HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO
TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2010
Mã số: B10 - 04 Tên đề tài:
HỌC THUYẾT LƯU THÔNG TIỀN TỆ CỦA C.MÁC VÀ
NHỮNG GỢI MỞ CHO VIỆT NAM TRONG ĐIỀU TIẾT
NỀN KINH TẾ TRƯỚC TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG
KINH TẾ THẾ GIỚI HIỆN NAY.
Cơ quan chủ trì: Viện kinh tế
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Phạm Quốc Trung
Thư ký đề tài: TS Phạm Thị Túy
8260
HÀ NỘI - 2010
LỰC LƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
26. TS. Đào Thị Ngọc Minh
27. CN. Bùi Thị Nhung
28. Ths. Hoàng Thị Tuyết Nhung
29. Ths. Trà Ngọc Phong
30. CN Nguyễn Hoài Phương
31. CN Lưu Quang Thắng
32. CN Hồ Quang Thanh
33. Ths Nguyễn Quốc Thanh
34. CN. Nguyễn Hữu Thế
35. CN. Nguyễn Gia Thiện
36. TS. Trần Đăng Thịnh
37. TS. Vũ Thị Thoa
38. CN Nguyễn Công Trình
39. PGS.TS Phạm Quốc Trung
40. CN. Nguyễn Anh Tuấn
41. TS. Hà Văn Tuấn
42. GS.TS Đỗ Thế Tùng
43. CN Nguyễn Thị Tươi
44.
TS Phạm Thị Túy
45. CN Nguyễn Hữu Vượng
46. Ths Nguyễn Anh Xuân
1
Chương 1. VẬN DỤNG HỌC THUYẾT LƯU THÔNG TIỀN TỆ CỦA
C.MÁC VÀO ĐIỀU TIẾT NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TRONG BỐI
CẢNH KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI
1.1. HỌC THUYẾT LƯU THÔNG TIỀN TỆ CỦA C.MÁC
đổi, sản phẩm chưa phải là hàng hóa, chỉ nhờ có trao đổi chúng mới là hàng hóa.
Cùng với sự phát triển của phân công lao động xã hội và tăng năng suất lao
động, việc trao đổi hàng hóa ngày càng mở rộng và tác động trở lại sự phân công
trong nội bộ các công xã, từ đó xuất hiện trao đổi hàng hóa cả trong nội bộ các công
xã. Sự không ngừng lặp đi lặp lại của trao đổi làm cho nó mở rộng và tr
ở thành một
quá trình xã hội đều đặn, số lượng và loại hàng hóa tham gia quá trình trao đổi ngày
1
Theo C.Mác - Ph Ăngghen Toàn tập – tập 23, từ trang 146 - 220 và tập 25, từ trang 9 - 238, Nxb CTQG, H 2002. 2
càng tăng lên nảy sinh sự cần thiết phải có một vật ngang giá chung phổ biến. Ban
đầu hình thái vật ngang giá chung ấy khi thì gắn với hàng hóa này, khi thì gắn với
một hàng hóa khác. Cuối cùng nó gắn một cách vững chắc với một loại hàng hóa
đặc thù, hay kết tinh lại dưới hình thái tiền.
Sự trao đổi hàng hóa phá vỡ những mối liên hệ thuần túy có tính chất địa
phương, thì hình thái tiền lại chuyển sang những hàng hóa do bản chất c
ủa nó mà
đặc biệt thích hợp với cái chức năng xã hội của vật ngang giá phổ biến, cụ thể là
chuyển sang các kim loại quý và cuối cùng là vàng.
Khi trình bày quy luật về khối lượng tiền tệ cần thiết trong lưu thông, C.Mác
đã vận dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học và phương pháp đi từ trừu
tượng đến cụ thể. Theo đó, những phân tích của ông về vấn đề này được thể hi
ện
như sau: Khối lượng tiền tệ cần thiết trong lưu thông chịu ảnh hưởng của nhiều
nhân tố, phải tách riêng từng nhân tố để nghiên cứu rồi mới tổng hợp lại. Trước hết
3
dựa trên giả định chưa có ngân hàng, do đó – cái quan hệ kinh tế được đề cập ở đây
chỉ là cái quan hệ trực tiếp giữa một bên là tư bản tiền tệ (với tư cách là tư bản sở
hữu) và một bên là tư bản chức năng (với tư cách là tư bản hoạt động). Tư bản sinh
lợi tức ở đây m
ới chỉ gồm tư bản cho vay của tư bản sở hữu tư bản tiền tệ - nó
không trực tiếp sử dụng tư bản tiền tệ của mình, mà bán quyền sử dụng đó cho tư
bản chức năng có điều kiện để thu lợi tức. Giả định như trên nhằm làm rõ bản chất
của việc cho vay và bản chất của tư b
ản cho vay.
Tóm lại, nắm được phương pháp luận nhận thức về học thuyết LTTT là cần
thiết, bởi đó là tiền đề quan trọng để người đọc có thể hiểu một cách đầy đủ và
chính xác những những phân tích của C.Mác về Học thuyết này. Trên cơ sở đó mới
có thể vận dụng một cách sáng tạo học thuyết vào giải quyết các vấn đề mà thực
ti
ễn đặt ra.
