trồng lúa, và một phần diện tích
cây trồng cạn đã được tưới nước bằng công trình thuỷ lợi.
Trong quá trình phát triển nông nghiệp nói riêng và kinh tế xã hội nói chung,
công tác thuỷ lợi luôn có vị trí quan trọng và nhận được sự quan tâm đầu tư của Nhà
nước cùng với sự đóng góp công sức vô cùng to lớn của nhân dân. Sự nghiệp phát
triển thuỷ lợi đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần quan trọng cho sự phát
triển của mọi ngành kinh tế - xã hội, tạo điều kiện để nông nghiệp nước ta có những
bước nhảy vọt.
Nhiều thập kỷ qua, cùng với tiến trình phát triển kinh tế, xã hội, Đảng, Nhà
nước và nhân dân ta đã đầu tư xây dựng nhiều công trình, hệ thống công trình thuỷ
lợi lớn, nhỏ, hình thành nên một cơ sở vật chất hạ tầng hết sức to lớn, phục vụ đa
mục tiêu tưới tiêu cho nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, cắt lũ, giao thông, phát
điện, ngăn mặn giữ ngọt, du lịch , bảo đảm cho sản xuất và đời sống dân sinh. Đặc
biệt, thuỷ lợi đã góp phần ổn định sản xuất, giữ vững và nâng cao năng suất sản
lượng cây trồng, đảm bảo an ninh lương thực, xoá đói giảm nghèo ở nông thôn, đưa
10
nước ta từ một nước thiếu lương thực, trở thành một nước không chỉ ổn định lương
- 11 hệ thống có diện tích phục vụ lớn hơn 100.000 ha.
Tổng số có trên 5000 hồ chứa các loại, với tổng dung tích trữ nước trên 35,34
tỷ m
P
3
P, gồm: 26 hồ chứa thuỷ điện có tổng dung tích trữ là 27,12 tỷ mP
3
P, 2460 hồ chứa
11
thủy lợi có dung tích từ 200 ngàn mP
3
P trở lên và hàng ngàn hồ nhỏ với tổng dung tích
trữ khoảng 8,22 tỷ m
P
3
P, phục vụ cho phát điện, cấp nước sinh hoạt, cấp nước cho các
ngành kinh tế trọng yếu và bảo đảm tưới cho 80 vạn ha đất canh tác; trên 10.000
trạm bơm điện lớn với các loại máy bơm khác nhau, có tổng công suất lắp máy phục
vụ tưới là 250 Mw, phục vụ tiêu là 300Mw.
Ngoài ra, còn có gần 5.000 cống tưới tiêu lớn các loại. Tổng số 126.000km
kênh mương các loại, trong đó có trên 1.000 km kênh trục lớn, cùng với hàng vạn
công trình trên kênh. Trên 26.000 km bờ bao ngăn lũ đầu vụ hè thu ở Đồng bằng
sông Cửu Long, khoảng 3700 km đê sông, trên 2000 km đê biển.
Các hệ thống công trình thuỷ lợi này đã cơ bản đáp ứng được những yêu cầu
thiết yếu trong sản xuất và đời sống dân sinh. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay,
việc biến đổi khí hậu và nước biển dâng đang diễn ra theo chiều hướng cực đoan và
nhà nước gồm: Hà Giang, Lào Cai. Ở các tỉnh này, công trình thuỷ lợi đã được giao
cho cấp huyện, xã quản lý, khai thác. Tỉnh Lào Cai trước kia có thành lập một số
Trạm quản lý khai thác công trình thuỷ lợi trực thuộc huyện nhưng do không có
kinh phí hoạt động nay đã giải tán.
- Các tỉnh có thành lập doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi bao gồm:
Yên Bái, Cao Bằng, Bắc Kạn, Sơn La, Hoà Bình, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Điện
Biên, Lai Châu, Quảng Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ. Tuy vậy, mô hình ở tỉnh Bắc
Kạn chưa phù hợp.
