LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật chuyên ngành xây dựng công trình thủy với đề
tài: “Nghiên cứu cơ sở khoa học lựa chọn giải pháp công trình đê Hữu sông Đáy
thuộc tỉnh Ninh Bình” đ được hoàn thành với sự hướng dẫn và giúp giúp đỡ tận
tình của: Ban giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Công trình, Bộ môn
Công nghệ và quản lý xây dựng - Trường đại học Thủy lợi cùng các bạn bè và
đồng nghiệp.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS. Dương Đức Tiến,
người hướng dẫn khoa học, đ rất tận tình, không kể thời gian hướng dẫn tác giả
hoàn thành luận văn này.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo, gia đình, bạn bè & đồng
nghiệp đ góp những ý kiến quý báu, tạo điều kiện cho tác giả trong quá trình
học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn Sở NN&PTNT Ninh Bình, Công ty cổ phần tư
vấn xây dựng Ninh Bình, các cơ quan đơn vị đ giúp đỡ tác giả trong quá trình
điều tra thu thập tài liệu phục vụ nghiên cứu đề tài.
Cuối cùng xin chân thành cảm ơn Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã
tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả được trình bày luận văn này.
H Ni, tháng 8 năm 2012
Tác giả
Nguyễn Hữu Thưởng
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Nguyễn Hữu Thưởng
4. Kết quả đạt được 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ ĐÊ SÔNG VÀ ỔN ĐỊNH ĐÊ SÔNG 5
1.1. Tổng quan về hệ thống đê sông 5
1.1.1. Tổng quan tình hình chung hệ thống đê sông trên thế giới 5
1.1.2. Tổng quan về đê sông ở Việt Nam 7
1.2. Vấn đề ổn định và biến dạng của đê sông 10
1.2.1. Các nghiên cứu về ổn định và biến dạng của đê sông trên thế giới 10
1.2.2. Các nghiên cứu về ổn định của đê sông ở Việt Nam hiện nay 14
1.2.3. Đánh giá về ổn định của đê sông Việt Nam hiện nay trong điều kiện của
biến đổi khí hậu 19
1.3. Kết luận chương 20
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC TRONG VIỆC NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ
ĐỘ ỔN ĐỊNH CỦA ĐÊ SÔNG 22
2.1. Cơ chế phá hoại đê 22
2.1.1. Cơ chế vi mô 23
2.1.2. Cơ chế vĩ mô 25
2.2. Các tiêu chí cơ bản trong việc đánh giá độ ổn định của đê sông 28
2.2.1. Quy mô mặt cắt ngang đê 28
2.2.2. Cao trình đỉnh đê 29
2.2.3. Bề rộng mặt đê 30
2.2.3. Gia cố mặt đê và kiên cố hóa đê 32
2.2.4. Đánh giá về chất lượng thân đê và nền đê 34
2.2.5. Phân tích sự làm việc của đê, các khả năng phá hoại sự làm việc an toàn
của đê 36
2.3. Cơ sở khoa học trong nghiên cứu thấm qua đê trong trường hợp ngâm lũ 41
2.4. Cơ sở khoa học trong nghiên cứu thấm qua đê trong trường hợp lũ rút 43
2.4.1. Phương trình cơ bản của dòng thấm không ổn định 43
2.4.2. Giải bài toán thấm bằng phương pháp phần tử hữu hạn 47
2.4.3. Đường bo hòa của đê đất đồng chất khi mực nước hạ thấp 50
2.5. Cơ sở khoa học trong nghiên cứu ổn định đê trong trường hợp ngâm lũ 53
3.4.4. Mức đảm bảo phòng chống lũ 78
3.5. Kết quả đánh giá khả năng chống lũ của đê hữu Đáy thuộc tỉnh Ninh Bình
theo các tiêu chí dùng trong thiết kế 78