1.1.2. Nội dung học thuyết lưu thông tiền tệ của C.Mác.
Học thuyết LTTT của C.Mác là một luận thuyết khoa học, phản ánh nhân tố
tiền tệ và sự vận hành của nhân tố này với tư cách là một thể thống nhất, hoàn
chỉnh, là huyết mạch của mọi nền kinh tế có sản xuất và trao đổi hàng hoá, bất kể
trình độ cao hay thấp. Do vậy, nội dung của học thuy
ết không chỉ giới hạn ở những
nghiên cứu về nguồn gốc, bản chất chức năng và sự vận động của tiền tệ trong nền
kinh tế với tư cách là tiền thuần túy (Tiền thực chất, tiền đủ giá - là hiện thân của
giá trị hàng hóa và có 5 chức năng cơ bản) mà còn phải nghiên cứu tiền tệ với tư
cách là nhân tố kinh tế - y
ếu tố sản xuất ( là tư bản tiềm thế - tiền vốn, là hàng
hoá…), là công cụ điều tiết kinh tế Do đó, nghiên cứu về vận động của tiền tệ
biểu hiện dưới các hình thái tư bản sinh lợi tức, tín dụng ngân hàng, tư bản ngân
hàng sẽ là phần nội dung quan trọng không thể thiếu khi nghiên cứu học thuyết
không được phản ảnh một cách rõ ràng và đầy đủ trong đại lượng của giá trị tương
đối ấy. Giá trị tương đối của một hàng hóa có thể thay đổi mặc dầu giá trị của nó
không đổi. Giá trị tương đối của một hàng hóa có thể không thay đổi mặc dầu giá trị
của nó thay đổi; và cuối cùng những sự thay đổi cùng một lúc của đại lượng giá trị
và của biểu hiện tương đối của đại lượng giá trị đó tuyệt nhiên không phải bao giờ
cũng hoàn toàn, nhất trí với nhau.
Trong hình thái đơn giản nói trên của giá trị ta thấy hình thái tự nhiên của
hàng hóa A chỉ là hình thái của giá trị sử dụng, còn hình thái tự nhiên của hàng hóa
B chỉ là hình thái của giá trị. Như vậy, quan hệ biện chứng (sự thống nhất và mâu
thuẫn) giữa hai thuộc tính bên trong của hàng hóa - ở
đây, đã biểu hiện ra thành
quan hệ bên ngoài giữa hai hàng hóa. Trong đó, hàng hóa (A) - mà giá trị phải biểu
hiện ra, chỉ trực tiếp đóng vai trò giá trị sử dụng, còn hàng hóa kia (B) - là hàng hóa
trong đó giá trị được biểu hiện, thì chỉ trực tiếp đóng vai trò giá trị.
Hình thái giá trị giản đơn thích ứng với việc trao đổi vật lấy vật một cách ngẫu
nhiên, và chủ yếu chỉ tồn tại vào giai đoạn cuố
i xã hội nguyên thủy. Cùng với sự
phát triển của sức sản xuất xã hội và phân công lao động xã hội, trao đổi hàng hóa
ngày càng phổ biến, một loại hàng hóa có thể trao đổi với nhiều hàng hóa khác một
cách thường xuyên. Lúc này hàng hóa làm vật ngang giá không phải là một mà là
nhiều loại khác nhau – trong đó, mỗi loại là một vật ngang giá đặc thù. Và, điều đó
là mâu thuẫn với mục tiêu cần phải có của vật ngang giá. Ở hình thái giá trị mở
r
ộng, thế giới hàng hóa vẫn chưa có một vật ngang giá chung chứng tỏ lao động
chung của nhân loại để sản xuất ra hàng hóa vẫn chưa có được hình thức biểu hiện
thống nhất chung, khiến cho việc trao đổi vẫn gặp khó khăn. 5
ii/ Các chức năng củ
a tiền tệ
Trong toàn bộ lịch sử tồn tại và phát triển của tiền tệ thì có nhiều hàng hóa
đóng vai trò là tiền, như: vàng, bạc hoặc.v.v Tuy nhiên, bằng những thuộc tính tự
nhiên đặc biệt riêng có của mình, cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thông
hàng hóa mà tiền vàng đã chiếm địa vị độc tôn – phổ biến trong một thời gian dài,
đó là thời kỳ thống trị của chế độ
bản vị vàng. Và, chỉ có tiền – vàng mới được coi
là tiền thực chất, tiền đủ giá và có đầy đủ 05 chức năng cơ bản: (i) Thước đo giá trị;
(ii) Phương tiện lưu thông; (iii) Phương tiện cất trữ; (iv) Phương tiện thanh toán; (v)
tiền tệ thế giới. 6
a. Chức năng thước đo giá trị
Với tư cách là thước đo giá trị tiền là hình thái thể hiện tất yếu của cái thước
đo giá trị nội tại của các hàng hóa - thời gian lao động. Biểu hiện giá trị của các
hàng hóa bằng vàng chỉ là trên ý niệm nên cũng chỉ cần vàng trong trí tưởng tượng.
Nhưng giá cả lại hoàn toàn phụ thuộc vào chất liệu tiền hiện thực. Do đó tùy theo
thước đo giá trị là vàng hay bạc hay đồng mà giá trị của một hàng hóa sẽ được biểu
thị bằng những giá cả hoàn toàn khác nhau.