- Các tỉnh có đơn vị sự nghiệp tham gia quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi
gồm: Tuyên Quang (Ban quản lý công trình thuỷ lợi Ngòi Là), Yên Bái (Trạm Quản
lý khai thác công trình thuỷ lợi Văn Yên, Lục Yên), Quảng Ninh (Trung tâm ở Hải
Hà, Đầm Hà).
1.2.1.2. Vùng Đồng bằng sông Hồng
Ở các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng, tổ chức quản lý, khai thác công trình
thuỷ lợi thuộc Nhà nước tương đối giống nhau. 100% các tỉnh có thành lập Công ty
Khai thác công trình thuỷ lợi (Công ty quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi liên
tỉnh, toàn tỉnh hoặc quản lý công trình thuỷ lợi liên huyện hoặc trong phạm vi
huyện). Có 2 doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi quản lý, khai thác công
trình thuỷ lợi liên tỉnh, trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý
(Bắc Nam Hà, Bắc Hưng Hải), 5 hệ thống công trình thuỷ lợi liên tỉnh trực thuộc
các doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi thuộc các tỉnh, thành phố (Bắc
Đuống, An Kim Hải, Sông Nhuệ, Thác Huống, Sông Cầu).
Tỉnh Hà Tây (nay đã sáp nhập vào Thủ đô Hà Nội) có 10 Công ty Khai thác
13
công trình thuỷ lợi. Tuy nhiên, theo lộ trình đã được Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt, nay chỉ còn 4 công ty là Công ty Khai thác công trình thuỷ lợi Sông Nhuệ,
14
nghiệp quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi. Chỉ có một Trạm Quản lý khai thác
công trình thuỷ lợi Đắc Mil (thuộc Huyện), quản lý hệ thống công trình thuỷ lợi Đăc
Mil tưới chủ yếu cho cây cà phê và một ít diện tích trồng lúa.
Tỉnh Lâm Đồng có công ty khai thác công trình thuỷ lợi có quy mô toàn tỉnh,
nhưng công ty này đã giải tán và sáp nhập với Ban Quản lý khai thác công trình thuỷ
lợi Thành phố Đà Lạt thành Trung tâm quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi Lâm
Đồng, hoạt động như một đơn vị sự nghiệp có thu.
Cũng giống như các nơi khác, các công trình thủy lợi nhỏ trong khu vực được
giao cho Uỷ ban nhân dân các huyện, xã trong vùng tổ chức các loại hình để quản
lý, khai thác.
1.2.1.6. Các tỉnh Đông Nam bộ
Mô hình quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi khu vực Đông Nam Bộ khá đa
dạng. Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu không thành lập công ty quản lý khai thác công trình
thuỷ lợi, Chi cục Quản lý thuỷ nông trực tiếp tham gia quản lý, khai thác công trình
thuỷ lợi. Tỉnh Bình Dương có Xí nghiệp quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi trực
thuộc Công ty cấp thoát nước và môi trường Bình Dương. Các tỉnh còn lại đều
thành lập công ty khai thác công trình thuỷ lợi có quy mô toàn tỉnh như Thành phố
Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Phước, Tây Ninh, Ninh Thuận, Bình Thuận hoạt
động khá hiệu quả.
Khu vực này còn có Công ty TNHH Một thành viên Khai thác Thuỷ lợi Dầu
Tiếng – Phước Hoà, quản lý, khai thác Hồ Dầu Tiếng, sắp tới thêm hồ Phước Hoà
phục vụ tưới, cấp nước, xả ngọt đẩy mặn và phòng lũ cho các tỉnh, thành phố: Tây
Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Long An và Bình Phước trực thuộc
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
1.2.1.7. Các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long
Thực tế cho thấy, mô hình quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi vùng Đồng
bằng sông Cửu Long thể hiện sự đa dạng và có nhiều sự biến đổi nhất so với các
16
Bảng 1.2: Tổng hợp tổ chức khai thác công trình thuỷ lợi thuộc nhà nước Thứ
tự Tên vùng
Số lượng công ty, đơn vị sự
nghiệp QLKCTTL
Tỉnh/liên
tỉnh
Huyện,
liên
huyện
Đơn vị
sự nghệp
1
Đồng bằng sông Cửu Long (7/13 tỉnh)
5
0
2
Tổng:
38
63
7
Bảng tổng hợp này không bao gồm các Chi cục thuỷ lợi vừa thực hiện chức
năng quản lý nhà nước, vừa tham gia quản lý khai thác như Bà Rịa Vũng Tàu, Kiên
Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Cà Mau, Bà Rịa Vũng Tàu.