3.5.1. Cao trình đỉnh đê 78
3.5.2. Nhiệm vụ của tuyến đê hữu Đáy thuộc tỉnh Ninh Bình 82
3.5.3. Phân cấp đê 83
3.5.4. Tiêu chuẩn thiết kế đê 87
3.5.6. Chiều rộng mặt đê 88
3.6. Kết luật chương 89
CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CÔNG TRÌNH ỨNG DỤNG CHO
ĐÊ HỮU ĐÁY THUỘC TỈNH NINH BÌNH 90
4.1. Đề xuất mặt cắt thiết kế 90
4.1.1. Cao trình mặt đê 91
4.1.2. Kết cấu mặt đê 91
4.1.3. Mặt cắt thiết kế điển hình 91
4.2. Địa chất thân đê và nền đê Hữu Sông Đáy thuộc tỉnh Ninh Bình 95
4.2.1. Tại Km20+00m (tại trạm thủy văn Ninh Bình) 95
4.2.2. Tại Km45+00m (tại trạm thủy văn Độc Bộ) 96
4.3. Phân tích ổn định đê 98
4.3.1. Phân tích ổn định trượt mái đê 98
4.3.2. Phân tích thấm qua đê 101
4.3.3. Phân tích ổn định lún cho đê 101
4.4. Kết quả tính toán 102
4.5. Kết luận chương 103
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 107
Hình 2-3: Cơ chế vĩ mô 25
Hình 2-4: Mặt cắt ngang đặc trưng của đê 28
Hình 2-5: Các dạng trượt mái đê 37
Hình 2-6: Dòng thấm qua đê và nền trong mùa lũ 37
Hình 2-7: Trượt mái đê cùng với nền 38
Hình 2-8: Dòng thấm trong thân đê khi lũ rút nhanh 38
Hình 2-9: Sự hình thành mạch đùn, mạch sủi 39
Hình 2-10: Dòng thấm trong thân đê không đồng nhất 39
Hình 2-11: Sơ đồ các đường thấm tập trung trong đê 40
Hình 2-12: Các dạng hang thấm tập trung 41
Hình 2-13: Dòng chảy ngầm trong đê 41
Hình 2-14: Sơ đồ biểu thị định luật bảo toàn khối lượng cho dòng thấm không
ổn định 43
Hình 2-15: Biểu đồ quan hệ giữa hệ số thấm và áp lực kẽ rỗng 47
Hình 2-16: Rời rạc hóa miền xác định 48
Hình 2-17: Tính toán đường bo hòa khi mực nước hạ xuống 53
Hình 2-18: Tính toán theo phương pháp trượt cung tròn 53
Hình 2-19: Tính toán theo phương pháp mặt trượt phức hợp 55
Hình 2-20: Sơ đồ tính áp lực kẽ rỗng 59
Hình 2-21: Xác định áp lực kẽ rỗng bằng lưới thấm 61
Hình 2-22: Hướng lực tác dụng giữa các dải theo phương ngang 62
Hình 3-1: Mặt cắt hiện trạng đê hữu Đáy tỉnh Ninh Bình 76
Hình 3-1: Sơ đồ mạng thủy lực sông Hồng – Sông Thái Bình và hệ thống biên
trên - dưới mô phỏng trên mô hình Mike11 80
Hình 4-1: Giải pháp đắp áp trúc về phía đồng 92
Hình 4-2: Giải pháp đắp áp trúc về phía sông 93
Hình 4-3: Giải pháp đoạn qua thành phố Ninh Bình 94
Hình 4-4: Sơ đồ xếp xe để xác định tải trọng xe cộ tác dụng lên mặt đê 99
Hình 4-5: Sơ đồ tính toán các lực tác dụng lên mặt đê 100
Bảng 3-13: Mực nước thiết kế cho đê hữu Đáy thuộc tỉnh Ninh Bình 77
Bảng 3-14: Hệ số ổn định và độ cao gia thăng an toàn của đê 78
Bảng 3-15: Các thông số thiết kế các hồ chứa phòng lũ thượng nguồn 81
Bảng 3-16: Phân cấp tuyến đê hữu Đáy tỉnh Ninh Bình 83
Bảng 3-17: Mực nước lũ lớn nhất theo các trường hợp tính 84
Bảng 3-18: Lưu lượng lớn nhất theo các trường hợp tính 85
Bảng 3-19: Mực nước biển dâng (cm) so với thời kỳ 1980-1999 85
Bảng 3-20: So sánh mực nước quy định của Bộ Nông nghiệp & PTNT và kết
quả tính toán thủy lực 87
Bảng 3-21: Các thông số thiết kế đê hữu sông Đáy thuộc tỉnh Ninh Bình 87
Bảng 3-22: Kết quả tính toán cao trình đê hữu sông Đáy thuộc tỉnh Ninh Bình 88