Nếu hai thứ hàng hóa khác nhau như vàng và bạc chẳng hạn, cùng được dùng
làm thước đo giá trị, thì giá cả của tất cả mọi hàng hóa đều có thể biểu hiện giá cả
bằng vàng và giá cả bằng bạc. Hai thứ giá cả đó vẫn có thể chung sống cạnh nhau
một cách yên ổ
n chừng nào mà tỷ lệ giữa giá trị của vàng và giá trị của bạc không
đổi. Ví dụ, 1 vàng bằng 1.5 bạc, chẳng hạn. Nhưng mỗi một sự thay đổi trong tỷ lệ
giá trị đó sẽ làm thay đổi tỷ lệ giữa các giá cả bằng vàng và giá cả bằng bạc của hàng
hóa. Thực tế chứng minh rằng việc sử dụng hai thước đo giá trị là mâu thuẫn với
chức nă
Tiêu chuẩn tiền tệ, một mặt hoàn toàn có tính chất quy ước, và mặt khác, lại
phải được toàn xã hội công nhận, nên cuối cùng nó phải do pháp luật quy định.
Giá cả là tên tiền tệ của số lao động đã vật hóa trong hàng hóa. Khả năng có
sự
không nhất trí về lượng giữa giá cả và đại lượng giá trị, hay khả năng có sự
chênh lệch giữa giá cả và đại lượng giá trị đã nằm ngay trong bản thân hình thái giá
cả rồi. Điều đó không phải là một thiếu sót của hình thái ấy mà là hình thái thích
hợp với phương thức sản xuất trong đó quy tắc chỉ có thể thực hiện được với tư
cách là một quy luật của con s
ố trung bình, tác động một cách mù quáng của tình
trạng vô quy tắc mà thôi.
b. Chức năng phương tiện lưu thông.
Chức năng thứ hai của tiền là làm phương tiện lưu thông, tức là làm môi giới
cho trao đổi hàng hóa. Sự trao đổi này gồm 2 quá trình: H - T tức là bán và T - H là
mua, trong đó H - T là khó nhất và quan trọng hơn cả, vì nếu như hàng hóa không
chuyển hóa thành tiền được, thì giá trị sử dụng và giá trị của hàng hóa đều không
thể thực hiện được, và người ch
ủ hàng hóa có thể bị phá sản.
Một mặt, tiền đại biểu cho hàng hóa đã bán đi, mặt khác, nó lại đại biểu cho
những hàng hóa có thể mua về. Hai giai đoạn vận động ngược chiều nhau của sự
biến hóa hình thái của hàng hóa cấu thành một vòng tuần hoàn. Vòng tuần hoàn do
một loạt những sự biến đổi hình thái của mỗi loại hàng hóa lại quyện chặt với
những vòng tuần hoàn của các hàng hóa khác. Toàn b
ộ quá trình đó là sự lưu thông
hàng hóa.
Việc lưu thông hàng hóa phá vỡ những giới hạn cá nhân và địa phương của
việc trao đổi sản phẩm trực tiếp và phát triển sự trao đổi chất của lao động của con
người. Sự tách rời mua và bán về không gian và thời gian bao hàm khả năng xảy ra
khủng hoảng.
Sự vận động tuần hoàn của hàng hóa lại loại trừ sự vận động tuầ
m xuống không ngừng. Muốn cho khối lượng tiền đang thực sự lưu thông bao
giờ cũng phù hợp với mức bão hòa của lĩnh vực lưu thông thì số lượng vàng hay
bạc trong mỗi nước phải lớn hơn số lượng đang làm chức năng tiền đúc. Điều kiện
đó được thực hiện nhờ hình thái tiền tích trữ. Những bể chứa tiền tích trữ v
ừa dùng
làm kênh tiêu nước, lại vừa làm kênh tưới nước cho số tiền đang nằm trong lưu
thông, vì thế mà không bao giờ làm ngập những kênh lưu thông cả.
Ở những nước thuần túy dùng kim loại để lưu thông hoặc ở những nước đang
trong giai đoạn sản xuất chưa phát triển thì tiền tích trữ bị phân tán, tản mạn khắp cả
nước; còn ở những nước tư bản chủ
nghĩa phát triển thì tiền tích tữ tập trung vào
những kho dự trữ của Ngân hàng. Nhưng không nên lẫn lộn tiền tích trữ với dự trữ
tiền đúc, bản thân dự trữ tiền đúc là một bộ phận cấu thành của tổng khối lượng tiền
thường xuyên ở trong lưu thông, trong khi tỷ lệ tích cực giữa tiền tích trữ và phương
tiện lưu thông lại giả định có s
ự giảm bớt hoặc tăng lên của chính tổng khối lượng
tiền ấy.
Chỉ có tiền kim loại mới thực hiện được chức năng phương tiện tích trữ, tiền
giấy không thể thực hiện được chức năng này.
Tiền làm chức năng phương tiện tích trữ còn bao hàm cả những khoản tiền mà
người bán hàng giữ lại chưa mua những hàng hóa khác, vì thế đọng l
ại thành tiền
tích trữ. Những hành vi bán mà sau đó không có những hành vi mua tiếp theo thì
chỉ làm môi giới cho việc phân phối những kim loại quý giữa những người chủ
hàng hóa. Như thế là ở trên tất cả những điểm của lưu thông hàng hóa đều xuất hiện 9
những kho vàng và bạc với những quy mô hết sức khác nau. Bên cạnh đó, các hàng
hóa bằng vàng và bạc cũng hình thành một nguồn cung cấp tiềm tàng về tiền.
