Xây dựng bộ công cụ đánh giá tình hình sử dụng kháng sinh tại bệnh viện e - Pdf 29


BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
PHAN THỊ THU

XÂY DỰNG BỘ CÔNG CỤ
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG
KHÁNG SINH TẠI BỆNH VIỆN E
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ

HÀ NỘI – 2015

BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
PHAN THỊ THU


Nội đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em để hoàn thành khóa luận.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể các cán bộ, dược sĩ Khoa Dược, Phòng Kế
hoạch - Tổng hợp, các bác sĩ khoa Hồi sức tích cực và khoa Truyền nhiễm, Bệnh
viện E, đã luôn nhiệt tình, động viên và khuyến khích em trong suốt khoảng thời
gian thực hiện khóa luận.
Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia
đình và bạn bè, những người luôn bên cạnh quan tâm, ủng hộ, động viên em trong
những lúc khó khăn, giúp em hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình trong suốt 5 năm
đại học.
Hà Nội, ngày 14 tháng 5 năm 2015
Sinh viên Phan Thị Thu MỤC LỤC
DANH MỤC TÊN VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ ĐỒ THỊ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN 3
1.1. Đánh giá sử dụng kháng sinh 3
1.2. Các bộ công cụ đánh giá sử dụng kháng sinh 5
1.2.1. Bộ công cụ ESAC (European Surveillance of Antimicrobial
Consumption) 5
1.2.2. Bộ công cụ MSH (Management Sciences for Health – MSH) 7

3.2.2. Các chỉ tiêu áp dụng theo chỉ tiêu của bộ công cụ MSH 29
3.2.3. Các chỉ tiêu sửa đổi từ chỉ tiêu của bộ công cụ MSH 31
3.2.4. Các chỉ tiêu không áp dụng từ chỉ tiêu của bộ công cụ MSH 32
3.2.5. Các chỉ tiêu bổ sung về đánh giá kháng sinh nhóm quinolon 32
3.2.6. Kết quả về việc xây dựng chỉ tiêu chuyển đổi đƣờng dùng kháng sinh
quinolon từ đƣờng tiêm sang đƣờng uống 34
3.3. Kết quả áp dụng bộ công cụ đánh giá thử nghiệm tình hình sử dụng kháng sinh
tại bệnh viện E 36
3.3.1. Đặc điểm bệnh nhân và kháng sinh sử dụng 38
3.3.2. Kết quả đánh giá thử nghiệm tình hình sử dụng kháng sinh tại bệnh viện
E theo bộ công cụ vừa xây dựng 39
CHƢƠNG 4. BÀN LUẬN 42
4.1. Bàn luận về kết quả khảo sát sơ bộ tình hình sử dụng kháng sinh tại bệnh viện
E 42
4.2. Bàn luận về việc xây dựng bộ công cụ đánh giá tình hình sử dụng kháng sinh ở
bệnh viện 44
4.2.1. Về phƣơng pháp xây dựng bộ công cụ đánh giá tình hình sử dụng kháng
sinh ở bệnh viện E 44
4.2.2. Về các chỉ tiêu của bộ công cụ đánh giá tình hình sử dụng kháng sinh
tại bệnh viện E 44
4.2.3. Bàn luận về xây dựng tiêu chí chuyển đổi đƣờng dùng kháng sinh
quinolon từ đƣờng tiêm sang đƣờng uống 46
4.3. Bàn luận về kết quả đánh giá tình hình sử dụng kháng sinh ở bệnh viện E theo
bộ công cụ mới xây dựng 46
4.3.1. Bàn luận về việc kê đơn kháng sinh tại bệnh viện 46
4.3.2. Bàn luận về mục đích sử dụng kháng sinh và việc sử dụng kháng sinh ở
bệnh nhân có phẫu thuật/thủ thuật 47

