Nâng cao chất lượng tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh VPBank - Pdf 29

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đã trải qua một quá trình phát triển ấn tượng trong hai thập niên
gần đây. Sự chuyển dịch dần từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung truyền
thống sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN bắt đầu từ năm 1986 đã
mang lại những cải thiện to lớn về hiệu quả kinh tế và mức sống dân cư.Ngày
nay, nền kinh tế phát triển mạnh mẽ với sự góp mặt của nhiều thành phần kinh tế
khác nhau, đặc biệt các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang giữ vị trí rất quan trọng
trong sự phát triển đó.Tuy nhiên, để đảm bảo sự phát triển bền vững và hiệu quả
nền kinh tế quốc dân đã đề ra, đồng thời để hội nhập với xu hướng hội nhập
quốc tế, các thành phần kinh tế phải biết khai thác toàn diện và hiệu quả mọi
nguồn lực, nhất là phải tận dụng được sự hỗ trợ của hệ thống ngân hàng. Muốn
vậy, ngành ngân hàng phải giải quyết hàng loạt khó khăn mà hiện nay doanh
nghiệp đang gặp phải. Để làm được điều đó đòi hỏi có sự thống nhất chung giữa
bản thân các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng, đặc biệt, các giải pháp của
ngân hành thương mại nhằm nâng cao chất lượng tín dụng mang tính chất quyết
định.
Nhiều ngân hàng cho biết đã tập trung đầu tư cho các doanh nghiệp vừa
và nhỏ vì đối tượng này làm ăn hiệu quả, phù hợp với yêu cầu phát triển và phù
hợp với khả năng nguồn vốn của ngân hàng. Tuy nhiên các doanh nghiệp này
vẫn kêu khó tiếp cận với ngân hàng và thực tế cho thấy nguồn vốn tín dụng ngân
hàng đầu tư cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn chưa nhiều. Một phần là do
khách hàng truyền thống và do mục tiêu của các NHTM chủ yếu là các doanh
nghiệp lớn, tuy nhiên lý do chính là các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta sử
dụng vốn tín dụng còn chưa hợp lý và hiệu quả. Chính vì những cản trở đó, việc
đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa
và nhỏ đang là vấn đề đặc biệt cần quan tâm của NHTM.
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Ngân hàng Thương mại Cổ phần các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt
Nam tên viết tắt là: (VPBANK) được thành lập theo Giấy phép hoạt động số

1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Để đưa ra khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ thật rõ ràng, đòi hỏi các
nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách cần đứng trên những điều kiện cụ thể
của mỗi một quốc gia cũng như thời điểm nghiên cứu khái niệm. Do mỗi một
quốc gia có một điều kiện kinh tế khác nhau và có những đặc trưng riêng biệt, vì
vậy sự phân loại các doanh nghiệp là không thống nhất ở tất cả các quốc gia trên
thế giới. Ví dụ, một doanh nghiệp đặt trong môi trường kinh tế của nước này
được xem là doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhưng trong môi trường kinh tế của quốc
gia khác thì lại là doanh nghiệp lớn, hoặc doanh nghiệp rất lớn…Tương tự, tại
một thời điểm trong quá khứ một doanh nghiệp được coi là lớn những đến nay
lại chỉ được coi là có quy mô vừa và nhỏ. Cho nên, khi nói đến doanh nghiệp
vừa và nhỏ thì ta phải hiểu rằng, các doanh nghiệp đó đang nằm tại quốc gia
nào, trong một môi trường kinh tế như thế nào, tại thời điểm nào. Nói cách khác,
khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ có ý nghĩa trong phạm vi một quốc gia,
tại một thời điểm nhất định. Mặc dù vậy, việc đưa ra một khái niệm về doanh
nghiệp vừa và nhỏ cho riêng mình lại đóng một vai trò quan trọng trong chiến
lược phát triển của mỗi quốc gia. Thực tiễn đã chứng minh rằng quốc gia có một
khái niệm kinh tế càng rõ ràng thì các chính sách hỗ trợ đưa ra càng hiệu quả.
