1
Tranh sơn mài Việt Nam
~thông qua kinh nghiệm tại nhà xưởng sơn mài của ông Phạm Kim Mã~
Khóa tiếng Việt, Trường Đại Học Osaka
Yoshida Asuka
PHẦN MỞ ĐẦU
************************
1. Lý do chọn đề tài
Tác giả có 2 lý do chính lụa chọn đề tài này.
Lý do thứ nhất là kinh nghiệm tại Hà Nội. Tác giả đã đi du học sang thành phố Hà
Nội, Việt Nam, từ tháng 6 năm 2009 đến tháng 3 năm 2010. Ở thành phố Hà Nội, tác
giả vừa đi học ngôn ngữ và văn hóa Viêt Nam ở Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội, vừa
đi học sơn mài tại nhà xưởng vẽ tranh sơn mài của họa sĩ Phạm Kim Mã
1
. Tác giả vốn
là người yêu thích vẽ tranh, đã từng học vẽ tranh gần 6 năm và học vẽ tranh màu dầu
gần 2 năm. May mắn là ông là bạn quen lâu rồi của giáo sư Shimizu Masaaki và thầy đã
giới thiệu hộ tác giả cho ông ấy. Trước khi sang Việt Nam, tác giả không biết vè nghề
1
Họa sĩ tranh sơn mài. Đang ở thành phố Hà Nội. Được nhắc đến trong chương 2.
2
sơn mài, đặc biệt về tranh sơn mài thì tác giả không biết gì cả. Nhưng sau khi bắt đầu
học vẽ tranh trực tiếp, tác giả nhận ra tranh sơn mài rất hấp dẫn. Màu sắc rất sâu sắc và
mặt tranh nhẵn phẳng và lóng lánh. Như vậy, tác giả dần dần muốn nhiên cứu tranh sơn
xưởng ông. Họ yêu thích vẽ tranh nhưng không biết họ có thể vẽ tiếp được hay không
do những lý do. Như đã nói trên đây, tranh sơn mài Việt Nam là một nghệ thuật thật hay,
bao gồm nét truyền thống riêng của Việt Nam. Cho nên tác giả cảm thấy rất tiếc về tình
trạng này. Thông qua phỏng vấn v.v., muốn khảo sát về tương lai của tranh sơn mài.
3. Phạm vi đối tượng nghiên cứu
Đề tài “Tranh sơn mài Việt Nam ~thông qua kinh nghiệm tại nhà xưởng sơn mài
4
của ông Phạm Kim Mã~” lấy đối tượng nghiên cứu là kỹ thuật vẽ tranh sơn mài Việt
Nam, đặc biệt là kỹ thuật của ông Phạm Kim Mã, và những người đang làm việc ở nhà
xưởng ông.
4. Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Sawai Kiyoyuki đã viết một bài nói về lịch sử phát triển tranh sơn mài Việt Nam
trong tạp chí,
“Bạc Hoa 1999. Số 199”
. Ông giới thiệu tranh sơn mài Việt Nam, đặc biệt là
tác phẩm của một họa sĩ tranh sơn mài tên là Thanh Chương
2
.
Matsuzaki Mami, đã tốt nghiệp khoa tiếng Việt, Trường Đại Học Ngoại Ngữ
Osaka (Trường Đại Học Osaka, bây giờ) đã viết luận về nghề sơn mài ở Việt Nam. Chủ
đề là ‘Khảo sát về nghề sơn mài Việt Nam’. Bà ấy đã viết về sơn Việt Nam và nghề
sơn mài Việt Nam bao gồm tranh sơn mài.
5. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sẽ dùng những tài liệu nói về nghề sơn mài và tranh sơn mài của cả 2
nươc, Việt Nam và Nhật Bản để tìm hiểu cơ bản lĩnh vực này.