được lợi. Nếu giá trị vật liệu tiền tăng lên thì ngược lại.
e. Chức năng tiền tệ thế giới.
Khi ra khỏi những giới hạn của lĩnh v
ực lưu thông trong nước thì tiền trút bỏ
những hình thái địa phương và trở lại hình thái ban đầu của nó là hình thái những
thỏi kim loại quý.
Ban đầu, trên thị trường thế giới có hai thước đo giá trị là vàng và bạc (Chế độ
song kim bản vị) và về sau được thống nhất ở vàng (Chế độ kim bản vị). Chức năng
tiền tệ thế giới lấy tiền đề là sự phát tri
ển của 4 chức năng nói trên. Chiếm ưu thế là 10
chức năng phương tiện thanh toán, dùng để thanh toán các bảng cân đối quốc tế.
Vàng và bạc được dùng làm phương tiện mua có tính chất quốc tế khi sự trao đổi
giữa các nước bỗng nhiên bị rối loạn. Vàng và bạc còn được dùng để chuyển của
cải từ nước này sang nước khác khi mà sự di chuyển đó không thực hiện được dưới
hình thái hàng hóa.
Mỗi nước cần có một quỹ dự tr
ữ nhất định cho lưu thông trong nước cũng như
cho lưu thông trên thị trường thế giới. Do đó, chức năng tiền tích trữ phát sinh một
phần từ chức năng của tiền làm phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán ở
trong nước, một phần từ chức năng của tiền với tư cách là tiền thế giới.
Những nước có một nền sản xuấ
t tư sản phát triển thường hạn chế số tiền tích
trữ ở mức tối thiểu cần thiết cho các chức năng đặc thù của chúng, được tập trung
vào các bể chứa của các ngân hàng. Trừ một vài trường hợp ngoại lệ, việc tích trữ
tiền quá nhiều so với mức trung bình nói lên sự đình trệ trong lưu thông hàng hóa.
1.1.2.2. Quy luật LTTT
i. Quy luật lưu thông tiền đúc.
ng 8USD đi vào
lưu thông. Nhưng nếu 4 hàng hóa đó lại hình thành một chuỗi hành vi mua, bán liên
tiếp thì chỉ cần 2 USD đủ làm cho tất cả 4 hàng hóa đó lưu thông, bằng cách tuần tự
thực hiện giá cả của chúng. Do đó, 2 USD ấy đã thực hiện được tổng số giá cả bằng
8 USD; 2 USD ấy đã lưu thông 4 vòng.
Nếu lấy M để chỉ khối lượng tiền cần thiết trong lưu thông, P là mức giá cả
hàng hóa, Q là khối lượng hàng hóa đưa vào lưu thông và V là tốc độ lưu thông của
tiền, thì công thức biểu đạt bằng toán học của quy luật LTTT như sau:
V
QP
M
.
=
hay có thể diễn đạt như sau:
Tổng số giá cả hàng hóa
Khối lượng tiền tệ làm
phương tiện lưu thông
=
Số vòng quay của những đồng tiền cùng tên gọi
Và cũng có thể viết dưới dạng:
V
QP
Mc
.
=
hoặc
V
H
2
Sđ d tr 176
3
Sđ d tr 185-186
4
Sđ d tr 188
12
Công thức trên chỉ đúng với giả định là giá trị của tiền không đổi. Nếu bây giờ
bỏ giả định đó, thay bằng giả định là tổng số giá cả hàng hóa và tốc độ lưu thông của
tiền không đổi thì “số lượng tiền đang lưu thông sẽ phụ thuộc vào bản thân giá trị của
vật liệu tiền”. (Các sách giáo khoa kinh tế chính trị thường bỏ quên nhân tố này).
Khi giá trị của hàng hóa không đổi thì giá cả của chúng vẫn thay đổi cùng với
sự thay đổi trong giá trị của bản thân vàng (vật liệu tiền); giá cả sẽ tăng lên theo tỷ
lệ nếu như giá trị của vàng hạ xuống, và ngược lại, giá cả sẽ hạ xuống nếu như giá
trị của vàng tăng lên. Cùng với sự tăng lên hay giảm xuống như thế của tổng số giá
c
ả hàng hóa thì khối lượng tiền đang lưu thông cũng phải tăng lên hay giảm xuống
theo cùng một tỷ lệ.
Một hiện tượng hoàn toàn giống như thế sẽ xảy ra nếu như bạc thay thế vàng
trong chức năng thước đo giá trị chẳng hạn. Trong trường hợp này, trong lưu thông
phải có một số lượng bạc nhiều hơn số lượng vàng trước kia. Hay là, vàng đã gạt
b
ạc ra khỏi chức năng thước đo giá trị, thì số lượng vàng trong lưu thông sẽ ít hơn
số lượng bạc trước kia. Trong cả hai trường hợp, giá trị của vật liệu tiền biến đổi, do
đó biểu hiện giá cả của những giá trị hàng hóa, tức là khối lượng tiền lưu thông
dùng để thực hiện những giá cả ấy, cũng sẽ biến đổi.