Thông thường, khái niệm hay định nghĩa về doanh nghiệp vừa và nhỏ dựa
trên các nhóm chỉ tiêu định tính và định lượng, trong đó, các chỉ tiêu định lượng
đóng vai trò quyết định phân biệt nhóm doanh nghiệp này với các doanh nghiệp
lớn. Có ba chỉ tiêu định lượng thường được dùng độc lập, hoặc kết hợp với
nhau, để xác định mức độ vừa và nhỏ của doanh nghiệp:
• Lượng vốn đầu tư vào máy móc dây truyền sản xuất
• Số lượng lao động
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
• Quy mô sản xuất hoặc doanh thu từ hoạt động kinh doanh.
Xét về mặt định tính, các chỉ tiêu thường được đưa ra là cơ cấu của công
ty, cơ cấu quản lý, ngành nghề kinh doanh, người ra quyết định chính và các rủi

Khu vực Quy mô lao động / Vốn
Sản xuất < 20 người/5 triệu Yên
Thương mại và dịch vụ < 5 người/dưới 5 triệu Yên

(Nguồn: Thư viện khoa học và kĩ thuật Trung ương)
Tại Indonesia, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò quan trọng trong
nền kinh tế, chiếm trên 90% tổng số doanh nghiệp trong nước,thu hút từ 60% -
70% việc làm tại các doanh nghiệp. Inđônêxia cho rằng doanh nghiệp vừa là
doanh nghiệp có số lượng công nhân từ 20-99 người, vốn tư bản trêm 600 triệu
RP (tiền Inđônêxia) doanh nghiệp nhỏ có số lượng công nhân từ 5-19 người và
vốn tư bản dưới 600 triệu RP còn doanh nghiệp cực nhỏ có số lượng lao động từ
1-4 người (Thư viện khoa học và kĩ thuật Trung ương)
Tại Việt Nam, căn cứ nghị định của chính phủ số 90/2001/NĐ-CP ngày
23 tháng 11 năm 2001về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, Doanh
nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đó đăng ký kinh doanh
theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao
động trung bình hàng năm không quá 300 người. Theo đó, các doanh nghiệp vừa
và nhỏ bao gồm :
Các hộ kinh doanh có thể đăng ký theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP
ngày 03 tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về Đăng ký kinh doanh
Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà
nước
Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã.
Như vậy quan niệm của một số quốc gia về thế nào là một doanh nghiệp
vừa và nhỏ đã có sự khác nhau, đồng thời sự phân định này chỉ mang ý nghĩa
tương đối và chủ yếu căn cứ vào qui mô về vốn và lao động của doanh nghiệp
đó.Tuy nhiên, ta có thể thấy rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn dành được

thông thoáng, cho nên bị hạn chế rất nhiều. Việc tiếp cận các nguồn vốn của
doanh nghiệp vừa và nhỏ rất hạn chế. Với tỷ trọng hơn 90% trong tổng số các
doanh nghiệp ở hầu hết các nước trên thế giới, đáng lẽ khu vực này phải là
“khách hàng ruột” của các ngân hàng thương mại, song thực tế là tỷ lệ các
doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với ngân hàng lại rất hạn chế. Trong khi đó
nhu cầu vốn kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất lớn bao gồm cả
vốn ngắn hạn và trung dài hạn. Nhu cầu vốn ngắn hạn xuất hiện do tính chất thời
vụ của hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt đối với các doanh nghiệp thương
mại. Các khoản vay chủ yếu dựa trên những hợp đồng tiêu thụ có sẵn, hoặc các
hợp đồng cung cấp đã ký. Quy mô của khoản vay thường không lớn nhưng các
doanh nghiệp vừa và nhỏ thường vay nhiều lần và với thời hạn ngắn vì vậy nếu
tính theo doanh số cho vay thì con số này khá cao, có thể tương đương với một
doanh ngiệp lớn. Vốn dài hạn dùng để tài trợ tài sản cố định và mở rộng sản
xuất. Hầu hết các doanh nghiệp đều muốn mở rộng phạm vi hoạt động mở rộng
quy mô để có thể trở thành các doanh nghiệp lớn hơn. Để thực hiện các chiến
lược đặt ra, các kế hoạch Marketing, đổi mới công nghệ, doanh nghiệp vừa và
nhỏ đều cần tới nguồn vốn dài hạn.