Bảng 3-23: Các yếu tố trên mặt cắt ngang cấp thiết kế của đường 89
Bảng 4-1: Giá trị chỉ tiêu cơ lý trung bình tại Km20+00m 95
Bảng 4-2: Giá trị chỉ tiêu cơ lý trung bình tại Km45+00m 97
Bảng 4-3: Kết quả tính ổn định mặt cắt hình 4 - 1 102
Bảng 4-4: Kết quả tính ổn định mặt cắt hình 4 - 2 102
Bảng 4-5: Kết quả tính ổn định mặt cắt hình 4 - 3 103 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tỉnh Ninh Bình thuộc vùng Ðồng bằng Bắc Bộ, nằm ở toạ độ địa lý 20P
o
P vĩ
Bắc và 106P
o
P kinh Ðông, cách Thủ đô Hà nội 90 km, là tỉnh ở phía Nam của vùng
đồng bằng Bắc Bộ, nơi chuyển tiếp địa lý miền Bắc với miền Trung bởi dãy núi
Tam Điệp hùng vĩ. Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Hoà Bình và Hà Nam, phía
Hữu sông Đáy là các tuyến đê được hình thành từ lâu, đắp bằng thủ công, đất ướt
lấy tại chỗ, không được đầm nén chặt nên độ ổn định của thân đê kém, mặt đê
nhiều chỗ hẹp, cơ đê nhỏ, mái đê dốc. Bên cạnh đó, xu hướng diễn biến của các
yếu tố tự nhiên như khí hậu thuỷ văn, lũ lụt có chiều hướng ngày càng phức tạp.
Do đó, sự cố gây mất ổn định cho đê trong mùa lũ có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Trên tuyến đê nhiều vị trí bộc lộ sự xung yếu trong mùa mua lũ.
Sông Đáy là một trong những sông quan trọng để cắt giảm lưu lượng lũ từ
sông Hồng qua đập Đáy để bảo vệ cho thủ đô Hà Nội khi mực nước lũ sông
Hồng tại trạm thủy văn Hà Nội dự báo lên có khả năng vượt 13,4m (theo Nghị
định số 04/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 thực hiện bãi bỏ việc sử dụng các khu
phân lũ, làm chậm lũ thuộc hệ thống sông Hồng). Hiện tại lòng sông bị bồi lắng,
lấn chiếm lòng sông chiều rộng bị thu hẹp nhiều, không đủ mặt cắt uớt nên
không đáp ứng được nhiệm vụ thoát lũ, làm giảm khả năng tiêu thoát nước, gây
ngập úng dài ngày cho khu vực thượng nguồn và không đáp ứng được nhiệm vụ
thoát lũ đã đề ra, Hệ thống đê được xây dựng đã lâu đời trên nền đất yếu, đất đấp
đê cũng lấy từ địa phương và không đồng nhất, nhiều nơi bị hư hại vì thiếu duy
tu bảo dưỡng. Nhiều công trình phong lũ như kè, cống được xây dựng đã lâu rất
lạc hậu. Dọc theo đê còn có nhiều ao hồ làm nước lũ khó thoát. Dân cư quá đông
đúc sống kế cận bờ đê. Ngày nay, nhiều nhà cửa xây cất ngay trên bờ đê. Vì vậy
đê có thể bị vỡ bất cứ lúc nào trong mùa lũ lớn.
Gần đây, theo nghiên cứu của các nhà khoa học công bố, các kịch bản của WB,
IPPC (tổ chức liên quốc gia về biến đổi khí hâu toàn cầu) dự báo Việt Nam là một
trong 5 nước trên thế giới sẽ ảnh hưởng nặng nề nhất về mực nước biển dâng do khí
hậu (nhất là các vùng đồng bằng ven biển), mức nước biển dâng từ (3 ÷ 15)cm năm
2010; 33 cm năm 2050 và (45 ÷ 90)cm năm 2070; 100 cm năm 2100.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học lựa
chọn giải pháp công trình đê Hữu sông Đáy thuộc tỉnh Ninh Bình” là rất cấp
3
thiết cho giai đoạn hiện nay, cũng như sự phát triển lâu dài trong tương lai phục vụ
- Đánh giá hiện trạng khả năng chống lũ của đê Hữu sông Đáy thuộc tỉnh
Ninh Bình.