1.2.2. Về loại hình hoạt động của doanh nghiệp:
Phân theo phạm vi phục vụ của các doanh nghiệp, hiện nay có các loại hình
chủ yếu sau:
1.2.2.1. Công ty khai thác công trình thuỷ lợi quản lý, vận hành các hệ thống
công trình thuỷ lợi lớn, kỹ thuật phức tạp, kênh trục chính phục vụ tưới tiêu, cấp
nước có tính chất liên tỉnh (gọi tắt là công ty liên tỉnh). Các công ty này do Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn trực tiếp quản lý (như Bắc Nam Hà, Bắc Hưng Hải,
Dầu Tiếng) hoặc do địa phương có diện tích hưởng lợi lớn quản lý như Sông Nhuệ,
Bắc Đuống.
1.2.2.2. Công ty khai thác công trình thuỷ lợi quản lý, vận hành các hệ thống
thủy lợi, kênh trục chính, kênh nhánh các cấp lớn phục vụ tưới tiêu, cấp nước trong
phạm vi toàn tỉnh hoặc có tính chất liên huyện, như công ty của tỉnh Hoà Bình, Lai
17
Châu, Lạng Sơn, Hải Dương, Thái Nguyên, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng
18
- Ban quản lý thủy nông xã (hoặc liên xã):
- Ban tự quản dùng nước thôn bản.
1.3. Một số tồn tại, thách thức của công tác thuỷ lợi hiện nay.
1.3.1. Một số tồn tại của công tác thuỷ lợi
Mặc dù đã phát huy và đạt được nhiều thành tựu trong việc phục vụ sản xuất
và đời sống dân sinh, tuy nhiên công tác thuỷ lợi còn bộc lộ nhiều tồn tại, yếu kém.
Những tồn tại yếu kém trong công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất và đời sống dân
sinh, biểu hiện qua các nội dung sau đây:
Thứ nhất là, các hệ thống công trình phát huy hiệu quả còn ở mức thấp, bình
quân chỉ đạt 70% năng lực thiết kế do nhiều nguyên nhân, như việc chuyển đổi cơ
cấu sản xuất, tốc độ công nghiệp hoá, đô thị hoá, dẫn đến diện tích, mục tiêu phục
vụ không còn như thiết kế ban đầu, hiệu suất sử dụng công trình theo thiết kế thấp.
Thứ hai là, hầu hết diện tích được bảo đảm chủ động tưới, tiêu còn thấp hoặc
tưới tiêu không chắc chắn. Theo chỉ tiêu thiết kế, công trình tưới bảo đảm ở mức
p=75% (đến nay đã có nhiều hệ thống đạt 85%), tiêu ở mức 10%, song trên thực tế
nhiều vùng diện tích còn bị hạn, bị úng ngay cả khi thời tiết, khí hậu chưa nghiêm
trọng như tính toán thiết kế ban đầu. Diện tích không chủ động tiêu tập trung ở các
vùng tiêu bằng trọng lực hoặc nội đồng. Vấn đề tiêu thoát nước nội đồng ở nhiều hệ
thống rất phức tạp.