Để đáp ứng các nhu cầu về vốn, doanh nghiệp vừa nhỏ thường huy động
từ nhiều nguồn khác nhau như:
• Vay từ các cá nhân, tín dụng thương mại
• Vay từ ngân hàng thương mại
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
• Vay từ các quỹ tín dụng
• Vay từ các nguồn khác
Bảng 2 : Các nguồn tín dụng của DNVVN Việt Nam (%)
Nguồn
Khu vực
nông thôn
Khu vực

chỉ tiêu về cho vay DNVVN nhiều khi là một áp lực thật sự, bởi những vướng
mắc như việc phân loại doanh nghiệp, các chỉ số đánh giá chưa chính xác; hệ
thống thông tin về khách hàng chưa đạt yêu cầu, vì vậy việc xem xét thực trạng
hoạt động kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn, trách nhiệm đối với các khoản
tín dụng nhiều khi chưa rõ ràng..., khiến cán bộ tín dụng ngập ngừng. Trong
trường hợp này, cách làm của các ngân hàng cổ phần đang tỏ ra hiệu quả và
năng động hơn khi xây dựng những gói sản phẩm, được trình bày khá chi tiết, cụ
thể, giúp doanh nghiệp có thể dễ dàng thực hiện những yêu cầu đặt ra. Nếu
doanh nghiệp nào làm ăn bài bản, việc áp dụng những chuẩn mực đề ra cũng
không quá khó khăn, thậm chí, ngân hàng phải đến tận nơi phục vụ. Tuy nhiên,
cách hành xử của một số ngân hàng khai thác khách hàng dựa trên mối quan hệ,
tạo một thông lệ không tốt cho các doanh nghiệp, cũng như sự cạnh tranh không
lành mạnh giữa các tổ chức tín dụng đã dẫn tới việc cho vay chỗ khó vẫn khó
mà chỗ dễ thì lại quá dễ. Các doanh nghiệp này thường tranh thủ chiếm dụng
vốn của nhau thông qua hình thức tín dụng thương mại, hoặc vay từ các cá nhân
bạn bè. Chính những lý do trên cùng với sự cố gắng vươn lên để tồn tại và có
được một chỗ đứng trên thị trường là những lý do khách quan tạo cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ những đặc điểm riêng có của mình.
Với sự đa dạng về ngành nghề và phương thức tiêp cận thị trường, hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất linh hoạt và năng động.
Lĩnh vực kinh doanh của các doanh nghiệp này rất phong phú,vì vậy đây là cơ
hội tốt cho các chủ doanh nghiệp tìm kiếm các lĩnh vực mà ở đó sự cạnh tranh
chưa cao song lại đem lại lợi nhuận nhanh chóng. Hơn nữa, các doanh nghiệp
này dể dàng thay đổi ngành nghề kinh doanh với chi phí thấp bởi lượng vốn bỏ
vào không lớn, vì vậy trước những sự biến động mạnh về cung cầu trên thị
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
trường nhóm doanh nghiệp này chịu ảnh hưởng ít hơn, dễ phục hồi hơn so với
các doanh nghiệp lớn.
Về ngành nghề kinh doanh, phải nói rằng do vốn và nhân lực hạn chế, rất

nghiệp vừa và nhỏ có số lượng đông đảo và đều có mục địch giống nhau là tìm
kiếm những thị trường còn bỏ trống. Các thị trường này quá nhỏ bé để có thể
chứa nhiều doanh nghiệp trong đó cho dù đó là những doanh nghiệp nhỏ. Các
doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng rất nhạy cảm với các thị trường này. Khi một
doanh nghiệp tìm thấy được một thị trường còn bỏ ngỏ và đầu tư vào thị trường
đó thì gần như ngay lập tức có rất nhiều doanh nghiệp khác cũng tham gia vào,
ví dụ như trong lĩnh vực ăn uống, dịch vụ sửa chữa, bảo hành.