- Đề xuất chọn tuyến, mặt cắt hợp lý và giải pháp ổn định nâng cao khả
năng chống lũ của đê Hữu sông Đáy tỉnh Ninh Bình.
5
CHƯƠNG 1
ngày càng gia tăng cả về cường độ và tần xuất.
6
1TTrận lụt mùa hè năm 1998 trên sông Trường Giang, Trung Quốc gây
nhiều đoạn đê bị vỡ làm hơn 2,1 triệu đất gieo trồng bị nhấn chìm, số người bị
chết 3.000 người, ảnh hưởng đến cuộc sống 240 triệu người, 1Tvà gây thiệt hại
kinh tế ước tính 12,5 tỷ USD.
Lũ lụt ở Pakistan năm 2010 đây là trận lũ lụt lịch sử ở nước này. Hơn 20
triệu người dân quốc gia Nam Á này đã phải di dời vì mực nước dâng cao, hơn
2.000 người thiệt mạng và khoảng 10 triệu người mất nhà cửa. Tổng thiệt hại
kinh tế của trận lụt lịch sử này vào khoảng 43 tỷ USD.
Lũ lụt Thái Lan xảy ra trong mùa mưa năm 2011, đây là trận lụt lịch sử
tại Thái Lan trong vòng 50 năm qua. Bắt đầu từ cuối tháng bảy và tiếp tục trong
hơn hai tháng, lũ lụt đã làm hơn 700 người chết và mất tích, hơn 2,3 triệu người
bị ảnh hưởng. Lũ lụt đã tràn ngập khoảng 6 triệu ha đất, hơn 300.000 ha trong đó
đất nông nghiệp, trong 58 tỉnh, từ Chiang Mai ở miền Bắc đến các khu vực của
thủ đô Bangkok nằm gần các nhánh của lưu vực sông Chao Phraya. Bảy khu
công nghiệp lớn đã bị ngập sâu đến 3 mét và kéo dài khoảng 40 ngày. Ngân hàng
thế giới (WB) đưa ra đánh giá với tổng thiệt hại lên đến 43,3 tỷ đôla, tăng trưởng
kinh tế của Thái Lan cũng sụt giảm từ 3,6% theo dự báo trước đó xuống 2,4%.
Dưới đây là một số hình ảnh ví dụ về thiệt hại do lũ lụt gây ra.
Hình 1-1: Lũ lụt sông Rock River ở Mỹ
phá hủy cầu và đường quốc lộ năm 2011
Hình 1-2: Vỡ đê tại Thái Lan năm 2011
7 Hình 1-3: Lũ lụt tại miền bắc Thái
Tông cho xây dựng năm Mậu Tý (1108) để bảo vệ kinh thành Thăng Long khỏi
ngập lụt. Tháng 3 năm Mậu Thân (1248), vua Trần Thái Tông sai quan ở các lộ
đắp đê ở hai bên bờ sông Hồng từ đầu nguồn tới biển, gọi là Dỉnh Nhỉ Đê hay
Đê Quai Vạc.
Nguyễn Công Trứ đã có công khẩn hoang vùng duyên hải Ninh Bình, Thái
Bình. Chỉ trong 2 năm (1828 - 1829), Ông lập ra 2 huyện Tiền Hải (Thái Bình) và
Kim Sơn (Ninh Bình). Đây là vùng đất bồi, hàng năm tốc độ phù sa bồi tụ tiến ra
biển từ (80 ÷ 100) m. Từ đó, cứ sau (20 ÷ 30) năm, đê biển mới được xây đắp lấn
ra biển. Đến nay, Kim Sơn đã tiến hành quai đê lấn biển sáu lần, tiến ra biển hơn
500 m, nhờ vậy diện tích hiện nay gấp gần 3 lần so với khi mới thành lập.
Hiện nay, Việt Nam có gần 8000km đê, trong đó có gần 6000km đê sông
và 2000km đê biển. Riêng đê sông chính có 3000km và 1000km đê biển quan
trọng. Có gần 600 kè các loại và 3000 cống dưới đê. Ngoài ra còn có 500 km bờ
bao chống lũ sớm, ngăn mặn ở đồng bằng sông Cửu Long. Riêng hệ thống sông
Hồng trong đồng bằng Bắc Bộ có 3000km đê sông và 1500 km đê biển.