Bộ công cụ kiểm soát kháng sinh Glasgow (Glasgow
Antimicrobial Audit Tool)
HCAI
Các bệnh nhiễm trùng có liên quan chăm sóc y tế
HP
Helicobacter pylori
IV
Đƣờng tiêm
KS
Kháng sinh
MSH
Tổ chức Khoa học Quản lý Sức khỏe (Management Sciences for
Health)
NHS
National Health Service
NK
Nhiễm khuẩn
RPM Plus
Chƣơng trình Quản lý Sử dụng thuốc Hợp lý (Rational
Pharmaceutical Management Plus
SPS
Chƣơng trình nâng cao năng lực hệ thống Dƣợc (The
Strengthening Pharmaceutical Systems (SPS) Program)
PO
Đƣờng uống
TB
Trung bình
VPQ
Viêm phế quản
WHO

Các chỉ tiêu áp dụng theo chỉ tiêu của bộ công cụ MSH
30
Bảng 3.5
Các chỉ tiêu sửa đổi từ chỉ tiêu của bộ công cụ MSH
31
Bảng 3.6
Các chỉ tiêu không áp dụng từ chỉ tiêu của bộ công cụ
MSH
32
Bảng 3.7
Liều dùng khi chuyển đổi đƣờng dùng IV - PO
36
Bảng 3.8
Kết quả đánh giá các chỉ tiêu liên quan đến bệnh viện
37
Bảng 3.9
Một số đặc điểm bệnh nhân và kháng sinh sử dụng
38
Bảng 3.10
Kết quả đánh giá các chỉ tiêu về chất lƣợng
39
Bảng 3.11
Kết quả đánh giá các chỉ tiêu liên quan chăm sóc và chỉ
tiêu bổ sung
41

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

là sự gia tăng kháng kháng sinh, dẫn đến khó khăn trong việc kiểm soát các bệnh
nhiễm khuẩn, làm tăng chi phí điều trị và chi phí chăm sóc sức khỏe, đồng thời,
kháng kháng sinh đe dọa lợi ích chăm sóc sức khỏe của xã hội [40]. Đặc biệt, gánh
nặng ở các nƣớc đang phát triển về các bệnh nhiễm khuẩn và những chi phí bắt
buộc cho việc thay thế những kháng sinh cũ bằng kháng sinh mới, đắt tiền [34]. Vì
vậy, các cơ sở điều trị cũng nhƣ các quốc gia cần có đánh giá tình hình sử dụng
kháng sinh để có cái nhìn tổng quát về việc sử dụng kháng sinh ở đơn vị mình, từ
đó thay đổi thực hành lâm sàng, nâng cao nhận thức về việc sử dụng kháng sinh hợp
lý, góp phần làm giảm sự đề kháng kháng sinh.
Hai bộ công cụ thƣờng đƣợc các cơ sở điều trị trên thế giới áp dụng để đánh
giá tình hình sử dụng kháng sinh là 2 bộ công cụ đƣợc đƣa ra từ hai chƣơng trình là
Chƣơng trình Giám sát Sử dụng kháng sinh ở Châu Âu (European Surveillance of
Antimicrobial Consumption - ESAC) và Chƣơng trình Quản lý Sử dụng thuốc Hợp
lý (Rational Pharmaceutical Management Plus - RPM Plus) của Tổ chức Khoa học
Quản lý Sức khỏe (Management Sciences for Health - MSH). Mỗi bộ công cụ có
đặc điểm riêng, phù hợp với mục tiêu của từng chƣơng trình.
Tại bệnh viện E, để triển khai chƣơng trình góp phần sử dụng kháng sinh hợp
lý, khoa Dƣợc bệnh viện hằng năm cần có đánh giá sử dụng kháng sinh, góp phần
thay đổi thực hành lâm sàng, nâng cao tỉ lệ sử dụng thuốc hợp lý. Do vậy, việc xây
dựng một bộ công cụ đánh giá sử dụng kháng sinh có thể dễ dàng áp dụng trong
thực hành, đánh giá đƣợc các khía cạnh quan trọng của tình hình thực tế sử dụng
thuốc tại bệnh viện là một yêu cầu cần thiết.
Để góp phần vào việc đánh giá sử dụng kháng sinh tại bệnh viện E, chúng tôi
tiến hành thực hiện đề tài “Xây dựng bộ công cụ đánh giá tình hình sử dụng
kháng sinh tại bệnh viện E” với các mục tiêu sau:
2 - Khảo sát tình hình tiêu thụ kháng sinh tại bệnh viện E trong giai đoạn 2012 –
2014.