Thứ ba là, nhiều công trình bị xuống cấp nhanh do một thời gian dài không
được duy tu bảo dưỡng đầy đủ, kịp thời; nhiều công trình có hệ số an toàn theo quy
phạm trước đây còn thấp, có thể gây nguy hiểm khi gặp lũ. Nhiều hệ thống kênh dẫn
chất lượng kém và tình trạng quản lý nước trên kênh tưới không chặt chẽ, dẫn đến
phần đầu kênh thì thừa nước, cuối kênh thiếu nước;
Thứ bốn là, tại các hệ thống thuỷ lợi lớn, diện tích phải bơm tưới, bơm tiêu hỗ
trợ chiếm tỷ lệ khá cao, đặc biệt là những vùng cuối nguồn; tình trạng lãng phí nước
vận hành. Việc đầu tư phát triển thuỷ lợi chưa phù hợp, nặng về xây dựng các công
trình mới, nhẹ về củng cố, khôi phục, nâng cấp sửa chữa các công trình đã có. Nhiều
công trình thuỷ lợi hiện nay đã bị xuống cấp, thiếu kinh phí để sửa chữa công trình
hoặc nâng cấp công trình cho phù hợp với mục tiêu nhiệm vụ mới. Bên cạnh đó, đầu
tư cho công tác quản lý còn chưa được coi trọng, do vậy không phát huy hết hiệu
quả của hệ thống.
Bốn là, yêu cầu cấp nước ngày càng cao để đáp ứng với việc ứng dụng các tiến
bộ kỹ thuật trong nông nghiệp; trong khi đó quy hoạch thuỷ lợi tổng thể phục vụ cho
20
đa ngành, đa mục tiêu chưa đáp ứng yêu cầu; chưa tính toán đầy đủ yêu cầu cấp
nước phục vụ sinh hoạt nông thôn, nước cho sản xuất công nghiệp, các làng nghề,
nước cho nuôi trồng thuỷ sản. Do vậy, có nhiều hệ thống công trình thuỷ lợi không
đáp ứng được yêu cầu sản xuất thực tế.
Năm là, việc thực thi Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ công trình thuỷ lợi và
các cơ chế chính sách trong quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi ở nhiều địa
phương chưa tốt. Nhiều văn bản pháp quy được ban hành nhưng khó đi vào cuộc
sống, dẫn đến việc vi phạm diễn ra phổ biến, đặc biệt là vi phạm hành lang bảo vệ
công trình thuỷ lợi, hành vi xả thải vào công trình thuỷ lợi.
Sáu là, nguồn nhân lực phát triển chưa tương xứng với yêu cầu hiện tại. Năng
lực và trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý và công nhân khai thác công trình thuỷ
lợi chưa đáp ứng được với yêu cầu về công nghiệp hoá và hiện đại hoá quản lý khai
thác công trình thuỷ lợi. Phân bố nhân lực ngành giữa các vùng, miền chưa cân đối,
nhiều nơi rất thiếu cán bộ thuỷ lợi, đặc biệt là các tỉnh vùng trung du, miền núi.
Bảy là, tổ chức quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi ở nhiều địa phương còn
chưa đồng bộ, khép kín, kể cả hệ thống tổ chức quản lý nhà nước và quản lý khai
thác. Chưa có tổ chức thanh tra chuyên ngành, chế tài xử phạt các hành vi xâm hại
thống công trình thuỷ lợi không qua xử lý.
Thứ bốn là, nhu cầu nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, nuôi trồng
thuỷ sản, cấp nước dân sinh, đô thị, du lịch, dịch vụ, môi trường và các yêu cầu
dùng nước khác đang tăng cao. Các đối tượng sử dụng nước ngày càng đa dạng, với
yêu cầu chất lượng dịch vụ cao hơn, trong khi nguồn nước đang ngày càng khan
hiếm, cạn kiệt và có nguy cơ bị ô nhiễm. Theo dự báo của Ngân hàng Phát triển
châu Á, đối với Việt Nam, cần phải yêu cầu bảo đảm an ninh lương thực cho dân số
trên 100 triệu người đến năm 2020 và 130 triệu người đến năm 2050, trong khi diện
tích lúa ngày càng giảm, đòi hỏi chất lượng, mức bảo đảm tưới tiêu phải được nâng
cao hơn nữa.
