LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản khoá luận này ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã
nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô, bạn bè và gia đình.
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thế
Hùng người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và đóng góp những ý kiến quý báu
trong quá trình thực hiện khoá luận.
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đến các thầy, cô và các cán bộ nhân viên trong
khoa Nông học - Học viện Nông Nghiệp Việt Nam, trong bộ môn đã tận tình
truyền đạt những kiến thức rất hữu ích cho tôi trong thời gian học tập tại
trường, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và
thực hiện đề tài tốt nghiệp của mình.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình đã chăm lo cho tôi mọi điều kiện
vật chất lẫn tình thần trong suốt quá trình học tập.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn những người thân, bạn bè đã cộng tác,
giúp đỡ và khích lệ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp này.
Cuối cùng, tôi xin kính chúc quý thầy cô, cán bộ công nhân viên chức
trường Học viện Nông Nghiệp Việt Nam sức khỏe và thành công trong sự
nghiệp cao quý này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả bài khoá luận
Đỗ Thị Thanh Loan
i
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
PHẦN V 59
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1: Ảnh hưởng mật độ đến động thái tăng trưởng chiều cao của
hai giống ngô thí nghiệm 32
Biểu đồ 4.3: Ảnh hưởng mật độ đến chiều cao cây cuối cùng và chiều cao
đóng bắp của hai giống ngô thí nghiệm 36
Biểu đồ 4.4: Ảnh hưởng mật độ đến diện tích lá và chỉ số diện tích lá của
hai giống ngô thí nghiệm 40
Biểu đồ 4.5: Ảnh hưởng mật độ đến chỉ số màu xanh (SPAD) của hai giống
ngô thí nghiệm 43
Biểu đồ 4.6: Ảnh hưởng của mật độ đến đặc điểm hình thái bắp của 51
2 giống thí nghiệm 51
Biểu đồ 4.7: Ảnh hưởng của mật độ đến năng suất của 2 giống ngô thí
nghiệm 56
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
FAO : Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc
BNN & PTNT : Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn
TB : Trung Bình
BCT : Bầu cải tiến
CT : Công thức
ĐC : Đối chứng
LAI : Chỉ số diện tích lá
SPAD : Chỉ số màu xanh
CCCC : Chiều cao cuối cùng
CCĐB : Chiều cao đóng bắp
TLCCĐB : Tỷ lệ chiều cao đóng bắp
NSLT : Năng suất lý thuyết
NSTT : Năng suất thực thu
v
khoảng cách giữa các hàng và khoảng cách giữa các cá thể. Đồng thời, để khắc
phục một số khó khăn về thời vụ, thời tiết bất thuận,… người nông dân đã áp
dụng kỹ thuật làm bầu cho cây ngô thời kỳ cây con ở giai đoạn đầu trong vườn
ươm sau đó chuyển ra ruộng trồng. Hiện nay, sản xuất bầu được làm theo các
cách: sử dụng túi nilong hoặc gieo trực tiếp trên khay có lỗ. Cả hai cách làm bầu
trên trên có các nhược điểm như: bầu bằng túi nilong chỉ sử dụng 1 lần gây lãng
phí, tăng chi phí, gây ô nhiễm môi trường; làm bầu gieo trên khay có thể tích
nhỏ, khi ra bầu dễ bị vỡ, thời gian sống trong bầu ngắn, chất lượng cây giống
kém làm năng suất bị giảm (Cao Kỳ Sơn, 2008). Một hướng nghiên cứu mới là
tạo các vỏ bầu từ thân lá, phụ phẩm nông nghiệp thay thế vỏ bầu làm từ túi ni
lông để tận dụng nguồn nguyên liệu từ các sản phẩm phụ nông nghiệp dồi dào
như rơm rạ và thân lá cây trồng sau thu hoạch, giúp giải quyết các vấn đề ô
nhiễm môi trường, và sản xuất ra bầu công nghiệp giá thành thấp. Sử dụng vỏ
bầu hữu cơ công nghiệp cho phép tích hợp nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật mới
như: sử dụng phân viên nén, các loại phân chậm tan, các loại chất giữ nước, giữ
ẩm, có thể trồng dày nhằm tăng mật độ cho năng suất ngô cao…
Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Xác định mật độ trồng ngô bằng bầu cải tiến trong điều kiện vụ Đông năm
2014 tại vùng Gia Lâm – Hà Nội”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu, đánh giá các đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các
giống trên vật liệu bầu.