Về khả năng cạnh tranh, các DNVVN Việt Nam có nhiều lợi thế, tuy
nhiên vẫn còn nhiều hạn chế và yếu kém:
Thứ nhất, chất lượng và khả năng cạnh tranh về mặt quản lý còn yếu kém.
Đội ngũ chủ DN, giám đốc và cán bộ quản lý DNVVN còn nhiều hạn chế về
kiến thức và kỹ năng quản lý. Số lượng DNVVN có chủ DN, giám đốc giỏi,
trình độ chuyên môn cao và năng lực quản lý tốt chưa nhiều. Một bộ phận lớn
chủ DN và giám đốc DN tư nhân chưa được đào tạo bài bản về kinh doanh và
quản lý, còn thiếu kiến thức kinh tế - xã hội và kỹ năng quản trị kinh doanh, đặc
biệt là yếu về năng lực kinh doanh quốc tế. Từ đó, khuynh hướng phổ biến là
các DN hoạt động quản lý theo kinh nghiệm, thiếu tầm nhìn chiến lược, thiếu
kiến thức trên các phương diện: Quản lý tổ chức, chiến lược cạnh tranh, phát
triển thương hiệu, sử dụng máy tính và công nghệ thông tin. Một số chủ DN mở
công ty chỉ vì có sẵn tiền vốn và thích kinh doanh, trong khi đó thiếu kiến thức
và kỹ năng về kinh doanh, vì vậy đã dẫn đến rủi ro và thất bại.
Thứ hai, năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
cao làm yếu khả năng cạnh tranh của các DNVVN. So sánh giữa sản phẩm trong
nước với các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Philipines,... thì các
sản phẩm sản xuất của các DN Việt Nam có giá thành cao hơn từ 1,58 đến 9,25
lần mặc dù giá nhân công lao động thuộc loại thấp so với các nước trong khu
vực.
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Thứ ba, năng lực cạnh tranh về tài chính vẫn còn rất yếu kém. Quy mô

là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, không có các hoạt động tìm hiểu thị trường
nước ngoài.
Hội nhập quốc tế đã buộc các DN phải nâng cao khả năng cạnh tranh để
đủ sức đứng vững trên thương trường. Năng lực của các nhà quản lý DN là một
trong những nhân tố quan trọng nhất có ảnh hưởng quyết định đến khả năng
cạnh tranh của DN. Doanh nhân ngày nay cần có những năng lực tổng hợp và ở
mức độ cao hơn hẳn 5 năm trước; trong đó cần đặc biệt chú trọng bồi dưỡng
kiến thức và kỹ năng về xây dựng và phát triển thương hiệu, về chiến lược cạnh
tranh.
Với những đặc điểm nêu trên, sản phẩm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
thường tập trung vào một số dạng sau:
Các sản phẩm thủ công với chủ yếu là các đồ mỹ nghệ có tính cá biệt cao,
do đó mà không thể áp dụng sản xuất hàng loạt. Sản phẩm thủ công thường phục
vụ cho nhóm khách hàng đặc biệt hoặc xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Giá
cả của loại sản phẩm này thường cao do có chi phí sản xuất lớn.
Các sản phẩm được dùng làm nguyên liệu đầu vào cho các công ty lớn với
chức năng như nguyên vật liệu phụ của quá trình sản xuất, thường là : các bộ
phận phụ của một chi tiết lớn như các ngành cơ khí, tự động hoá , công nghiệp ô
tô, máy bay,… với giá cả thấp. Sản phẩm loại này có hàm lượng ký thuật thấp
nhưng lại rất cần thiết cho việc tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh.
Các sản phẩm tiêu dùng khác phục vụ cho nhóm khách hàng bình dân
hoặc lấp chỗ trống trên thị trường Các sản phẩm kiểu này có chất lượng trung
bình, giá cả phải chăng chủ yếu phục vụ những khách hàng dễ tính.