mạch; 28,2% đƣợc chuyển đƣờng dùng từ đƣờng tiêm truyền tĩnh mạch sang đƣờng
uống. Kháng sinh hay gặp là cephalosporin thế hệ 3 (28,3%); amoxicillin kết hợp
acid clavulanic (20,2%); metronidazol (19,2%); glycopeptid (18,6%) [35]. Một cuộc
khảo sát tỉ lệ điểm đa trung tâm về sử dụng kháng sinh không thích hợp trong các
bệnh viện Nhi khoa Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy tỉ lệ bệnh nhân đƣợc kê đơn kháng sinh là
54,6%, trong đó 46,7% bệnh nhân nhận đƣợc ít nhất một kháng sinh không phù
hợp. Nhiễm trùng đƣờng hô hấp là chỉ định phổ biến nhất cho việc sử dụng kháng
sinh (29,4%). Sử dụng kháng sinh không phù hợp phổ biến nhất ở bệnh nhiễm trùng
4 tổ chức sâu (54,7%) và nhiễm trùng đƣờng hô hấp (56,5%). Tỉ lệ kháng sinh
fluoroquinolon đƣợc sử dụng không phù hợp cao nhất so với các kháng sinh khác
(81,8%) [12]. Một cuộc khảo sát tỉ lệ sử dụng kháng sinh không phù hợp ở bệnh
viện chuyên khoa lớn ở Thụy Sĩ cho thấy tỉ lệ sử dụng kháng sinh là 44,4%, trong
đó 75,4% kháng sinh đƣợc kê đơn điều trị và 24,6% đƣợc kê đơn dự phòng phẫu
thuật, trong đó 37,0% kháng sinh điều trị và 16,6% kháng sinh dự phòng đƣợc kê
đơn là không phù hợp. Đặc điểm thƣờng gặp nhất của việc kê đơn điều trị không
thích hợp bao gồm: Không có chỉ định (17,5%); lựa chọn kháng sinh không đúng
(7,6%); lựa chọn thuốc không đúng (9,3%); và không theo hƣớng dẫn điều trị (8%).
Đặc điểm của kháng sinh dự phòng không phù hợp là: Không có chỉ định (9%); lựa
chọn kháng sinh không đúng (1%); thời gian sử dụng kháng sinh quá dài hoặc sử
dụng không phù hợp khác (6,7%). Dựa trên những kết quả này, các nhà quản lý sẽ
tăng cƣờng giáo dục, hƣớng dẫn sửa đổi thể chế và phát triển hơn nữa các dịch vụ
tƣ vấn các bệnh truyền nhiễm [14].
Một số nghiên cứu đánh giá tình hình sử dụng kháng sinh đã đƣợc tiến hành ở
một số bệnh viện của Việt Nam. Phân tích việc sử dụng kháng sinh nhóm quinolon
ở khoa Hồi sức tích cực bệnh viện Bạch Mai năm 2012 cho thấy tỉ lệ kháng sinh
ciprofloxacin dùng đƣờng tiêm chiếm 95,9% tỉ lệ sử dụng, kháng sinh levofloxacin
đƣờng tiêm là 84,5%. Có 58,65% bệnh nhân sử dụng kháng sinh quinolon có liều