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của cây ở các mật độ
trồng bầu khác nhau, lựa chọn mật độ trồng thích hợp nhất cho 2 giống ngô
thí nghiệm.
2
PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Tình hình nghiên cứu và sản xuất ngô trên thế giới.
Trong nhiều thập kỉ qua các nhà khoa học trên thế giới đã thành công
trong việc nghiên cứu, khai thác tiềm năng của cây ngô. Chính vì vậy cây ngô
thành công kỳ diệu của nhân loại. Nhờ sử dụng giống ngô lai và kỹ thuật trồng trọt
3
tiên tiến mà năng suất ngô trên thế giới đã tăng 5 lần trong vòng 53 năm (1961-
2013), nhất là các nước có điều kiện thâm canh như Mỹ, Trung Quốc, Brazil.
Bảng 2.2. Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2013
Nước
Diện tích
(triêu ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
Mỹ 35.35 77.44 273.83
Trung Quốc 34.96 59.55 208.25
Brazil 14.22 50.11 71.29
Ấn Độ 8.40 25.07 21.06
Mêxicô 6.92 31.87 22.06
Indonesia 3.95 48.93 19.37
Argentina 3.50 73.42 25.70
Pháp 1.71 90.85 15.61
Hungari 1.19 39.84 4.74
Thái Lan 1.08 44.56 4.81
Chilê 0.13 107.22 1.49
(Nguồn FAOSTAT, 2014)
Số liệu bảng 2.2 cho thấy: Mỹ là nước có diện tích trồng ngô nhiều nhất trên
thế giới, năm 2013 diện tích ngô của Mỹ là 35.35 triệu ha chiếm 31.72% diện tích
trồng ngô trên toàn thế giới, tiếp Mỹ là Trung Quốc với 34.96 triệu ha chiếm
31.37% diện tích trồng ngô trên thế giới, đứng thứ ba là Brazil (14.22 triệu ha).
Về năng suất thì Chi lê là nước đạt năng suất ngô cao nhất, năm 2013
năng suất ngô của Chilê đạt 107.22 tạ/ha, cao gấp 1.8 lần năng suất trung bình
2000 730,2 2,51 2.005,9
2009 1.086,8 4,03 4.381,8
2010 1.126,9 4,09 4.606,8
2011 1121,2 43,1 4835,7
2012 1118,2 42,9 4803,1
2013 1172,6 44,3 5193,5
(Nguồn: FAOSTAT 2014 và Niên giám thống kê, 2014)
Sản xuất ngô ở Việt Nam trải qua nhiều bước thăng trầm, đến nay đã đạt
được những thành tựu to lớn, được chia làm 3 giai đoạn chính:
Giai đoạn 1: Trước năm 1975 do điều kiện còn khó khăn nên cây ngô chưa
được chú trọng, vì vậy diện tích ngô chỉ đạt 209 ngìn ha, năng suất 1,07 tấn/ha,
với sản lượng bình quân 224 nghìn tấn/năm.
Giai đoạn 2: Từ năm 1975-1994 diện tích trồng ngô tăng chậm từ 229,2
nghìn ha (năm 1975) lên 534,6 nghìn ha (năm 1992). Đầu những năm 1990
5
ngành sản xuất ngô Việt Nam thực sự có một bước tiến nhảy vọt, gắn liền với
việc sử dụng giống ngô lai ra sản xuất, đây là bước chuyển tiếp quan trọng trong
chương trình phát triển ngô lai ở Việt Nam - từ giống thụ phấn tự do sang giống
ngô lai quy ước. Hàng loạt các giống ngô lai Việt Nam đã được mở rộng ra sản
xuất: LVN10, LVN4, LVN5, LVN9, LVN12, LVN17 Do được chọn tạo trong
nước nên các giống ngô được tạo ra có khả năng thích ứng với điều kiện sinh
thái và tập quán canh tác của người dân, giá thành giống chỉ bằng 50-70% so với
các giống nước ngoài cùng loại.
Giai đoạn 3: Từ năm 1994 đến nay, diện tích trồng ngô tăng nhanh, đồng
thời với việc tăng không ngừng về năng suất. Năm 2013 năng suất và sản
lượng ngô cao nhất từ trước đến nay, năng suất đạt 44,3 tấn/ha, sản lượng
5193,5 nghìn tấn trên diện tích 1172,6 nghìn ha. So với năm 1990, khi chưa
sử dụng giống ngô lai trong sản xuất thì diện tích tăng trên 2,7 lần, còn sản
lượng tăng trên 7,7 lần.