13
hôm qua tiền chỉ là ảo ảnh, các giao dịch lớn không cần đến tiền mặt, tiền đúc bị
đẩy vào chủ yếu là trong lĩnh vực buôn bán nhỏ. Còn hôm nay, như con hươu đang
khát nước, linh hồn người tư sản cũng khao khát tiền, thứ của cải duy nhất ấy. Tình
trạng thiếu tiền biểu hiện, dù người ta thanh toán bằng vàng, bạc hay tiền tín dụng,
như giấy bạc ngân hàng, ch
ẳng hạn.
Khi xét cả chức năng phương tiện thanh toán, công thức LTTT phải được mở
rộng thành
6
:
∑ gcả HH lthông- ∑ gcả HH bán chịu+∑mức đển hạn t toán- ∑mức t.toán bù trừ
Khối lượng tiền
c.thiết cho l.thông
=
Tốc độ lưu thông bình quân của những đồng tiền cùng tên gọi
Hay cũng có thể diễn đạt công thức LTTT mở rộng vừa nêu như sau:
∑ gcả HH cần được t.hiện(1)+∑ khoản đển hạn t toán(2) - ∑ khoản t.toán bù trừ(3)
S.lượng tiền
làm p.tiện
l.thông &
t.toán c.thiết
(M
c
+M
c
’)
=
∑vòng quay của s.lượng tiền làm chức năng PTLT & PTTT (kí hiệu V
toán, tổng số tiền ấy sẽ bằng tổng số giá cả hàng hoá cần được thực hiện, cộng với
tổng số các khoản thanh toán đã đến hạn trừ đi các khoản thanh toán đã bù trừ lẫn
cho nhau, và cuối cùng, tr
ừ đi tổng số vòng quay trong đó cũng những đồng tiền ấy
diện về sản xuất hay thương nghiệp nào, với một loại khủng hoảng đặc biệt mà người ta cũng gọi là khủng hoảng tiền
tệ nhưng lại có thể xảy ra một cách độc lập, thành thử nó chỉ ảnh hưởng đến công nghiệp và thương nghiệp bằng cách
dội ngược trở lại mà thôi. Đó là những loại khủng hoảng mà trung tâm vận động là tư bản ti
ền tệ, và do đó phạm vi
trực tiếp của chúng là ngân hàng, sở giao dịch tài chính. {Chú thích của Mác cho lần xuất bản thứ 3}
6
Lưu ý, trong C.Mác và Ph. Angghen toàn tập, tập 23, tr210, C.Mác giả định “với một tốc độ chu chuyển nhất định
của các phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán” nên phải thêm vế cuối “trừ đi tổng số vòng quay trong đó
cũng những đồng tiền ấy lần lượt khi thì làm chức năng phương tiện lưu thông, khi thì làm chức năng phương tiện
thanh toán”.
7
C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 23, Nxb CTQG Sự thật, H 2002, tr210. 14
lần lượt khi thì làm chức năng phương tiện lưu thông, khi thì làm chức năng phương
tiện thanh toán
8
. Ví dụ: một người nông dân bán lúa mì lấy 2lxt, đến kỳ hạn thanh
toán anh ta đem cũng số tiền ấy trả cho số gạo mà trước đó người thợ dệt đã cung
cấp cho anh ta
Như vậy, ngay cả trong trường hợp giá cả, tốc độ lưu thông của tiền và của
các khoản thanh toán đã cho thì khối lượng tiền nằm trong lưu thông trong một
cho 0,5 đồng tiền vàng, do đó mộ
t hàng hóa có giá cả là 1 đồng tiền vàng bây giờ
8
S d tr210 15
tính theo tiền giấy sẽ có giá cả tăng lên gấp 2 lần - là 2 đồng. Đó là chưa kể, trường
hợp lạm phát quá cao khiến tiền giấy hoàn toàn bị mất giá.
Trong lưu thông tiền kim loại, nếu số lượng tiền kim loại vượt quá số lượng
cần thiết, thì tiền sẽ rút ra khỏi lĩnh vực lưu thông trở thành tiền tích trữ, nghĩa là có
sự tự phát điều tiế
t số lượng tiền trong lưu thông. Nhưng tiền giấy không thể làm
phương tiện tích trữ, nên nếu phát hành tiền giấy vượt quá khối lượng tiền cần thiết
trong lưu thông sẽ gây ra sự sụt giá của tiền giấy và làm tăng giá, hiện tượng này
được gọi là lạm phát. Vì lo sợ tiền mất giá, người giữ tiền giấy sẽ tìm mọi cách mua
hàng hóa hay mua vàng. Hiện tượng này được gọi là sự tẩu thoát củ
a tiền.
Lạm phát tiền giấy, trong một thời kỳ nhất định có thể tăng thêm một bộ phận
nhu cầu, từ đó kích thích sản xuất, xuất hiện sự phồn vinh giả tạo. Nhưng đây
không phải là nhu cầu thực, không giải quyết được mâu thuẫn giữa sản xuất và nhu
cầu có khả năng thanh toán, nên sẽ dẫn đến làm rối loạn lưu thông, phân phối. Lạm
phát tiền giấy quá mức có thể trở thành thủ đoạn cướp đoạt tài sản của nhân dân.