- Trong giai đoạn 1, thông tin đƣợc thu thập từ nguồn cơ sở dữ liệu chung của
quốc gia, bao gồm cả thông tin về dân số, mô hình bệnh tật, hệ thống y tế cũng nhƣ
thông tin về tiêu thụ kháng sinh. Trong giai đoạn này, các chỉ số đƣợc thiết kế, sử
dụng ở quy mô quốc gia, không dùng cho từng bệnh viện cụ thể.
- Trong giai đoạn 2, thông tin đƣợc thu thập từ các bệnh viện thông qua điều
tra cắt ngang. Mẫu phiếu đƣợc đƣa lên trang web của chƣơng trình và việc hoàn
thiện dữ liệu vào phiếu có thể tiến hành trực tuyến. Giai đoạn này giúp chuẩn hóa
phƣơng pháp nghiên cứu cũng nhƣ hình thức báo cáo. Các chỉ tiêu bao gồm đặc
điểm bệnh nhân, kháng sinh, chỉ định, mức độ hợp lý theo hƣớng dẫn điều trị.
- Trong giai đoạn 3, trên cơ sở đã hoàn thiện chƣơng trình thu thập dữ liệu
trực tuyến, vẫn là nghiên cứu cắt ngang nhƣng cỡ mẫu điều tra đƣợc mở rộng, cơ sở
dữ liệu đƣợc hình thành dƣới dạng sách điện tử, thuận tiện cho công tác tra cứu, báo
6 cáo…Các chỉ số đƣợc đánh giá trong giai đoạn 3 bao gồm: các chỉ tiêu liên quan
đến đề kháng, giải thích sự biến động trong sử dụng kháng sinh, đích can thiệp để
cải thiện [22].
1.2.1.2. Một số nghiên cứu áp dụng bộ chỉ số của ESAC
Một số nghiên cứu điển hình đã áp dụng bộ công cụ của ESAC đƣợc thực hiện
ở nhiều nơi trên thế giới: Đánh giá chất lƣợng sử dụng kháng sinh điều trị ngoại trú
tại châu Âu vào năm 2009 dựa trên 12 chỉ số chất lƣợng thuốc cụ thể của ESAC cho
thấy chất lƣợng sử dụng thuốc kháng sinh ngoại trú giảm từ năm 2004 đến năm
2009 [8].
Nghiên cứu về việc sử dụng kháng sinh ở Latvia, giai đoạn 2003-2007 cho kết
quả các nhóm kháng sinh thƣờng đƣợc sử dụng nhất là cephalosporin thế hệ đầu
tiên (35,6-38,9%), penicilin phổ rộng (17,5-23,0%), fluoroquinolon (8,4-14,5%) và
các aminoglycosid (7,7-12,6%). Cefazolin là kháng sinh đƣợc sử dụng phổ biến
nhất. Kháng sinh đƣợc sử dụng chủ yếu bằng đƣờng tĩnh mạch. Tỉ lệ uống dao động
từ 15,1% đến 21,8%. Một tỉ lệ lớn (13,3%) của các loại thuốc kháng sinh đƣợc sử