Các sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp vừa và nhỏ cung cấp thường đa
dạng và có sự khác biệt giữa những doanh nghiệp với nhau. Đối với từng khách
hàng thì dịch vụ được cung ứng cũng khác nhau, giá cả của các dịch vụ cũng rất
phong phú phụ thuộc vào đối tượng khách hàng sử dụng dịch vụ đó : như dịch
vụ bảo hành, dịch vụ vận chuyển, dịch vụ ăn uống giải trí, …
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Thứ hai, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò to lớn đối với quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xoá đói giảm nghèo, đặc biệt đối với khu vực
nông thôn. Sự phát triển của các doanh nghiệp này ở các vùng nông thôn tạo
điều kiện cho công nghiệp phát triển đồng thời thúc đẩy các ngành thương mại
dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp. Tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
vì thế được thu hẹp dần. Mặt khác doanh nghiệp vừa và nhỏ thúc đẩy quá trình
đô thị hoá, thu hút và tập trung dân cư vào các vùng trọng điểm. Sự phát triển
của các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn là một kênh thu hút vốn nhàn rỗi mới
trong dân cư bên cạnh những kênh huy động vốn truyền thống. Các doanh
nghiệp vừa và nhỏ cũng tham gia tích cực vào quá trình xoá đói giảm nghèo thể
hiện ở việc tạo ra thu nhập cho người lao động và cung cấp những hàng hoá giá
rẻ cho những người nghèo. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ không chỉ tạo ra
những sản phẩm giá rẻ, phù hợp với mức sống của người dân mà còn tạo ra một
mạng lưới phân phối rộng khắp trải đều trên phạm vi đất nước. Chính vì vậy
những người nghèo có điều kiện nâng cao mức sống của mình.
Thứ ba, mặc dù trong mỗi doanh nghiệp vừa và nhỏ, lượng lao động
không nhiều, nhưng bù vào đó, số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất lớn
nên đã tạo ra một khối lượng việc làm lớn, tạo thu nhập cho người lao động nhất
là những lao động phổ thông trong nền kinh tế. Tại Trung Quốc,theo thống kê
năm 2007, lao động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng 84,3%
trong tổng số lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp.Con số này ở Nhật
Bản là 80%,ở Thái Lan là 73,8% và ở Việt Nam là 77%.
Trong tình hình mà nền kinh tế đang có sự chuyển mình mạnh mẽ bằng
việc tái cơ cấu nền kinh tế, kèm theo đó là những cuộc khủng hoảng kinh tế
trong phạm vi khu vực diễn ra trong những năm gần đây trên thế giới, hầu hết
các doanh nghiệp lớn đều có chính sách cắt giảm lao động với quy mô lớn.
Nhưng ngược lại, tỷ trọng lao động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ không
ngừng tăng lên đã làm hạn chế phần nào áp lực thất nghiệp đối với nền kinh tế.
Các nước đều nhận thấy rằng sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ là một

nghiên cứu kinh tế đã chỉ ra rằng có một mối liên hệ chặt chẽ giữa tỷ lệ người
16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
dân làm kinh doanh với sự phát triển của nền kinh tế. Ở Bỉ, với số dân là 10
triệu người thì có đến khoảng 700 nghìn người làm kinh doanh, ở Pháp có 60
triệu dân và số người làm kinh doanh là 2,4 triệu. Trong khi đó ở Việt Nam có
80 triệu dân, số người làm kinh doanh chỉ có khoảng 200 nghìn người.
Thứ sáu, các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm hạn chế sự độc quyền của
các tập đoàn lớn, duy trì tính cạnh tranh lành mạnh của nền kinh tế, đảm bảo
lợi ích chính đáng của người tiêu dùng. Bản thân các doanh nghiệp vừa và
nhỏ cũng cạnh tranh với nhau rất gay gắt nhằm tìm ra một chỗ đứng cho mình
trên thị trường, để tồn tại và hơn nữa phát triển thành các doanh nghiệp lớn.