Ở miền Bắc có hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình, miền Trung có hệ
thống sông Mã, sông Cả, sông Vu Gia Thu Bồn, sông Vệ, sông Trà Khúc, sông
9
Côn, sông Ba, sông Cái Nha Trang; miền Nam có sông Đồng Nai, sông Bé, sông
Cửu Long Các hệ thống sông này hàng năm đã cung cấp cho chúng ta nguồn
nước quí giá để phục vụ đời sống con người và phát triển nền kinh tế quốc dân.
Lợi ích mà các hệ thống sông này đem lại là vô cùng to lớn, nhưng tác hại do lũ
lụt từ các hệ thống sông này gây ra cho cho con người và nền kinh tế quốc dân
cũng không phải là nhỏ. Tuy nhiên hệ thống đê được xây dựng đã lâu đời trên
nền đất yếu, đất đấp đê cũng lấy từ địa phương và không đồng nhất, nhiều nơi bị
hư hại vì thiếu duy tu bảo dưỡng. Nhiều công trình phong lũ như kè, cống được
xây dựng đã lâu rất lạc hậu. Dọc theo đê còn có nhiều ao hồ làm nước lũ khó
thoát. Dân cư quá đông đúc sống kế cận bờ đê, nhiều nhà cửa xây cất ngay trên
bờ đê. Trong những năm gần đây, nhiều trận lũ lớn thường xuyên xuất hiện ở
lớp dốc, mặt đứt gẫy…). Điều kiện phá hoại chủ yếu do sự tăng thêm áp lực
trong các gián đoạn (áp lực nước, lực rung động…) (hình 1-9, a).
Trượt: Ở dạng di chuyển này, khối đất đá cơ bản không bị xáo trộn trong
khi bị trượt theo một mặt xác định. Nguyên nhân có sự di chuyển này là do phá
hoại cắt dọc theo một
mặt ở trong khối đất. Thực tế thường có hai hình thức
trượt: trượt tịnh tiến (hình 1-9, b) và trượt xoay (hình 1-9, c).
Trượt dòng: Ở đây bản thân khối trượt bị xáo động và di chuyển một phần
hay toàn bộ như một chất lỏng (hình 1-9, d). Trượt dòng thường xảy ra trong đất
yếu bão hoà nước khi áp lực nước lỗ rỗng tăng đủ để làm mất toàn bộ cường độ
(độ bền) chống cắt của đất. Mặt trượt thực hầu như không có hoặc chỉ biểu hiện
từng lúc.
Nội dung ở đây chủ yếu quan tâm đến sự mất ổn định do trượt mái dốc
đắp (mái đê).
Để tính toán ổn định trượt của mái đất người ta có thể dùng phương pháp
phân tích giới hạn hoặc phương pháp cân bằng giới hạn.
12
Phương pháp cân bằng giới hạn dựa trên cơ sở giả định trước mặt trượt
(coi khối trượt như một cố thể) và phân tích trạng thái cân bằng giới hạn của các
phân tố đất trên mặt trượt giả định trước. Mức độ ổn định được đánh giá bằng tỷ
số giữa thành phần lực chống trượt (do lực ma sát và lực dính) của đất nếu được
huy động hết so với thành phần lực gây trượt (do trọng lượng, áp lực đất, áp lực
nước, áp lực thấm…). Hiện đã có kết quả nghiên cứu cho bài toán ba chiều
(Phương pháp của Wike, Lone) tuy nhiên, trong thực tế nhiều công trình có kích
thước một chiều khá lớn như: Đê, đập, tường chắn đất… cho nên có nhiều
phương pháp giải quyết đối với bài toán phẳng: Fellenius, Bishop, Spenser,
Janbu…
Phương pháp phân tích giới hạn dựa trên cơ sở phân tích ứng suất trong
công trình (khối đất đắp: đê, đập…) và nền của chúng. Dùng các thuyết bền:
Sự phân bố các lớp đất đá nói chung đóng vai trò quan trọng đối với vị trí
mặt trượt, thông thường mặt trượt cắt theo lớp đất yếu. Nếu nền đất yếu có chiều
dầy khá nhỏ (so chiều rộng đê đập) thì công trình phá hoại do nền bị đẩy ngang,
nếu nền đất yếu quá dầy công trình bị phá hoại do nền bị lún chồi. Phổ biến là đê
đập trên nền đất yếu bị phá hoại theo mặt trụ tròn qua nền và thân đập.