chỉnh cho phù hợp với bệnh nhân thuộc khu vực nội trú [27].
Mục đích của hƣớng dẫn này là để xác định các chỉ số sẽ mô tả khách quan
việc quản lý và sử dụng kháng sinh trong các bệnh viện và để cung cấp các công cụ
và từng bƣớc hƣớng dẫn để thiết kế và thực hiện đánh giá về sử dụng kháng sinh và
quản lý tại các bệnh viện. Hƣớng dẫn sẽ làm theo mô hình của các hƣớng dẫn đánh
giá của Chƣơng trình Quản lý Dƣợc quốc gia trƣớc đây và công bố của WHO bằng
cách trình bày một số giới hạn các chỉ số hữu ích cho kiểm tra, giám sát và đánh giá
tác động. Bởi vì các chỉ số này không cần phải điều chỉnh và có thể đƣợc sử dụng
trong bất kỳ nghiên cứu sử dụng kháng sinh dựa trên chỉ số, họ cung cấp một công
cụ đơn giản để đánh giá nhanh chóng và đáng tin cậy các khía cạnh quan trọng của
việc sử dụng kháng sinh trong bệnh viện. Bộ chỉ số này đƣợc dự định nhƣ là một
công cụ đánh giá nhanh có thể đƣợc sử dụng bởi các quản trị bệnh viện, hội đồng
thuốc và điều trị (DTCs), các nhà nghiên cứu, quản lý chƣơng trình ở các nƣớc đang
phát triển để xác định vấn đề với việc sử dụng kháng sinh trong các bệnh viện của
họ. Nó sẽ cho phép so sánh cơ bản của việc sử dụng kháng sinh cả trong một bệnh
viện theo thời gian và giữa các bệnh viện. Điều này thiết lập các chỉ số có thể đƣợc
8 sử dụng tại các huyện, khu vực, hoặc giới thiệu tuyến bệnh viện. Lý tƣởng nhất, tất
cả các chỉ số sẽ đƣợc sử dụng trong một nghiên cứu, nhƣng một số bệnh viện có thể
thấy rằng họ sẽ sử dụng các chỉ số chỉ đƣợc lựa chọn áp dụng cho những trƣờng hợp
cụ thể của mình. Ví dụ, một bệnh viện nhỏ mà không có dịch vụ phẫu thuật sẽ
không cần phải sử dụng hai chỉ số về việc dự phòng phẫu thuật. Bệnh viện mà
không có dịch vụ xét nghiệm đầy đủ sẽ không thực sự tính toán chỉ số bổ sung thử
nghiệm độ nhạy cảm.
Bộ chỉ số gồm 17 chỉ số, trong đó mƣời sáu chỉ số chính liên quan đến việc sử
dụng kháng sinh trong bệnh viện đƣợc mô tả: 5 chỉ số liên quan đến bệnh viện, 9
chỉ số liên quan đến việc kê đơn, và 2 chỉ số liên quan tới việc chăm sóc bệnh nhân,
chỉ số thứ 17 là chỉ số phụ liên quan đến thử độ nhạy cảm của thuốc với vi khuẩn

uống
Kháng sinh là những thuốc đƣợc sử dụng nhiều nhất trong bệnh viện. Trung
bình, một phần ba số bệnh nhân đƣợc kê đơn kháng sinh điều trị, và khoảng 40%
10 những bệnh nhân này đƣợc sử dụng kháng sinh đƣờng tiêm. Có đến khoảng 40%
đơn kê kháng sinh không đúng hoặc không phù hợp, thƣờng phản ánh sự lạm dụng
các kháng sinh đƣờng tiêm đắt tiền [29]. Một nghiên cứu thu thập dữ liệu trong
khoảng thời gian 3 tháng tại 5 bệnh viện trƣờng đại học ở Áo, Bỉ và Đức, trên 211
bệnh nhân điều trị kháng sinh đƣờng tiêm đã chỉ ra rằng có 37,0% bệnh nhân đƣợc
điều trị bằng kháng sinh đƣờng tiêm không thích hợp, dao động từ 17,5% lên 53,8%
ở các bệnh viện [11]. Sử dụng không hợp lý đƣờng tiêm có thể gây ra hậu quả bất
lợi cho bệnh nhân, sự kháng kháng sinh trong tƣơng lai, mất nhiều thời gian của
nhân viên và tăng thêm chi phí điều trị.
Thận trọng kê đơn kháng sinh, bao gồm đƣờng dùng và độ dài đợt điều trị hợp
lý, sẽ giúp tránh đƣợc các hậu quả và đảm bảo chăm sóc bệnh nhân tối ƣu và sử
dụng các nguồn lực [37].
Một số lợi ích từ việc sớm chuyển đường dùng từ đường tiêm sang đường
uống:
- Giảm khả năng mắc phải nhiễm khuẩn huyết ở bệnh viện và nhiễm trùng/viêm
tĩnh mạch.
- Bệnh nhân thích hơn khi đƣợc dùng kháng sinh đƣờng uống tại đúng thời
điểm và ít quên liều hơn. Giảm sự khó chịu của bệnh nhân và cho phép cải
thiện sự di chuyển và khả năng xuất viện sớm hơn.
- Giảm nguy cơ của phản ứng có hại; sai sót trong chuẩn bị các thuốc tiêm cao
hơn so với đƣờng uống.
- Tiết kiệm thời gian chăm sóc và điều dƣỡng.
- Giảm chi phí điều trị tiềm tàng cho phép tài chính phân bổ hợp lý hơn [37],
[15], [36]