Thứ năm là, mâu thuẫn về lợi ích kinh tế trong quá trình quản lý, vận hành,
điều tiết nguồn nước ở các công trình thuỷ lợi đầu nguồn, giữa việc phục vụ cho
tưới tiêu và phát điện hoặc giữa việc nuôi trồng thuỷ sản hay trồng lúa cũng là một
thách thức trong công tác thuỷ lợi trong thời gian tới.
Trong nhiều thập kỷ qua, Nhà nước và nhân dân ta đã đầu tư, hình thành một
hệ thống cơ sở hạ tầng thuỷ lợi hết sức to lớn, cơ bản đáp ứng những yêu cầu bức
thiết của sản xuất và đời sống dân sinh. Để quản lý, vận hành các hệ thống thuỷ lợi
22
này, chúng ta cũng đã hình thành một hệ thống tổ chức để thực hiện nhiệm vụ quản
lý, khai thác công trình thuỷ lợi. Các công trình thuỷ lợi đã phát huy được vai trò
của mình, tuy nhiên trong thực tế vẫn còn nhiều tồn tại. Công tác thuỷ lợi cũng đứng
trước nhiều khó khăn, thách thức trước mắt đòi hỏi các cơ quan chức năng phải có
các giải pháp cần thiết để biến những khó khăn, thách thức thành cơ hội để phát
triển ngành thuỷ lợi, đáp ứng với yêu cầu phát triển dân sinh, kinh tế xã hội của đất
nước.
Với mục tiêu quản lý, khai thác công trình hiệu quả, đảm bảo an toàn thì việc
chung là mô tả việc định giá của dịch vụ cung cấp nước cho các tổ chức, cá nhân
sản xuất nông nghiệp. Đối với việc áp dụng cho tưới tiêu (thuỷ lợi phí), giá nước
nhìn chung được nhìn nhận qua hai loại hàng hoá kinh tế: 1) dịch vụ cung cấp nước
(thời lượng, phân phối và chất lượng của dịch vụ); và 2) nước được phân phối,
thường được xác định bởi khối lượng, nhưng đôi khi cũng đề cập đến vấn đề chất
lượng.
Liên quan đến vấn đề này, chúng ta hãy tìm hiểu, làm rõ thêm vấn đề tại sao
các chính sách không đề cập thuỷ lợi phí là giá, thuế, chi phí, hay lệ phí chi trả cho
dịch vụ về nước đối với sản xuất nông nghiệp mà gọi là phí – thuỷ lợi phí.
Thứ nhất, khái niệm giá, trong đó, chỉ đề cập khái niệm giá thành và giá bán.
Giá thành sản phẩm là toàn bộ chi phí bằng tiền để sản xuất ra một đơn vị sản
phẩm. Như vậy, khái niệm giá thành sản phẩm và chi phí trực tiếp liên quan mật
thiết với nhau, thể hiện những chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để sản xuất một
đơn vị sản phẩm.
Giá bán được hiểu là số tiền người mua phải trả cho người bán để có/nhận
được sản phẩm hoặc dịch vụ mà người mua mong muốn có. Giá bán chính là thước
đo trao đổi của một hàng hoá cho một hàng hoá khác, được tính bằng tiền. Trong cơ
chế thị trường, giá bán được xác định dựa trên những nguyên tắc mà ở đó cho phép
giá có thể tự do dịch chuyển nhằm đáp ứng cầu của một loại hàng hoá nhất định.
Nếu cung vượt cầu thì giá giảm và ngược lại.
Thứ hai, thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có
nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp
luật do Nhà nước ban hành. Đây là một khoản thu chủ yếu của ngân sách mang tính
chất nghĩa vụ bắt buộc. Thuế không được hoàn trả trực tiếp, ngang giá cho người
24
nộp thuế. Một phần số thuế đã nộp cho ngân sách Nhà nước trả về cho người dân