Thêm vào đó, tác giả sẽ dùng tài liệu đã được lấy trực tiếp ở nhà xưởng của ông
Phạm Kim Mã chẳng hạn như sau: bức ảnh và vi-đê-ô về quá trình sản xuất tranh sơn
mài của ông Kim Mã, kết quả phỏng vấn ở nhà xương của ông v.v. Các tài liệu mà tác
Việt Nam và sử dụng kỹ thuật truyền thống Việt Nam như: dệt lựa, nghề sơn mài,…v.v.
Hõ đá có ý định để kết hợp kỹ thuật Phương Tây với kỹ thuật truyền thống của Việt
Nam ở Trường Đại Học đó.
Joseph Inguimberty (1896- 1971), giáo viên người Pháp ngành vẽ tranh, đã mời
một số thợ nghề sơn mài đến Trương để nghiên cứu kỹ thuật của họ, và đã mở nhà
xưởng vẽ tranh sơn mài vào năm 1934.
Những sinh viên người Việt Nam bấy giờ vừa học kỹ thuật vẽ tranh của Phương
Tây, vừa học nghề truyền thống của đất nước Việt Nam ở chuyên ngành sơn mài của
Trương Đại Học này, và họ đã trở thành họa sĩ tranh sơn mài. Cả Ông Sawai và ông
Phạm Kim Mã
3
lẫn giải thích rằng trong nhiều sinh viên đó, có một nhóm mà nghiên
cứu để phát triển tranh sơn mài Việt Nam bao gồm họa sĩ giỏi như ông Nguyễn Gia Trí
(1908- 1993)
4
. Ông đã nghiên cứu cách mài và màu sắc phong phú hơn và đóng vai trò
quan trọng cho ngành tranh sơn mài.
3
Kết quả phòng vấn do tác giả thực hành vào ngày 30 tháng 1 năm 2010.
4
Quê ở Hà Tây. Tốt nghiệp TĐH Đông Dương vào năm 1936. Sống ở Hông Kông từ năm ’46-’51.
Vẽ tranh ở T.P. Hồ Chí Minh từ năm ’54.
7
Bây giờ ở Trường Đại Học Mỹ Thuật ở Hà Nội có Khoa hội họa, nên sinh viên có
thể học tranh sơn mài trong khoa đó. Thêm vào đó, một số họa sĩ tranh sơn mài dậy vẽ
tranh riêng như ông Kim Mã. Người mà muốn học vẽ tranh sơn mài có thể học ở những
nơi như thế.
2.1.b Công ty KIMA
Ông Phạm Kim Mã đã mở công ty KIMA vào năm 1986.
Đa phần những Nguyên liệu ông Mã sử dụng trong quá trình sản xuất là nguồn tự
nhiên. Chẳng hạn như: sơn tự nhiên (xuất xứ ở PhúThọ), bột màu (lấy từ sỏi đá trên núi
và rừng), vỏ trai, ốc, trứng, bạc lá, vàng lá (được sản xuất ở làng nghề Kiêu Kị),… v.v.
9
Các thông tin cả về quá trình sản xuất lẫn về nguyên liệu đều được nói ở phần sau đây.
Ông Mã chỉ bán sản phẩm, tác phẩm ở xưởng vẽ và 1 cửa hàng duy nhất ở Hà
Nội thôi. Khách hàng là 100% du khách và khách quen. Nhiều nhất là người Nhật Bản.
Ngòai ra, cũng có người Úc, Pháp, Anh,…v.v. Bây giờ ông ấy đang xuất khẩu sang Sing
và Pháp. Đó là kiểu hợp tác giữa 2 công ty, hoặc giữa công ty và cá nhân. Ông ấy đã
từng xuất khẩu sang Nhật Bản vào năm 1993. Những tác phẩm xuất khâủ sang Nhật
Bản, chẳng hạn như; bát, đĩa, khay, hộp kiểu Nhật Bản, jubako, v.v. Hơn nữa, năm
1999 sản xuất và xuất khẩu Mikoshi, tượng Phật, và một số sản phẩm tôn giaó của
người Nhật sang Nhật Bản.
