BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI PHẠM THỊ MAI HƯƠNG NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CỦA CÂY
MÓC TRÊN THỰC NGHIỆM THEO
HƯỚNG LÀM THUỐC CẦM MÁU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI - 2013
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
PHẠM THỊ MAI HƯƠNG
Ths. Nguyễn Thị Hương Giang – Bộ môn Y học cơ sở
TS. Nguyễn Thu Hằng - Bộ môn Dược liệu
Những cô giáo luôn tận tình dạy dỗ, chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá
trình làm khoá luận.
Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo và anh chị kĩ thuât
viên Bộ môn Dược lực, Bộ môn Y học cơ sở và Bộ môn Dược liệu đã nhiệt
tình giúp đỡ em hoàn thành khoá luận.
Em xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, các phòng ban, cùng toàn thể
các thầy cô giáo, các cán bộ trường Đại học Dược Hà Nội đã tạo điều kiện để
em có thể lĩnh hội những kiến thức quí giá về ngành Dược trong suốt 5 năm
học.
Cuối cùng, em gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân, bạn bè
đã luôn ủng hộ, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khoá luận này.
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Phạm Thị Mai Hương
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT STT Kí hiệu
2 Bảng 3.2
So sánh tác dụng của bẹ và rễ móc trên thời gian
chảy máu
32
3 Bảng 3.3
Ảnh hưởng của số lần dùng bẹ móc tới thời gian
chảy máu đuôi chuột
34
4 Bảng 3.4
Ảnh hưởng của bẹ móc đến số lượng tiểu cầu và
một số chỉ số đông máu cơ bản
35
5 Bảng 3.5
Tác dụng tại chỗ của bẹ móc trên thời gian chảy
máu
36
6 Bảng 3.6
Tác dụng chống viêm cấp đường uống của bẹ
móc
38
7 Bảng 3.7
Tác dụng chống viêm cấp tại chỗ của bẹ móc 39
8 Bảng 3.8
chảy máu
32
4 Hình 3.3 Tác dụng tại chỗ của bẹ móc trên thời gian chảy
máu
36
5 Hình 3.4 Tác dụng chống viêm cấp đường uống của bẹ
móc
38
6 Hình 3.5 Tác dụng chống viêm cấp tại chỗ của bẹ móc 40
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Chảy máu là hiện tượng máu ra khỏi thành mạch vì vỡ mạch hay không
vỡ mạch. Là một hội chứng rất hay gặp, có thể xảy ra ở mọi cơ quan trong cơ
thể như rong kinh hay băng huyết, chảy máu cam, chảy máu chân răng, ho ra
máu,…Chảy máu gây hậu quả nặng hoặc nhẹ tuỳ thuộc lượng máu bị mất, tốc
độ chảy máu và số lần chảy máu. Trong trường hợp chảy máu cấp nặng, có
thể gây sốc hoặc thậm chí gây tử vong. Chảy máu mạn tính với tình trạng rỉ
máu liên tiếp kéo dài, tuy không nguy hiểm trực tiếp nhưng có nhiều hậu quả
về sau. Chảy máu mạn thường khó khăn trong chẩn đoán, có thể gặp trong các
thể bệnh như: ung thư tử cung, loét dạ dày tá tràng, nhiễm ký sinh trùng
đường ruột, điều trị thuốc chống đông máu, Ngoài ra, chảy máu dẫn đến gây
chèn ép, nguy hiểm trong các trường hợp như: tụ máu trong não, chảy máu
màng não, chảy máu bao tim (do vỡ tim) có thể gây tử vong đột ngột [23]. Có
rất nhiều trường hợp chảy máu kết hợp với các triệu chứng viêm, nhưng cũng
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Quá trình đông máu, cầm máu
Cầm máu là một quá trình diễn ra nhằm hạn chế hoặc ngăn cản máu
chảy ra khỏi mạch khi thành mạch bị tổn thương. Quá trình cầm máu được
thực hiện qua năm giai đoạn: co mạch, hình thành nút tiểu cầu, đông máu, co
cục máu đông và tan cục máu đông. Sau khi quá trình cầm máu hoàn thành tại
nơi tổn thương mô xơ phát triển thành sẹo làm liền vết thương [2].