1.3.2. Các tiêu chí chuyển đổi đường dùng thuốc từ đường tiêm sang đường
uống theo một số hướng dẫn
Theo các hƣớng dẫn chuyển liệu pháp điều trị từ đƣờng tiêm sang đƣờng uống
của Malaysia [33], của NHS Grampian (Scotland) [37], bệnh nhân đƣợc dùng kháng
sinh đƣờng tiêm nếu:
- Bệnh nhân có vấn đề về đƣờng uống (nôn, không uống đƣợc, tiêu chảy
nghiêm trọng, khó nuốt, bất tỉnh). Bệnh nhân có vấn đề về đƣờng tiêu hóa:
không hoặc giảm hấp thu qua đƣờng tiêu hóa.
- Tình trạng nhiễm trùng (Sepsis):
o Có 2 hoặc nhiều hơn các dấu hiệu sau: nhiệt độ: T > 38°C hoặc T < 36℃,
nhịp tim > 90 nhịp/phút, nhịp thở > 20/phút, bạch cầu > 12 hoặc < 4 G/l.
o Có nghi ngờ nhiễm khuẩn.
- Tình trạng lâm sàng không cải thiện hoặc nặng thêm sau 48-72 giờ điều trị
(dựa vào các thông số nhiệt độ, nhịp thở, số lƣợng bạch cầu…).
12 - Chỉ định đặc biệt trong các trƣờng hợp cần liều cao tĩnh mạch: viêm màng
trong tim, nhiễm trùng hệ thần kinh trung ƣơng (viêm màng não, áp xe não…),
viêm ổ mắt, viêm tủy xƣơng, viêm nội nhãn, nhiễm trùng bộ phận giả, bệnh bọ
chét chuột (ít nhất 10-14 ngày điều trị đƣờng tiêm), áp xe sâu.
- Sốt trên bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính:
o Nhiệt độ cơ thể > 38,5°C hoặc nhiệt độ đo 2 lần, cách nhau 2 giờ đều >
38°C
o Số lƣợng bạch cầu trung tính <500/mm³ hoặc có xu hƣớng giảm xuống
dƣới giá trị này trong 1 vài giờ tới.
- Không sẵn có thuốc dạng uống tƣơng ứng.
Theo hƣớng dẫn chỉ định kháng sinh đƣờng tiêm và liệu pháp điều trị chuyển từ
đƣờng tiêm sang đƣờng uống của NHS Grampian (Scotland) [37], nếu bệnh nhân có
vấn đề sau đây thì vẫn tiếp tục sử dụng kháng sinh đƣờng tĩnh mạch:

Liều tƣơng tự đƣờng tĩnh
mạch
98%
Ciprofloxacin
400mg mỗi
12giờ
500mg mỗi 12 giờ
750mg mỗi 12 giờ nếu
nhiễm Pseudomonas spp.
70-80%