Có thể nói việc phát triển và sử dụng các giống ngô lai trong sản xuất ở
tích) thành phần hỗn hợp bầu bao gồm mùn sét, mùn cát sét và mùn cát có tỉ lệ
1:2:2; 1:1:1 hay 1:2:0 đều cho thấy cây con mập, khoẻ.
Theo Bunt (1965), hỗn hợp bầu gieo hạt (tính theo thể tích) 1 than bùn rêu
nước + 1 cát bổ sung 2,4kg đá vôi nghiền + 0,6kg supephotphat 20% + 285g
KNOP3. Nhưng ở hỗn hợp bầu trồng cây 3 than bùn rêu nước + 1 cát thì bổ sung
1,8kg đá vôi nghiền + 1,5kg supephotphat 20% + 740g KNOP3 + 1,2g NH4NO3.
Trung tâm nghiên cứu phát triển Rau châu Á khuyến cáo việc sử dụng rêu
than bùn hoặc chất khoáng được coi như môi trường tốt cho cây con. Ví dụ: đối
với ớt, sử dụng 3 phần than bùn + 1 phần chất khoáng. Hỗn hợp đặc biệt bao
gồm đất + rêu than bùn + phân chuồng. Trấu hun và trấu đốt cũng được sử dụng
như thành phần của hỗn hợp.
7
2.3.2. Một số nghiên cứu sử dụng bầu và giá thể tại Việt Nam.
Sử dụng bầu trồng cây là tiến bộ kỹ thuật hiện được áp dụng rộng rãi đối
với các loại cây cây con, cây giống đúng thời vụ, giải quyết các khó khăn thời
tiết không thể khắc phục khi gieo trồng các loại cây trồng cạn. Trên thế giới nói
chung và tại Việt Nam nói riêng việc nghiên cứu tạo bầu trồng cây đã phát triển
từ lâu, các nguyên liệu được nghiên cứu sừ dụng là những nguyên liệu có sẵn
trong tự nhiên như: phế phụ phẩm nông nghiệp, chất hữu cơ: than bùn, mạt cưa,
vỏ trấu hun, Việc nghiên cứu và sử dụng bầu cho cây con trong giai đoạn vườn
ươm ở Việt Nam đã được tiến hành trên nhiều đối tượng cây trồng như: cây lâm
nghiệp, cây công nghiệp, cây ăn quả, rau, ngô …
Hiện nay sản xuất bầu được làm theo các cách: sử dụng túi nilon hoặc
gieo trực tiếp trên khay có lỗ, …
Theo Tạ Thu Cúc và cs., (2000) ở những vùng có điều kiện tự nhiên khắc
nghiệt và đối với những giống rau quý hiếm có thể gieo cây con trong vườn
ươm. Giá thể làm bầu gồm đất bột đã phơi ải, đập nhỏ, sạch cỏ dại chiếm 1/3
khối lượng ruột bầu, 1/3 xỉ than và 1/3 phân chuồng hoai mục trộn đều, cứ 10kg
ruột bầu (chất bồi dưỡng cây giống) trộn thêm 0,5kg supe lân để xúc tiến quá
trình hình thành và sinh trưởng của rễ. Nếu gieo hạt vào khay thì độ dày của
hơn 200cm và mật độ từ 0,5 đến 24 vạn cây/ha. Giai đoạn trước năm 1940,
khoảng cách giữa các hàng chủ yếu phụ thuộc vào kích thước của ngựa (vốn
được dùng chủ yếu trong canh tác ngô ở Mỹ thời đó), và khoảng cách thuận lợi
cho việc canh tác là 100 – 112 cm.