2.1.c Những người đang làm việc ở nhà xưởng KIMA
Bây giờ ông đang làm việc với một nghệ nhân tên là Đinh Văn Hạc, năm nay 66
tuổi. Ông Hạc đóng vai trò hòan thiện sơn mài ở công ty đó. Ở xưởng cũng có rất nhiều
thế hệ sinh viên đang học vẽ tranh ở Tường Đại Học đến xưởng vẽ của ông Kim Mã để
thực hành vẽ tranh và học kỹ thuật sơn mài ở xưởng vẽ.
2.2 Quá trình sản xuất tranh sơn mài KIMA
2.2.a Nguyên liệu được sử dụng để sản xuất tranh sơn mài KIMA
Công ty KIMA sử dụng 9 loại nghuyên liệu để sản xuất tranh sơn mài.
1 là mùn cưa. Người ta dùng mùn cưa hoàn toàn xuất xứ tự nhiên. Mùn cưa sẽ
10
làm cốt bền hơn.
2.2.b Các công cụ được sử dụng để sản xuất tranh sơn mài KIMA
Công ty KIMA dùng 6 loại công cụ để sản xuất tranh.
Công cụ thứ nhất là thép tóc. Tóc của phụ nữ hoặc là của trẻ con tức là tóc vừa
mềm vừa thẳng được dùng. Công cụ này được dùng để vẽ màu trên tranh.
Công cụ thứ hai là mo sừng. Công cụ này được làm bằng sừng con trâu. Người ta
pha màu bằng công cụ này. Nếu chúng ta pha màu bằng mo sừng mà được làm bằng
kim loại chẳng hạn như sắt thì màu sẽ bị tối. Vì vậy, mo sừng này rất phù hợp với việc
pha màu.
5
Một làng nghề truyền thống sản xuất vàng lá.
12
Công cụ thứ ba là bút lông. Bút này được dùng để vẽ nét khuôn và chi tiết. Sau
khi vẽ tranh, chúng ta nên rửa luôn vì nó dễ bị sơn hỏng.
Công cụ thứ tư là chổi lông. Công cụ này được sử dụng để quét vàng lá, bạc lá,
thiếc lá và v.v.
Công cụ thứ năm là đá mài. Người ta dùng đá mài của kích thước đa dạng. Theo
chỗ mà mình muốn mài, người vẽ phải lụa chọn kích thước đá mài. Đá mài được dùng ở
giai đoạn sớm trong quá trình mài tranh.
Công cụ thứ sáu là giấy ráp. Công ty KIMA dùng giấy dáp xuất xứ ở Nhật Bản vì
chất lượng cao. Sử dụng giấy ráp số 240- số 1200. Giấy ráp thì được dùng ở giai đoạn
sau trong quá trình mài tranh. Đầu tiên sử dụng số nhỏ, và dần dần ử dụng giấy ráp số
lớn hơn.
2.2.c Quá trình sản xuất
Tùy theo kích thước của bức tranh, nhưng ít nhất khoảng 6 tháng cần thiết để sản
xuất 1 bức tranh sơn mài.
Quá trình sản xuất tranh sơn mài của ông Phạm Kim Mã có thể chia ra 5 giai đoạn
chính:
khít hơn. Cũng có thể dùng vỏ trứng nướng để thể hiện màu sắc tối. Sau khi gắn xong,
làm sơn hoàn toàn khô khoảng 2- 4 ngày. Sau đó mài trên vỏ bằng đá mài và giấy ráp
đến khi mặt tranh thành phẳng.
Phương pháp thứ hai là vẽ màu. Pha bột màu với sơn cánh dán bằng mo sừng. Vẽ
màu bằng thép tóc theo ý tưởng của mình và làm nó khô lại khoảng 2- 4 ngày. Nếu màu
cứng và khó vẽ thì thêm dầu hỏa một chút. Chúng ta cũng có thể vẽ màu trên vỏ các
loại.
Phương pháp thứ ba là dán vàng lá, bạc lá, và thiệc lá. Phủ sơn cánh dán trộn với
dầu hỏa trên chỗ mình muốn dán bạc lá v.v. Dợi một lát và khi nó khá khô, bắt đầu dán.