Chính yếu tố này khiến cho nền kinh tế trở nên năng động hơn, dễ thích nghi
hơn trước những biến động của thị trường trong nước cũng như quốc tế.
Như vậy, doanh nghiệp vừa và nhỏ tuy có nhiều mặt hạn chế nhưng vai
trò của chúng đối với sự phát triển của nền kinh tế là không thể phủ nhận. Cùng
với các doanh nghiệp lớn chúng tạo ra sự cân đối trong nền kinh tế. Một nền
kinh tế nếu chỉ toàn những doanh nghiệp vừa và nhỏ thì sẽ không thể tích tụ và
tập trung vốn cho phát triển hạ tầng cơ sở, đổi mới công nghệ. Ngược lại các
doanh nghiệp lớn sẽ không thể nào phát triển được nếu không có các doanh
nghiệp vừa và nhỏ hỗ trợ. Một nền kinh tế muốn phát triển bền vững và ổn định
thì cần phải đặt vai trò của doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ ngang
tầm với nhau, do đó sự phân định và tăng cường sự hỗ trợ đối với doanh nghiệp
vừa và nhỏ trong thị trường cạnh tranh trở thành vấn đề cấp bách đối với mỗi
quốc gia.
1.2. CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NHTM
1.2.1. Đặc điểm cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Ngân hàng thương mại với vai trò là trung gian tài chính quan trọng nhất
của nền kinh tế, thông qua các hoạt động của mình điều tiết và định hướng các
hoạt động đầu tư, trong đó hoạt động tín dụng là một công cụ dùng để hướng các

Cho vay trung hạn là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm, chủ yếu
được sử dụng để đầu tư mua sắm các phương tiện vận tải, một số cây trồng vật
nuôi, hoặc đổi mới thiết bị công nghệ với thời gian thu hồi vốn nhanh
Cho vay dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm(Có thể có những
quy định khác về thời gian trung và dài hạn) và trên 7 năm (đối với các nước
trên thế giới). Loại tín dụng này nhằm phục vụ các công trình xây dựng lớn như
nhà, sân bay, cầu, đường, máy móc có giá trị lớn.
• Căn cứ vào nghiệp vụ của ngân hàng:
Cho vay thấu chi: Cho phép người vay được chi trội trên số dư tiền gửi
thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định ( hạn mức thấu chi ) và trong
khoảng thời gian xác định.
Cho vay trực tiếp từng lần: Ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn
nhất định của chu kì sản xuất kinh doanh.
Cho vay luân chuyển: Dựa trên sự luân chuyển của hàng hóa, ngân hàng
cho khách hàng vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng.
Cho vay theo hạn mức: Trong kì khách hàng có thể vay – trả nhiều lần
song dư nợ ko được vượt quá hạn mức tín dụng mà ngân hàng đã cấp.
Cho vay trả góp: Ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần
trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận.
Cho vay gián tiếp: Ngân hàng thông qua các tổ, hội, nhóm sản xuất để cho
vay.
• Căn cứ vào mục đích
Cho vay bất động sản là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm xây
dựng bất động sản
Cho vay công nghiệp và thương mại là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung
vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp thương mại dịch
vụ.
Cho vay nông nghiệp là loại cho vay để trang trải các khoản chi phí trong
sản xuất nông nghiệp như phân bón, giống cây trồng.
19

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
không còn nhờ đó chúng ta dễ dàng có sự so sánh về hiệu quả cho vay của mỗi
ngân hàng đối với các doanh nghiệp này.