Cùng với việc mở rộng các giống ngô lai và cơ giới hóa, khoảng cách
hàng hẹp hơn đã trở nên phổ biến với khoảng cách cây đều nhau hơn. Stickler
(1964) ở Kansas kết luận rằng: với cùng một mật độ nhưng khoảng cách hàng
51 cm cho năng suất tăng 5% so với 102 cm ở điều kiện khô hạn và 6% ở điều
9
kiện có tưới. Rossman và Cook (1966) thu được năng suất tăng 14% ở khoảng
cách hàng 46 cm so với 91 cm ở Michigan. Collvile (1966), qua 9 thí nghiệm ở
Nebraska cho thấy, năng suất hạt tăng 16% ở khoảng cách hàng 51cm so với
102 cm. Stivers và cộng sự (1971), trong thí nghiệm ở Indiana cho thấy năng
suất tăng 7% ở khoảng cách hàng 51 cm và 4% ở khoảng cách hàng 76 cm so
với 102 cm. Barbieli và cộng sự (2000) ở Argentina đã công bố kết quả nghiên
cứu ảnh hưởng của khoảng cách hàng gieo 35 cm và 70 cm với cùng mật độ 7,6
vạn cây/ha ở 2 giống ngô lai DK636 và DK639 trong 2 năm 1996 và 1997 cho
thấy: trong điều kiện gieo hàng hẹp (35 cm) năng suất cao hơn hẳn so với
khoảng cách truyền thống.
Widdicombe và Kurt D.Thelen (2002), đã làm thí nghiệm với 4 giống ngô
khác nhau về thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, kiểu bắp và góc lá tại 6 địa
điểm ở vành đai ngô nước Mỹ, vào năm 1998 – 1999, với 5 mật độ từ 5,6 – 9
vạn cây/ha và khoảng cách hàng là 38 cm, 56 cm và 76 cm đã rút ra các kết
luận: năng suất đạt cao nhất ở khoảng cách hàng 38 cm và 9 vạn cây/ha.
Các nghiên cứu ở Liên Xô và Bungari cho thấy, năng suất ngô vẫn
tăng khi tăng mật độ đến trên 10 vạn cây/ha với điều kiện đủ ẩm và dinh
dưỡng. Trường hợp đủ ẩm nhưng không bón phân thì càng tăng mật độ năng
suất càng giảm và năng suất tối ưu không vượt quá 4,5 vạn cây/ha. Trường
hợp có bón phân nhưng không đủ ẩm thì khi tăng mật độ lên 9 – 10 vạn
cây/ha vẫn cho năng suất cao hơn trong trường hợp đủ ẩm nhưng thiếu dinh
Từ năm 2006, Bộ Nông Nghiệp đã ban hành Hướng dẫn quy trình kỹ
thuật thâm canh ngô lai đạt năng suất trên 7 tấn/ha ở các tỉnh miền Bắc. Trong
đó khuyến cáo, với các giống dài ngày nên trồng với mật độ từ 5,5 – 5,7 vạn
cây/ha, các giống ngắn ngày và trung bình trồng 6,0 – 7,0 vạn cây/ha với khoảng
cách giữa các hàng là 60 – 70 cm. Tuy vậy, nhiều nơi bà con nông dân chưa
trồng đạt mật độ khuyến cáo, có nơi chỉ đạt khoảng 3 vạn cây/ha, đây là một
trong những nguyên nhân chính dẫn đến năng suất ngô trong sản xuất của nước
ta chỉ mới đạt 30 – 40% so với tiềm năng năng suất trong thí nghiệm. Trên cả
nước chỉ mới có tỉnh An Giang đạt năng suất trung bình 7,5 – 7,8 tấn/ha trên
diện tích gần 10.000 ha từ năm 2006 đến nay.
2.5. Kỹ thuật làm ngô bầu truyền thống
* Chọn vị trí làm bầu
11
- Vị trí làm bầu ngô phải thông thoáng, tốt nhất làm ngay gần ruộng dự
kiến trồng ngô, gần nguồn nước, dễ vận chuyển ra ruộng; nơi làm bầu cần san
phẳng và nhặt sạch cỏ dại.
* Kỹ thuật làm bầu ngô
- Trộn đất bùn với phân chuồng hoai mục theo tỷ lệ 2 đất bùn + 1 phân
chuồng, bổ sung 3 kg phân lân (40 kg đến 50 kg bùn ao + 20 kg phân chuồng
hoai mục + 3 kg phân lân cho số bầu để trồng cho 1 sào ngô).
Lưu ý: Không nên dùng đất bùn ở nơi ao tù màu đen, có mùi hôi tanh, nhiều
chất độc có thể làm thối mầm ngô.
- Dàn đều hỗn hợp dày từ 3 cm đến 5 cm trên nền đất cứng có lót lá chuối
hoặc 1 lớp trấu mỏng, khi hỗn hợp làm bầu se mặt dùng dao mỏng cắt vuông
hỗn hợp đất:
+ Kích thước 3 cm x 3 cm x 3 cm (cây sống trong bầu tối đa 5 ngày);
+ Kích thước 5 cm x 5 cm x 5 cm (cây sống trong bầu tối đa 7 ngày).