1.1.1. Co mạch tại chỗ
Ngay sau khi thành mạch bị tổn thương, mạch máu sẽ co lại để hạn chế
lượng máu thoát ra ngoài. Co mạch còn có tác dụng làm tốc độ lưu chuyển
máu chậm lại, tạo điều kiện cho việc hình thành nút tiểu cầu và cục máu đông.
Cơ chế của co mạch là do những xung động đau nơi mạch bị tổn thương sẽ
hoạt hóa thần kinh giao cảm gây phản xạ co mạch. Ngoài ra, tại vị trí tổn
thương sẽ xuất hiện hiệu điện thế hoạt động, điện thế hoạt động này sẽ lan
truyền dọc theo thành mạch gây co mạch. Serotonin và thromboxanA
2
kéo dài, xuất hiện nhiều nốt xuất huyết dưới da và niêm mạc, bệnh nhân dễ bị
chảy máu khi bị sang chấn nhẹ và thời gian chảy máu kéo dài trên 6 phút.
Chảy máu nặng xảy ra khi số lượng tiểu cầu giảm dưới 50G/l, nếu số lượng
tiểu cầu chỉ còn 10G/l thì bệnh nhân sẽ chết vì không cầm được máu [2].
1.1.3. Tạo cục máu đông
Đông máu là trạng thái tự bảo vệ của cơ thể khi có chảy máu. Sau khi
ra ngoài lòng mạch 2 – 4 phút, máu đông lại. Đông máu nghĩa là máu chuyển
từ thể lỏng sang thể đặc nhờ chuyển fibrinogen hoà tan trong huyết tương
thành fibrin không hoà tan dưới xúc tác của thrombin [14].
Đông máu là một chuỗi phản ứng hóa học của yếu tố đông máu có
trong huyết tương, các mô tổn thương và tiểu cầu. Đông máu gồm 3 giai
đoạn: giai đoạn tạo prothrombinase, giai đoạn chuyển prothrombin thành
thrombin và giai đoạn chuyển fibrinogen thành fibrin [2]. 5
1.1.3.1. Giai đoạn tạo prothrombinase
Đây là giai đoạn phức tạp nhất và kéo dài nhất của quá trình đông máu. Giai
đoạn này được xảy ra theo hai con đường: nội sinh và ngoại sinh.
Ngoại sinh: khi mô bị tổn thương, giải phóng thromboplastin (yếu tố
III) và phospholipid của mô. Hai yếu tố trên kết hợp với Ca
2+
hoạt hoá yếu tố
VII. Yếu tố VII kết hợp với Ca
2+
hoạt hoá yếu tố IX. Yếu tố IX hoạt hoá kết
hợp với Ca
tố V trong con đường ngoại sinh. Do vậy, với một lượng nhỏ thrombin có sẵn
trong máu và sau đó được sinh ra nhanh chóng từ con đường ngoại sinh sẽ lập
tức tạo ra một feedback dương tính để tạo ra nhiều thrombin hơn, hoạt hoá
quá trình hình thành cục máu đông [2]. 7
1.1.3.3. Giai đoạn chuyển fibrinogen thành fibrin
Dưới tác dụng của thrombin các phân tử fibrinogen bình thường hoà
tan sẽ biến thành fibrin đơn phân. Các fibrin đơn phân sẽ trùng hợp để tạo ra
sợi fibrin trong vài giây. Các sợi fibrin này nối lại với nhau bằng cầu nối
hydro lỏng lẻo nên không bền. Dưới tác dụng của yếu tố ổn định fibrin - yếu
tố `XIII
h
(do thrombin hoạt hoá), các cầu nối hydro được thay thế bằng các
cầu nối đồng hoá trị, tạo ra mạng lưới fibrin bền vững. Cục máu đông hình
thành sẽ có tác dụng bịt kín chỗ tổn thương một cách vững chắc [2].
1.1.4. Co cục máu đông và tan cục máu đông
1.1.4.1. Co cục máu đông
Sau khi máu đông khoảng 1 – 2 giờ, cục máu đông co lại và giải phóng
ra toàn bộ dịch của nó gọi là huyết thanh. Hiện tượng co cục máu đông có tác
dụng làm mép vết thương khép lại gần nhau hơn để tạo điều kiện cho sự tạo
sẹo [2].