Thí dụ: Chính phủ Quốc dân Đảng ở Trung Quốc trước đây, trong 12 năm thống trị
cuối cùng (1937 - 1949) đã phát hành lượng tiền giấy tăng gấp 140 tỉ lần, khiến vật
giá tăng lên hơn 36.000 tỉ lần, ước tính lượng của cải tước đoạt từ tay đông đả
o dân
thông hàng hóa giản đơn mà cả trong kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa – tuy
nhiên, ở những nước tư bản chủ nghĩa phát triển có những biểu hiện mới.
Một là, khi tiền biến thành tư bản – tức, vận động theo công thức T - H - T’,
thì tiề
n ứng ra từ đâu phải quay về đấy, quay về càng nhanh càng tốt. Việc đẩy
nhanh chu chuyển của tư bản cũng bao hàm việc đẩy nhanh tốc độ lưu thông của
tiền. Nếu thời gian chu chuyển dài thì tư bản tiền tệ ứng ra phải nhiều hơn, nếu thời
gian chu chuyển rút ngắn lại thì tư bản ứng trước sẽ ít hơn. Bởi vậy, với một số
tư
bản tiền tệ nhất định, trong trường hợp trên sẽ không đủ và trong trường hợp dưới
sẽ thừa ra một phần. Do đó, ảnh hưởng đến LTTT.
Với mọi điều kiện khác không thay đổi, thời gian chu chuyển thay đổi thì
lượng tư bản tiền tệ cần thiết để tiến hành sản xuất theo quy mô như cũ cũng thay
đổi. Do đó, sự co giãn của LTTT ph
ải khá lớn để có thể thích ứng.
Hai là, cơ cấu đầu tư trong tái sản xuất và lưu thông của tổng tư bản xã hội
ảnh hưởng tới thị trường tiền tệ. Trong kinh tế thị trường, hầu như mọi sản phẩm
đều trở thành hàng hóa nên lưu thông hàng hóa đòi hỏi số lượng tiền nhiều hơn
trong sản xuất hàng hóa nhỏ. Hơn nữa, trên cơ sở s
ản xuất tư bản chủ nghĩa thì
những công việc kinh doanh tương đối lớn (như xây dựng nhà máy thủy điện lớn,
đường sắt cao tốc v.v…) có tính chất lâu dài đòi hỏi phải ứng ra một số tư bản tiền
tệ lớn. Lượng tư bản tiền tệ - do đó phụ thuộc vào giới hạn mà tư bản cá biệt (hay
nhà nước) chi phối được, và nó có thể b
ị phá vỡ bởi chế độ tín dụng và việc thành
lập các tổ chức gắn liền với chế độ tín dụng như các công ty cổ phần chẳng hạn. Ở
các công trình lớn - dài hạn, trong suốt thời gian thực hiện chỉ có chi mà chưa có
thu. Bởi vậy, trên cơ sở một nền sản xuất có tính chất xã hội, thì phải ấn định quy
mô - theo đó, các doanh nghiệp như thế có thể tiế
n hành được mà không làm hại tới
số tiền gửi ở nước Anh đều không tồn tại dưới một hình thức nào khác ngoài hình
thức tồn tại trong các sổ sách tài khoản của các chủ ngân hàng…Thí dụ như ở Xcôt
- len, nơi mà tiền lưu thông (hầu hết là tiền giấy) không bao giờ quá 3 triệu bảng,
còn tiền gửi thì có tới 27 triệu"
11
.
Vì thế, chừng nào mà hệ thống tín dụng hoạt động bình thường thì mọi chuyện
đều êm thắm, nhưng chỉ cần một tín hiệu bất ổn nào đó dẫn đến một cuộc rút tiền
gửi ồ ạt và đột ngột thì sẽ nổ ra khủng hoảng, làm rối loạn LTTT.
Bốn là, việc mua bán và đầu cơ trên thị trường chứng khoán cũng tác động
đến thị trường ti
ền tệ. Mua chứng khoán thì tăng tiền vào lưu thông, bán chứng
khoán thì rút bớt tiền khỏi lĩnh vực lưu thông. C.Mác đã dẫn ra lời khai của ông Sap
- men về hiện tượng một gã đầu cơ lớn có thể bán một số quốc trái dài hạn lấy 1 hay
2 triệu bảng và do đó rút số tiền này ra khỏi thị trường và gây ra một cuộc khủng
hoảng cực kỳ ác liệt
12
.
Bởi vậy, vấn đề quan trọng là ngân hàng phải giữ được sự hoạt động lành
mạnh của hệ thống tín dụng qua đó có thể điều chỉnh được số tiền nằm trong tay
công chúng. Nguyên nhân cơ bản nổ ra cuộc khủng hoảng tiền tệ, tín dụng có khi
không phải là do thiếu phương tiện lưu thông mà là do sự mất cân đối giữa số tiền
nhàn rỗi với quy mô hoạ
t động của các doanh nghiệp công, thương và do đầu cơ.
10 C.Mác và Ph.Ăngghen, toàn tập, tập 25 phần I, NXB CTQG, Hà Nội - 1994,
11
C.Mác và Ph.Ăngghen, toàn tập, tập 25 phần I, NXB CTQG, Hà Nội - 1994, tr.621
Tổng quan chung 16 chương được trình bày ở phần này sẽ vạch rõ logic cũng
như phương pháp nghiên cứu của C.Mác.