* Gieo hạt, chăm sóc bầu ngô
- Lượng giống từ 17 kg đến 22 kg/ha (từ 0,6 kg đến 0,8 kg/sào) tùy từng
loại giống và mật độ trồng.
):
+ Phân chuồng từ 300 kg trở lên;
+ Đạm urê từ 11 kg đến 13 kg.
+ Phân lân từ 13 kg đến 15 kg.
+ Kali từ 4 kg đến 6 kg.
- Cách bón phân
+ Bón lót toàn bộ phân chuồng và phân lân. Bón vào rãnh hoặc vào hốc,
lấp một lớp đất mỏng rồi mới gieo hạt hoặc đặt bầu.
13
+ Khi cây ngô có từ 3 lá đến 4 lá, xới phá váng, giặm chỗ cây bị mất
khoảnh, bón từ 5,5 kg đến 6,5 kg đạm urê + 2 kg đến 3 kg kali (bón thúc lần 1),
kết hợp vun nhẹ (vun đá chân).
+ Khi cây ngô có từ 7 lá đến 9 lá, bón toàn bộ lượng phân đạm và phân
kali còn lại (bón thúc lần 2) kết hợp với vun cao (bón phân ở khoảng cách giữa 2
cây ngô, không bón trực tiếp vào gốc ngô).
+ Luôn tưới nước và giữ đủ ẩm cho ngô ở các giai đoạn cây từ 3 lá
đến 4 lá, từ 7 lá đến 9 lá, xoáy loa kèn, trỗ cờ, phun râu và chín sữa. Không
để ngô bị ngập úng.
+ Nếu ruộng ngô gặp mưa nhiều, đất bí không kịp thoát nước cây ngô
chuyển màu huyết dụ, chân chì dùng 3 kg phân lân ngâm với nước giải 1 ngày
sau đó pha loãng tưới cho 1 sào ngô hoặc dùng phân bón lá để phun (sử dụng
theo hướng dẫn ghi trên bao bì).
Phòng trừ sâu bệnh: Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, khi phát hiện
sâu bệnh có biện pháp phòng trừ kịp thời. Chú ý một số loại sâu bệnh hại chính
sau: sâu xám, rệp bắp, rệp cờ, đục thân, khô vằn, đốm lá,
Thu hoạch: Khi lá bi đã khô vàng, hạt ngô có điểm đen ở chân thì thu hoạch.
Phương pháp làm bầu ngô đã được nông dân thực hiện từ rất lâu nhưng
năng suất không cao chưa tương xứng với tiềm năng năng suất của giống ngô lai
đang trồng và vẫn còn nhiều hạn chế:
- Làm bầu bằng bùn bị bí chặt làm hạt khó nảy mầm và dễ bị thối.
chỉnh tán lá bằng bầu cải tiến.
* Cách làm bầu
+ Sử dụng các loại phế phụ phẩm nông nghiệp để làm nguyên liệu (chất
hữu cơ) trộn lẫn với đất và phân vi sinh.
+ Trộn nguyên liệu thành hỗn hợp theo đúng các công thức làm bầu, cho
thêm nước đủ ẩm.
+ Đưa hỗn hợp vào máy trộn, sau đó cho vào khuôn để ép, phơi khô.
15
+ Giai đoạn vườn ươm: bầu ươm được xếp cạnh nhau trên cùng 1 công
thức, sau 3 ngày tiến hành lấp cát xung quanh bầu tạo điều kiện tốt cho rễ sinh
trưởng sau khi đâm qua vỏ bầu (tránh hiện tượng khô đầu rễ).
+ Gieo mỗi bầu một hạt giống (có thể sử dụng hạt đã ngâm ủ).
+ Tưới giữ ẩm 1 – 2 lần / ngày.
* Chọn đất và làm đất:
- Chọn đất: Đất có thành phần cơ giới cát pha, thịt nhẹ, độ phì khá, chủ
động tưới tiêu.
- Làm đất, lên luống: Đất cày bừa kỹ, tơi nhỏ, nhặt sạch cỏ dại. Lên luống
rộng 1,0 m, rãnh luống rộng 0,20 m.
* Thời vụ:
- Vụ Đông trên đất chuyên mầu: trồng từ 20/8 đến 20/9.
- Vụ Đông trên đất 2 vụ lúa: trồng từ 15 đến 30/9.