1.1.4.2. Tan cục máu đông
Là hiện tượng cục máu đông tan ra dưới tác dụng của plasmin được
hoạt hóa từ plasminogen. Plasmin là một enzyme có khả năng phân hủy fibrin
mạnh, do đó làm tan cục máu đông. Tan cục máu đông là một trong những cơ
cao kéo dài.
Tuỷ bị lấn át: do thâm nhiễm các tế bào ác tính trong tuỷ làm giảm số
lượng tiểu cầu do đó giảm số lượng tiểu cầu ở máu ngoại vi, thường gặp ở các
bệnh máu ác tính như: Leukemia cấp, Leukemia thể tuỷ mạn tính giai đoạn
chuyển dạng cấp.
Dị ứng: tác động của thuốc làm cơ thể sinh kháng thể kháng tiểu cầu.
Nhiễm khuẩn: sốt xuất huyết, nhiễm khuẩn huyết
1.2.2.3. Xuất huyết giảm tiểu cầu tự miễn
Là một bệnh tự miễn, trong đó một tự kháng thể IgG được tạo thành và
gắn vào tiểu cầu, phần Fc của tự kháng thể này bị đại thực bào ở lách nhận
9
diện (do chúng có thụ thể Fc). Các đại thực bào ở lách sẽ gắn với tiểu cầu có
phủ kháng thể làm tiểu cầu bị tiêu huỷ. Mặc dù có sự gắn bổ thể vào tự kháng
thể nhưng quá trình này không gây tiêu huỷ tiểu cầu trực tiếp [5].
1.2.3. Do bệnh huyết tương
Các thành phần trong huyết tương liên quan mật thiết tới quá trình đông
máu. Việc thiếu hụt các thành phần của huyết tương gây ra bệnh huyết tương
như: thiếu hụt yếu tố tạo thành thromboplastin, thiếu hụt prothrombin và
proconvertin,…
1.2.3.1. Do thiếu hụt yếu tố tạo thành thromboplastin
Bệnh Hemophylia là bệnh hay gặp nhất do thiếu hụt yếu tố VIII, IX tạo
thành thromboplastin. Đây là bệnh bẩm sinh do di truyền trên nhiễm sắc thể
X, thường gặp ở con trai. Bệnh càng nặng thì triệu chứng xuất huyết càng
sớm. Xuất huyết thường xảy ra sau một chấn thương dù rất nhẹ, ít có khả
năng tự cầm máu, hay tái phát ở một nơi nhất định [5].
1.2.3.2. Thiếu prothrombin và proconvertin
Thiếu prothrombin và proconvertin có thể gặp trong các trường hợp tổn
Thời gian máu chảy bình thường từ 3 - 9 phút. Thời gian máu chảy tăng
do giảm số lượng hoặc chất lượng của tiểu cầu, thành mạch [19].
1.3.1.2. Số lượng tiểu cầu
Số lượng tiểu cầu bình thường 150 - 400 x 10
9
. Số lượng tiểu cầu được
xác định cùng với công thức máu toàn phần qua máy đếm tự động. Trong
những trường hợp khẩn cấp khi mà không đếm được thì có thể nhìn trên tiêu
bản máu [19].
1.3.1.3. Chức năng tiểu cầu
Đánh giá chức năng tiểu cầu bằng cách chống đông bằng citrat khối
huyết tương giàu tiểu cầu. Máy đo ngưng tập tiểu cầu được sử dụng để kiểm
tra đáp ứng của tiểu cầu với những chất ngưng tập bao gồm collagen, ADP,
11
acid arachidonic để kiểm tra đáp ứng kết tụ tiên phát và thứ phát, phản ứng
giải phóng của tiểu cầu [19].
1.3.2. Xét nghiệm đông máu
1.3.2.1. Thời gian thrombin (Thrombin Time: TT)
Xác định PT nhằm đánh giá sự chuyển dạng từ fibrinogen sang fibrin
bởi hệ thống nội sinh và ngoại sinh khi có thrombin trong hệ thống thử.
Thrombin được pha loãng cho vào huyết tương chống đông bằng citrat.
Thời gian TT bình thường từ 10 - 15 giây. PT kéo dài trong các trường
hợp: giảm fibrinogen máu, rối loạn fibrinogen máu.