Ở cụm 4 chương đầu (XXI – XXIV) - với giả định chưa có ngân hàng, mà chỉ
có quan hệ trực tiếp giữa một bên là tư bản tiền tệ và một bên là t
ư bản chức năng.
Tư bản sinh lời ở đây mới chỉ là tư bản cho vay của chủ sở hữu tư bản, không trực
tiếp sử dụng tiền của mình làm tư bản mà bán quyền sử dụng đó có điều kiện cho tư
bản chức năng để thu lợi tức. Phần nghiên cứu này đã vạch rõ nguồn gốc và bản
chấ
t của tư bản sinh lợi tức, lợi tức, các quan hệ TBCN thể hiện trong hình thái tư
bản sinh lợi tức như thế nào
Khi tín dụng được mở rộng và cụ thể hơn, giữa tư bản sở hữu và tư bản chức
năng có các trung gian tài chính – ngân hàng, tư bản ngân hàng và chủ ngân hàng.
Tư bản ngân hàng không chỉ gồm tư bản cho vay của tư bản sở hữu (tư bản - ti
ền tệ)
mà gồm cả các nguồn vốn bằng tiền khác được hút về ngân hàng, do đó tư bản ngân
hàng trở thành tư bản xã hội trực tiếp. Trong giai đoạn phân tích này chủ ngân hàng
13
C.Mác - Ph Ăngghen: Toàn tập, Tập 23, phần I, từ trang 146-220, Nxb CTQG, H 2002.
14
C.Mác - Ph Ăngghen: Toàn tập, Tập 25, phần I, từ trang 479-491 và từ trang 515-546, phần II từ trang 9-138. Nxb
CTQG, H 2002. 19
trở thành “người quản lý tiền tệ” không những của các tư bản tiền tệ mà của cả tư
bản công nghiệp và cả xã hội. Ngoài ra, ngân hàng không chỉ nhận gửi mà còn
phái ngân hàng”, đã phê phán một cách đúng đắn thuyết số lượng tiền tệ, nhưng
lại không hiểu bản chất của tiền tệ, của tư bản tiền tệ và tư bản sinh lợi tức, từ đó
dẫn Túc cơ đến chỗ đối l
ập không đúng phương tiện lưu thông với tư bản và dẫn
Phu lác tơn đến chỗ phân biệt không đúng việc cho vay tư bản và cho vay
phương tiện lưu thông.
Chương XXIX chỉ ra những bộ phận cấu thành của tư bản ngân hàng gồm: 1/
Tiền mặt - tức, vàng và giấy bạc ngân hàng; 2/ Các chứng khoán có giá (cả kỳ
phiếu, cổ phiếu, trái khoán …) và rút ra kết luận bộ phận lớn tư bản ngân hàng là t
ư
bản giả. 20
Ở chương XXX – XXXII, C.Mác đã nêu lên quan hệ (sự khác nhau và sự
thống nhất) giữa sự vận động của tư bản thật (tư bản sản xuất) với tư bản sinh lợi
tức (mà phần lớn là tư bản giả) trong các giai đoạn của chu kỳ công nghiệp.
Từ chương XXXIII – XXXV, trong đó chương XXXIII với tiêu đề “Phương
tiện lưu thông trong hệ thống tín dụ
ng” C.Mác đã xét tín dụng trên 2 mặt - là nhân
tố làm giảm bớt khối lượng tiền tệ cần thiết trong lưu thông, và là nhân tố tạo ra các
công cụ lưu thông mới (tiền tín dụng và các thứ ký hiệu tiền tệ khác). Chương
XXXIV – “Nguyên lý LTTT và đạo luật ngân hàng Anh” ông đã phê phán đạo luật
ngân hàng Anh dựa trên cơ sở những nguyên lý về LTTT đã được phân tích trong
các chương trước. Chương XXXV – “Các kim loại quý và thị giá hối đoái” nghiên
cứ
u mối quan hệ giữa tín dụng và LTTT nhưng dưới góc độ của các quan hệ kinh tế
quốc tế; tín dụng quốc tế và sự vận động của kim loại quý giữa các nước. Như vậy
cả ba chương có cùng một đối tượng nghiên cứu là tín dụng và LTTT, kết chặt với
nhau thành một hệ thống tiền tệ – tín dụng với đầy đủ tính chất muôn vẻ của nó.
người khác. Vì lẽ giản đơn: QHSX TBCN đã thiết lập.
Tư bản sinh lợi tức biểu hiện ra bên ngoài là hàng hoá, nhưng là hàng hoá đặc
biệt - hàng hoá tư bản. C.Mác đã viết: “Với tư cách là tư bản tiềm thế đó, là công cụ
để sinh ra P đó, tiền trở thành hàng hoá, nhưng là 1 loại hàng hoá đặc biệt. Hay nói
như thế này cũ
ng vậy: Tư bản với tư cách là tư bản đã trở thành hàng hoá”15.
Nghĩa là, nó có giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị sử dụng của tiền cho vay là ở
chỗ nó có thể làm chức năng tư bản và có thể sản sinh ra P trong điều kiện trung
bình”16. Nó cũng có giá cả và khi bán hàng hoá đặc biệt này (cho vay) thì giá trị và
GTSD không mất đi, trái lại còn lớn lên.