* Lượng giống và mật độ trồng:
- Ngô được trồng trong vụ đông cần chọn giống ngô có thời gian sinh
trưởng ngắn hoặc trung bình.
- Phương pháp trồng là gieo hạt ngô vào bầu khi đạt số lá qui định (3 – 4
lá) đưa ra ruộng đặt.
- Lượng giống 28 – 30 kg/ha (1kg/sào).
- Mật độ trồng: 8 – 9 cây/m2 (2.900 – 3000 cây/sào). Cần làm bầu ngô dự
phòng 10% để bù cho bầu có hạt không nẩy mầm hoặc cây không đạt yêu cầu.
- Khoảng cách trồng: Luống rộng 1m được chia thành 2 hàng cách nhau
- Phòng trừ sâu bệnh: kịp thời phòng trừ một số loại sâu bệnh hại ngô chủ
yếu: sâu xám, sâu đục thân, sâu cuốn lá, khô vằn, đốm lá,…
17
PHẦN III. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1. Nội dung:
Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, khả năng chống chịu, năng suất và mật
độ trồng thích hợp cho ngô gieo trồng trên bầu trong vụ Đông năm 2014.
3.2. Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Vật liệu nghiên cứu
- Giống ngô:
Giống
Đặc điểm
Giống NK4300 Giống LVN4
Nguồn gốc
Có nguồn gốc từ Thái Lan, được
công ty TNHH Syngenta Việt Nam
nhập nội và chuyển giao.
Do Viện nghiên cứu ngô tạo ra
Thời gian sinh
trưởng
Là giống có thời gian sinh trưởng
trung bình, từ 105 – 110 ngày.
Là giống có thời gian sinh trưởng
trung bình sớm, 90 – 110 ngày.
Đặc điểm, đặc
tính giống
Chiều cao cây trung bình: 190 –
210 cm.
Chiểu cao đóng bắp: 75 – 80 cm.
phân vi sinh + 0.5 Phần rơm cắt đoạn ngắn 2 – 3 cm.
- Phân bón: Phân viên nén.
3.2.2. Địa điểm bố trí thí nghiệm.
- Địa điểm: Đề tài nghiên cứu được bố trí trên khu đất thí nghiệm thuộc
bộ môn Cây lương thực – Khoa Nông học – Học viện Nông nghiệp Việt Nam,
Trâu Quỳ - Gia Lâm – Hà Nội.
- Thí nghiệm được tiến hành trên đất phù sa thuộc Đồng Bằng Sông Hồng
không được bồi đắp hàng năm. Đất thịt nhẹ và tơi xốp.
- Đất được đảm bảo làm kỹ, sạch cỏ dại, lên luống và chia ô đúng thiết kế
của thí nghiệm.
3.2.3 Thời gian tiến hành thí nghiệm.
Thời gian nghiên cứu: tiến hành trong vụ Đông năm 2014.
3.3. Phương pháp thí nghiệm
Xác định mật độ gieo trồng thích hợp cho 2 giống ngô (LVN4,
NK4300) trồng bằng bầu công nghiệp trong vụ Đông ở Gia Lâm – Hà Nội.
- Thí nghiệm 2 gồm 2 nhân tố:
+ Nhân tố chính: mật độ (M): M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7.
19
+ Nhân tố phụ: Giống ngô (G): G1: NK4300, G2: LVN4.
M1: 4 cây/m dài luống, trồng thông thường (Đ/C), mật độ = 6,5 vạn cậy /ha;
M2: 4 cây/m dài luống, trồng bầu, xoay lá, mật độ = 6,5 vạn cây /ha;
M3: 5 cây/m dài luống, trồng bầu, xoay lá, mật độ = 7, 5vạn cây /ha;
M4: 6 cây/m dài luống, trồng bầu, xoay lá , mật độ = 8,6 vạn cây /ha;
M5: 7 cây/m dài luống, trồng bầu, xoay lá, mật độ = 10,0 vạn cây /ha;
M6: 8 cây/m dài luống, trồng bầu, xoay lá, mật độ = 11,5 vạn cây /ha;
M7: 9 cây/m dài luống, trồng bầu, xoay lá, mật độ = 12,8 vạn cây /ha;
- Thí nghiệm gồm 14 công thức:
G1M1, G1M2, G1M3, G1M4, G1M5, G1M6, G1M7,
G2M1, G2M2, G2M3, G2M4, G2M5, G2M6, G2M7,
- Cách bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm 2 nhân tố, Split-plot .