1.3.2.2. Thời gian prothrombin (Prothrombin Time: PT)
Xác định PT nhằm đánh giá con đường đông máu ngoại sinh. PT là thời
gian đông huyết tương đã được chống đông bằng natri citrat hoặc oxalat, nay
được phục hồi calci và thêm yếu tố của tổ chức (thromboplastin) [12].
Cơ chế: các tiền chất của yếu tố đông máu II, VII, IX, X - gọi là
PIVKA (protein induced by vitamin K absence) chỉ có hoạt tính khi gốc
glutamat trong cấu trúc hoá học của nó được carboxyl hoá bởi hệ enzym ở
microsom gan. Khi huyết tương chưa đủ vitamin K, các tiền chất đó chưa
chuyển thành các yếu tố đông máu có hoạt tính được. Khi có mặt vitamin K
thì vitamin K hoạt hoá hệ thống enzym ở microsom gan, nên PIVKA được
carboxyl hoá, chuyển thành các yếu tố đông máu II, VII, IX, X có hoạt tính và
kết hợp được với Ca
2+
trên bề mặt tiểu cầu, chuyển fibrinogen thành fibrin
cùng với xúc tác của thrombin tạo nên quá trình đông máu.
Calci clorid
Ca
2+
cần để hoạt hoá các yếu tố đông máu nhất là các yếu tố VIII, IX, X
và chuyển prothrombin thành thrombin để tham gia vào quá trình đông máu.
Coagulen
13
Coagulen là tinh chất máu toàn phần, đặc biệt có tinh chất của tiểu cầu
có tác dụng làm đông và cầm máu.
Carbazochrom
Carbazochrom làm tăng sức đề kháng của mao mạch, giảm tính thấm
thành mạch nên giảm thời gian chảy máu. Carbazochrom không tác dụng lên
quá trình đông máu [14].
Ethamsylat và dobesylat calci
Cơ chế: làm tăng sức đề kháng của mao mạch, giảm tính thấm thành
mạch nên giảm thời gian chảy máu.
trong trường hợp xuất huyết do huyết ứ thì thường dùng kết hợp với huyết dư
thán; ngoài ra tam thất còn dùng để điều trị chấn thương sưng nề [1], [9].
1.4.2.2. Hoè hoa
Hoè hoa có tác dụng lương huyết chỉ huyết dùng trong các trường hợp
huyết nhiệt gây xuất huyết như chảy máu cam, trĩ chảy máu, phụ nữ băng
huyết, đại tiểu tiện ra máu [9].
1.4.2.3. Trắc bách diệp
Trắc bách diệp có tác dụng lương huyết chỉ huyết điều trị các chứng
xuất huyết do huyết nhiệt, thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác [1].
1.4.2.4. Bạch cập
Bạch cập có tác dụng chỉ huyết, dùng trong các bệnh ho ra máu, xuất
huyết đường tiêu hoá, chảy máu ngoài [7].
1.4.2.5. Tông lư
Tông lư là bẹ của cây móc có tác dụngchỉ huyết, dùng trong các bệnh
xuất huyết bên trong, chảy máu cam, thổ ra huyết, phụ nữ băng huyết, đại tiểu
tiện ra huyết, lỵ, chảy máu mủ [6].
1.5. Các phương pháp xác định thời gian chảy máu trên động vật
1.5.1. Xác định thời gian chảy máu trên đuôi chuột
Phương pháp này được tiến hành lần đầu tiên do Dottl và Ripke năm
1936 và được sử dụng phổ biến để nghiên cứu tác dụng cầm máu trong các thí
15
nghiệm dược lý. Phương pháp này dùng để đánh giá những khiếm khuyết của
hệ thống đông máu và ảnh hưởng của thuốc lên quá trình cầm máu [30].
Tiến hành: thí nghiệm có thể tiến hành trên chuột cống trắng và chuột
nhắt trắng. Gây mê chuột, dùng dao lam sắc cắt 1 đoạn đuôi chuột 2 - 4mm
[3], [30], [34], [37], [38], [39]. Ngay sau khi cắt, nhúng đuôi chuột vào nước
cất, dung dịch nước muối sinh lí hoặc dùng giấy lọc thấm máu. Xác định thời
máu xác định với một động mạch ruột tại chỗ nối của màng ruột với ruột.