Thực chất của việc "cho vay" - vận động của tư
bản cho vay là việc người cho
vay đem tiền của mình chi ra với tư cách là tư bản - nhượng lại GTSD của tiền với
tư cách là tư bản cho người khác trong một thời gian nhất định với điều kiện phải
hoàn trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi. Đối với người đi vay, số tiền đi vay là tư bản hoạt
động hay còn gọi là tư bản chứ
c năng, anh ta sử dụng nó trong kinh doanh là chức
năng tư bản để tạo ra lợi nhuận.
Như vậy, sự vận động của tư bản cho vay không thể tách rời sự vận động, tuần
hoàn của tư bản công nghiệp. Trong thực tế, tiền tệ dưới dạng tư bản cho vay sở dĩ
"lớn lên" được là phải vận động theo công thức đầy đủ:
T+Z
T - T - H SX H’ - T’ - T’
P
Trong đó T - T và T' - T' chỉ là điểm mở đầu và điểm kết thúc, là sự chuẩn bị
và kết quả tuần hoàn của tư bản công nghiệp.
* Lợi tức và tỷ suất lợi tức
Cho vay là nhượng lại “GTSD phụ thêm của tiền”. GTSD phụ thêm của tiền
này khác hẳn GTSD các hàng hoá thông thường và khác hẳn GTSD của tiền với tư
cách là tiền. “GTSD phụ thêm của T”. Ở đây là khả n
Trong trường hợp thông thường thì Z < P, không vượt quá P (lợi nhuận bình quân).
Chính quy định về chất của Z (một bộ phận của P bình quân) quy định về mặt lượng
Z. Giới hạn tối thiếu của Z không thể quy định nhưng không thể
bằng 0, nghĩa là: 0
< Z < P.
"Giới hạn tối thiểu của Z hoàn toàn không thể qui định được, nó có thể hạ thấp
xuống bao nhiêu cũng được"
19
. Song không thể = 0, có thể gần = 0. Bởi, nếu Z = 0
thì nhà Kcv không cho vay, vì nhà tư bản đi vay không phải trả tí gì thì vô lý.
+ Tỷ suất lợi tức, được ký hiệu là Z' và được tính bởi công thức sau:
Lợi tức
Z’=
Tư bản cho vay
x 100%
Theo Mác, phải phân biệt tỷ suất lợi tức trung bình và tỷ suất lợi tức thị trường.
+ Tỷ suất lợi tức trung bình (Z’
tb
): là con số trung bình của các Z thực tế đã
biến động trong các chu kỳ lớn của công nghiệp
20
, nó không do 1 quy luật nào qui
định cả, mà nó hình thành trên cơ sở tập quán, kinh nghiệm, theo sự thoả thuận giữa
người cho vay và người đi vay
21
, và không thể do cạnh tranh qui định.
+ Tỷ suất lợi tức thị trường (Z’
tt
): Bị qui định bởi quy luật cung cầu, quy luật
cạnh tranh “Tập quán, truyền thống được pháp luật thừa nhận, cũng hoàn toàn giống
ra với giá cao khi Z’ thấp có thể lên xuống độc lập với P’ do hai nguyên nhân: mộ
t
là: vì số người thực lợi ngày một đông; hai là, do sự phát triển của tín dụng.
Sự cạnh tranh giữa các nhà tư bản chính là nhờ sự vận động san bằng Z’.
+ Tư bản tiền tệ được phân phối giữa các lĩnh vực khác nhau tuỳ theo nhu cầu.
Tư bản tiền tệ biểu hiện trên thị trường ngày càng có tổ chức, thống nhất, tập trung
đặt dưới sự
kiểm soát của ngân hàng là người đại biểu cho tư bản xã hội.
+ Khi có tín dụng ngân hàng thương mại phát triển thì tiền làm chức năng
phương tiện thanh toán được thể hiện: 1) Bán là phương tiện để mua; 2) Trái
khoán và kỳ phiếu … trở thành phương tiện thanh toán đối với chủ nợ; 3) Việc bù
trừ qua lại giữa các trái khoán thay thế cho tiền.
ii. Sự phân chia lợi nhuận thành lợi tức và lợi nhuận doanh nghiệp.
Sự phân chia này là s
ự phân chia về lượng của cùng một chất tức là giá trị
thặng dư nhưng lại biểu hiện ra bên ngoài thành sự phân chia về chất tức là làm cho
P doanh nghiệp và Z có 2 nguồn gốc khác nhau, làm cho nhà tư bản sử dụng tư bản
của chính mình cũng đem chia lợi nhuận bình quân P thành 2 bộ phận P doanh
nghiệp và Z. Trong trường hợp người sở hữu lại là do nhiều pháp nhân hợp thành.
Lý do là:
Đa số các nhà tư bản doanh nghiệp
đều có tư bản tự có và tư bản đi vay.
Vì một phần lợi nhuận mang hình thái lợi tức nên phần kia mang hình thái P
doanh nghiệp.
Dù nhà tư bản hoạt động bằng tư bản của chính mình hay tư bản đi vay cũng
không thay đổi tình hình. Lợi tức luôn là một phần (m) chỉ đơn giản do quyền sở
hữu tư bản sinh ra.
Trong xã hội tư bản lao động quản lý, giám sát và điều khiể
n phải xuất hiện
khi quá trình sản xuất trực tiếp đã mang lại hình thái một quá trình kết hợp có tính