Quét bằng cái chổi và làm nó khô khoảng 2- 4 ngày. Nếu muốn tạo ra màu sắc tối hơn,
thì nhuộm bạc. Vẽ màu xanh lá cây hoặc xanh da trời trên mà mình muốn làm tối đi.
Sau khi sơn khô, phủ sơn trộn với dầu hỏa rất mỏng.
Tác giả cần phối hợp một số phương pháp khác nhau trên một bức tranh. Sau khi
vẽ bằng những phương pháp và vẽ bao nhiều lần mới có thể bức tranh có màu sắc sâu
và trở nên tranh đẹp.
15
(4) Mài
Sử dụng đá mài và giấy ráp 240 đến 1200. Mài cũng là vẽ. Mài để thể hiện màu
sắc như ý của mình. Cho nên luôn luôn chú ý đến màu sắc khi mài. Đồng thời, mài để
làm mặt tác phẩm phẳng. Chúng tà phải vừa mài vừa sờ mặt tranh.Nếu muốn thì có thể
tiếp tục vẽ màu và dán bạc lá, vàng lá, và thiếc lá.
(5) Đánh bóng (hoàn thiện)
Trước khi đánh bóng, chúng ta phải chuẩn bị đánh bóng. Lấy nước sơn (Sơn này
trong, chất lượng tốt, được chế biến từ sơn cánh dán) và làm nó sạch hơn bằng vải
cotton. Phủ sơn đó mỏng và phẳng trên cả tác phẩm. Lúc đó mặt tác phẩm giống như là
tâm gương. Làm nó khô trong 4-7ngày. Sau đó mài hết cả tác phẩm đó.Làm hoạt động
này 2-3 lần.
Sau đó đánh bóng. Sử dụng than, bột than, tóc rối, bông và đánh bóng bằng tay
17
Lê Huyên, 1995 “Nghề sơn cổ truyền Việt Nam” NXB Mỹ thuật
Vũ Từ Trang,2007 “Nghề cổ đất Việt” NXB Văn hó thông tin
Tiếng Nhật
Nakamura Soutetsu, 2001, “Sơn quý Truyện về dồ sơn (Urushi uruwashi
Nurimonokatari)”, NXB Tankosha
Nakazato Toshikatsu, 2000, “Cách phân biệt đồ sơn tùy theo nơi sản xuất (Sanchi betsu,
suguwakaru urushinuri no miwakekata)”, NXB Tokyobijutsu
Onishi Nagatoshi, 1996, “ Sơn Châu Á, Sơn Nhật Bản(Ajia no urushi, Nihon no
urushi)”, NXB Tokyobijutsu
Onishi Nagatoshi, 1995, “Sơn Châu Á đẹp (Urushi Uruwashi no Ajia)” NXB NEC
Creative
Sawai Kiyoyuki, 1999, “Bạc Hoa” số 119, pp.68 18
Phụ Lục 1: Nội dung phỏng vấn
1 Thông tin về ông/ bà: tên, tuổi, quê hương, nơi đang làm viêc
2 Ông/ bà đã bắt đầu học sơn mài khi nào?
3 Ông/ bà đã học sơn mài ở đâu? : a) Làng nghề b) nhà trường c) Khác
4 Nếu đã chọn (b) nhà trương ở câu hỏi thứ 3, xin ông/ bà trả lời câu hỏi này:
1/ Ông/ bà có thể nhớ ra têm của giáo viên không?
2/ Ông/ bà có biết giáo viên đó đã học sơn mài ở đâu không?
3/ Kỹ thuật của họ có phải là kỹ thuật của làng nghề nào đó không?
5 Vể nguyên liệu: Tôi xin ông/bà làm ơn cho tôi biết các nguyên liệu và xuất xứ
của họ.
6 Ông/ bà đang làm việc với mấy người?
Nghệ nhân ( ) người / Thọ lành nghề ( ) người