Dùng một cây kim đâm vào động mạch, quan sát thời gian chảy máu
động mạch màng ruột qua một kính hiển vi 40X. Thời gian chảy được xác
định từ khi đâm kim tới khi máu ngừng chảy [30].
1.5.4. Xác định thời gian chảy máu trên khe mũi thỏ
Phương pháp này do Hanifi Kurtaran cùng cộng sự tiến hành năm 2010
để đánh giá tác dụng cầm máu của thuốc nghiên cứu [35].
Tiến hành: thỏ cái trưởng thành được gây mê với 5mg/kg xylocain
hydrochlorid and 50mg/kg ketamin chlorid. Dùng 1 thiết bị gây tổn thương
dài 3 mm tạo vết thương trên khe mũi của thỏ. Sau 1 – 2 giây từ khi tạo vết
thương thì máu bắt đầu chảy, các vết thương được điều trị ngẫu nhiên bằng
thuốc nghiên cứu hoặc dung dịch nước muối sinh lí. Dùng tăm bông ấn nhẹ
nhàng vào vết thương 1 giây trong vòng 30 giây đến khi máu ngừng chảy.
Thời gian chảy máu được xác định từ khi máu bắt đầu chảy tới khi máu
ngừng chảy [35].
1.5.5. Xác định thời gian chảy máu trên niêm mạc miệng chó
Foresythe và Willis (1989) đã mô tả một phương pháp có thể cho phép
xác định thời gian chảy máu trên niêm mạc miệng của chó để phát hiện những
bất thường của cầm máu.
Tiến hành: đặt chó ở tư thế nằm nghiêng hoặc nằm ngửa. Dùng một
mảnh gạc buộc chặt xung quanh cả hàm trên và hàm dưới của chó. Dùng thiết
17
bị gây tổn thương đặt áp vào niêm mạc miệng chó song song với mép và gây
tổn thương niêm mạc miệng chó. Máu chảy ra từ vết thương được thấm bằng
giấy thấm tròn đặt ngay dưới miệng nhưng không chạm vào vết thương. Sau
15 giây thay đổi vị trí giấy thấm một lần. Thời điểm kết thúc chảy máu được
xác định khi không còn máu trên giấy thấm nữa. Thời gian chảy máu được
Móc là loại cây nhiệt đới tương đối điển hình. Cây phân bố rải rác khắp
các nước Ấn Độ, Xrilanca đến Malayxia, Thái Lan, Lào, Campuchia,
Indonesia và Việt Nam. Ở Việt nam cây cũng phân bố rải rác ở các tỉnh từ
vùng núi thấp (dưới 1000m) đến vùng trung du và đồng bằng, tập trung nhiều
nhất ở Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Bắc Giang, Tuyên Quang và các tỉnh
khu 4 cũ. Cây thường mọc rải rác ở ven rừng thứ sinh, trong các lùm bụi gần
khu dân cư. Móc còn được trồng ở nhiều nơi để làm cảnh.
Móc ra hoa quả hàng năm hoặc cách năm. Tuy nhiên, lượng cây con
mọc ra từ hạt rất ít. Cây có khả năng sinh chồi khoẻ từ gốc. Một năm cây mẹ
có thể tạo 3 – 5 cây con, sau 10 năm trồng đã thành bụi lớn [13], [16], [18],
[25].
1.6.3. Bộ phận dùng
Bẹ, rễ thu hái quanh năm, phơi khô. Ngoài ra người ta còn dùng quả
[13], [25].
1.6.4. Thành phần hoá học
Dịch ngọt của cây chứa 13,6% saccharose và vết của đường giảm, khi
cho lên men dịch hay rượu ngọt của cây chứa 1% đường giảm, 2 – 4,5% rượu
và 0,3% acid acetic [13], [25].
Theo Nambiar và cộng sự trong quả của Caryota urens có chứa rất
nhiều acid ascorbic với hàm lượng có thể so sánh với lượng acid ascorbic
trong quả cam [36].
19
Quả móc có chứa rất nhiều đường [31], [32], [36]. Bằng phương pháp
sắc kí (phương pháp Giri và Rao), Gopinathan và cộng sự thấy rằng trong quả
Caryota urens có chứa trên 10% saccharose, glucose, fructose và ít inositol
[31].