1.3.4. Các nghiên cứu về việc chuyển đường dùng từ đường tiêm sang đường
uống của kháng sinh nói chung và kháng sinh nhóm quinolon
Có nhiều nghiên cứu chứng minh về hiệu quả, an toàn và giảm thiểu chi phí
của việc chuyển đổi đƣờng dùng kháng sinh từ đƣờng tiêm sang đƣờng uống. Dƣới
đây là một vài nghiên cứu:
Nghiên cứu của Tae Park Young và Jung Sik Choi ở Seoul, Hàn Quốc cho kết
quả chuyển đổi điều trị bằng kháng sinh dùng đƣờng uống sớm sau khi dẫn lƣu mật
đầy đủ để điều trị bệnh viêm đƣờng mật cấp tính với nhiễm khuẩn huyết là không
thua kém với điều trị kháng sinh tiêm tĩnh mạch 10 ngày thông thƣờng. Tỉ lệ tiêu
diệt vi khuẩn lần lƣợt là 93,1% ở nhóm dùng đƣờng uống và 93,3% ở nhóm dùng
đƣờng tiêm (p = 0,97). Không có khác biệt có ý nghĩa thống kê về sự tái phát của
viêm đƣờng mật cấp tính và tỉ lệ tử vong trong vòng 30 ngày giữa hai nhóm [32].
Chƣơng trình điều trị hạ bậc ciprofloxacin cho ngƣời lớn có nguy cơ cao sốt
giảm bạch cầu ở bệnh viện Vancouver và Trung tâm Khoa học Y tế, British
Columbia, Canada cho thấy nhóm sau khi có can thiệp giảm liều ciprofloxacin
đƣờng tiêm từ 400mg xuống 200mg và chuyển đổi đƣờng tiêm sang đƣờng uống
giảm đƣợc chi phí thuốc trung bình/ngày (trƣớc can thiệp là 58$, sau can thiệp là
52$); đồng thời, cũng có xu hƣớng giảm tổng chi phí điều trị (sau can thiệp là
3493$ so với trƣớc can thiệp là 4843$) [28].
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG – PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ESAC
MSH
Kết quả: Bộ công cụ đánh giá tình hình sử dụng
kháng sinh gồm các chỉ tiêu:
- Một số chỉ tiêu áp dụng từ bộ công cụ MSH
- Một số chỉ tiêu sửa đổi từ bộ công cụ MSH
- Một số chỉ tiêu bổ sung về kháng sinh
quinolon
Lấy ý kiến bác sỹ khoa lâm
sàng
Xây dựng tiêu chí chuyển đổi
đƣờng dùng kháng sinh
quinolon từ đƣờng tiêm sang
đƣờng uống
Xác định sơ bộ vấn đề cần đánh
giá, can thiệp: kháng sinh nhóm
quinolon có tổng liều DDD đƣờng
tiêm cao
Khảo sát tình hình tiêu thụ kháng
sinh tại bệnh viện E qua 3 năm
2012-2014 dựa trên liều DDD
Lấy ý kiến dƣợc sỹ khoa Dƣợc
bệnh viện E để lựa chọn bộ
công cụ thích hợp

Sau khảo sát, kết quả cho thấy kháng sinh quinolon là nhóm kháng sinh có
tổng liều DDD tiêu thụ tăng dần qua các năm cả về tổng lƣợng tiêu thụ và riêng
đƣờng tiêm. Các quinolon đƣờng tiêm có số liều DDD cao nhất trong số các kháng
sinh đƣờng tiêm năm 2014 dùng trong nội trú.
Do vậy, trong phần tiếp theo, đề tài tiến hành khảo sát sử dụng kháng sinh
quinolon trên bệnh án.
2.1.2. Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh nhóm quinolon
2.1.2.1. Đối tượng nghiên cứu
Bệnh án của bệnh nhân điều trị tại bệnh viện E có thời gian ra viện từ ngày
02/02 đến 08/02/2015, thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn: có thời gian nằm viện ít nhất
24 giờ tại bệnh viện E trong thời gian nghiên cứu và đƣợc kê đơn điều trị bằng ít
nhất một loại kháng sinh quinolon đƣờng toàn thân trong thời gian nằm viện.
Kết quả, chúng tôi thu đƣợc 89 bệnh án thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn.

Trích đoạn NỘI DUNG 3: Áp dụng bộ công cụ vừa xây dựng đánh giá thử nghiệm tình .Các chỉ tiêu áp dụng theo chỉ tiêu của bộ công cụ MSH Các chỉ tiêu bổ sung về đánh giá kháng sinh nhóm quinolon Kết quả áp dụng bộ công cụ đánh giá thử nghiệm tình hình sử dụng kháng sinh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status