Tuy nhiên, thực tế còn có nhiều yếu tố khác nữa cũng ảnh hưởng đến hình
dạng mặt trượt như: tải trọng tác dụng trên bề mặt, lực do động đất, áp lực nước
lỗ rỗng, hiện tượng nứt nẻ… cho nên cũng có nhiều quan niệm khác nhau về
hình dạng mặt trượt.
Lịch sử phát triển các phương pháp tính ổn định mái đất liên quan đến giả
định hình dạng chính xác.
Culman (1776) giả thiết mặt trượt phẳng qua chân mái dốc, kết quả nhận
được không chính xác.
Collin (1860 - 1890) thực hiện những khảo sát chi tiết ở một số mái dốc bị
phá hoại và kết luận mặt trượt có dạng gần như mặt trụ tròn.
Vào khoảng (1916) các nhà khoa học Thuỵ Điển lại phát hiện mặt trượt
xấp xỉ dạng trụ tròn và phát triển phương pháp tính toán gọi là phương pháp
Thuỵ Điển.
Frontart và Risal (1920) đề nghị dùng mặt trượt dạng xoắn logarit. Dạng
này thích hợp khi mái đất có độ dốc lớn và chỉ có một loại đất.
Bishop (1950) sử dụng bề mặt trượt trụ tròn và chỉ áp dụng phương trình
cân bằng mô men đối với khối trượt và phương trình cân bằng lực theo phương
đứng.
14
Janbu (1950 - 1960) sử dụng bề mặt trượt dạng bất kỳ và chỉ dùng phương
trình cân bằng lực đối với khối trượt.
Morgensten – Price (1960) sử dụng bề mặt trượt dạng bất kỳ và áp dụng
cả 2 phương trình cân bằng lực và phương trình cân bằng mô men.
Fredlund (1970) sử dụng bề mặt trượt hỗn hợp và áp dụng cả 2 phương
phía hữu ngạn thuộc tỉnh Hà Nam, khi mực nước Hà Nội 10.99 m. Nước lũ làm
ngập gần hết tỉnh Vĩnh Phúc (cũ), một phần Hà Tây, Nam Định, Hà Nam, Thái
Bình và Bắc Ninh.
Năm 1915, từ ngày 11 đến 20 tháng 8: Đê bị vỡ liên tiếp 42 chỗ với tổng
chiều dài 4180 m (từ 11 - 20/7/1915 khi mực nước Hà Nội dao động từ 11,55 m
đến 11,64 m). Những nơi vỡ chính như: Xâm Dương, Xâm Thị đê hữu sông
Hồng thuộc tỉnh Hà Đông. Các chỗ vỡ khác như Lục Cảnh, Hoàng Xá, Trung
Hà tỉnh Phúc Yên; Phi Liệt, Thuỷ Mạo tỉnh Bắc Ninh. Đê tả sông Hồng, vỡ ở:
Mễ Chân tỉnh Hưng Yên; Gia Quất, Gia Thượng, Phú Tòng, Yên Viên, Đông
Thụ, Danh Nam tỉnh Bắc Ninh và một số chỗ khác trên sông Phó Đáy, Đuống
và sông Đáy.
Năm 1945. Một trận lũ lớn vào tháng 8 năm 1945 gây vỡ đê tại 79 điểm,
gây ngập 11 tỉnh với tổng diện tích 312000 ha, ảnh hưởng tới cuộc sống của 4
triệu người.
Năm 1971, ảnh hưởng những trận mưa to liên tục và một cơn bão lớn,
nước trên sông Thao, sông Lô và sông Đà đã hợp lại gây nên cơn lũ lịch sử của
đồng bằng sông Hồng. Mực nước sông Hồng ngày 20 tháng 8 lên đến 14,13 m ở
Hà Nội (cao hơn mực nước báo động cấp III đến 2,63 m). Mực nước Sông Hồng
đo được 18,17 m ở Việt Trì (cao hơn 2,32 m mức báo động cấp III) và 16,29 m ở
Sơn Tây (cao hơn 1,89m mức báo động cấp III). Đồng thời mực nước ở các
Sông Cầu, Sông Lô, Sông Thái Bình lên cao hơn bao giờ hết. Mưa lũ năm 1971
đã gây vỡ đê ở ba địa điểm, làm chết 100000 nguời, úng ngập 250000 ha và hơn
2,7 triệu người bị thiệt hại.