1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay các DNVVN
Để đánh giá về hiệu quả cho vay các DNVVN, chúng ta dùng một số chỉ
tiêu như:
- Tỷ lệ vốn ngắn hạn đã sử dụng cho vay trung dài hạn
- Tỷ lệ khả năng chi trả ( TS có có thể thanh toán ngay/ TS nợ phải
thanh toán ngay)
- Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (Vốn tự có/ TS có rủi ro)
- Tỷ lệ tài sản sinh lời ( Tài sản sinh lãi/ Tổng tài sản bình quân )
- Tỷ lệ nợ quá hạn/ Tổng dư nợ
- Thu lãi doanh nghiệp/ Tổng thu lãi
Đối với ngân hàng thương mại, để đánh giá hiệu quả cho vay người ta
thường căn cứ trên các chỉ tiêu ROA ( đánh giá hiệu quả quản lý ) và ROE (đo
lường mức thu nhập cho các cổ đông ). Tuy nhiên để đánh giá chính xác hơn về
tính hiệu quả cũng như khả năng sinh lời, ngân hàng thường dựa vào tỷ lệ thu
nhập hoạt động cận biên và tỷ lệ ngoài lãi cận biên. Nó chỉ ra khả năng duy trì
sự tăng trưởng của các khoản thu ( chủ yếu thu từ lãi) so với mức tăng chi phí
(chủ yếu chi trả lãi). Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa
thu từ lãi và chi trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm
soát chặt chẽ tài sản sinh lời và tìm kiếm các nguồn vốn rẻ. Ngược lại, tỷ lệ thu
nhập ngoài lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa nguồn thu ngoài lãi chủ
yếu là thu từ các dịch vụ khác với các chi phí ngoài lãi (gồm tiền lương chi phí
sửa chữa bảo hành, chi phí tổn thất tín dụng ).Để biết được hiểu quả cho vay,
ngân hàng tiến hành tính toán rồi đem so sánh giữa tỷ lệ này ở đầu kì và cuối kì,
giữa năm trước và năm nay, giữa các đơn vị cùng hệ thống cũng như với toàn
ngành. Ngoài biện pháp đó, các nhà điều hành ngân hàng có thể dùng một chỉ
tiêu mang tính truyền thống là chênh lệch lãi suất cơ bản:
21

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
sinh lời của doanh nghiệp, và vì thế hiệu quả cho vay của ngân hàng có thể bị
suy giảm nhanh chóng. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ do lợi thế về quy mô là
những người khắc phục nhanh hơn những tác động của môi trường pháp lý tới
hoạt động của mình so với doanh nghiệp lớn. Và vì vậy cho vay các doanh
nghiệp vừa và nhỏ cũng là một biện pháp làm giảm sự biến động về hiệu quả và
rủi ro cho ngân hàng
Một nhân tố chủ quan nữa có tác động không nhỏ tới hiệu quả cho vay là
môi trường kinh doanh. Tác động của nó tới hiệu quả cho vay của ngân hàng
thông qua các biến số kinh tế như tỷ giá, lạm phát, lãi suất … Các chỉ tiêu này
tác động lên khả năng cho vay, đồng thời tác động trực tiếp lên chi phí của ngân
hàng. Sự tăng lên của tỷ lệ dự trữ bắt buộc hoặc lạm phát sẽ làm giảm khả năng
cho vay và làm tăng chi phí trả lãi cho các nguồn huy động, lãi suất trên thị
trường tăng cũng làm hạn chế tốc độ tăng trưởng của dự nợ đồng thời lại làm
tăng nhanh chi phí trả lãi của các ngân hàng. Đối với doanh nghiệp, các biến số
này có tác động hai mặt, nó thúc đẩy sự phát triển của nhóm doanh nghiệp này
thì lại hạn chế hoạt động của nhóm doanh nghiệp khác. Ví dụ như nếu tỷ giá
tăng thì nhóm doanh nghiệp xuất khẩu sẽ phát triển tốt, trong khi các doanh
nghiệp nhập khẩu lại gặp nhiều khó khăn hơn. Vì thế để đánh giá một yếu tố
thuộc môi trường vĩ mô tác động như thế nào tới hiệu quả cho vay của mình thì
các ngân hàng phải phân loại được các khách hàng chủ yếu mà mình phục vụ, từ
đó có chiến lược đối phó phù hợp.
1.3.3.2. Các nhân tố chủ quan
Từ phía doanh nghiệp: đây là nhân tố tác động quan trọng nhất tới hiệu
quả hoạt động cho vay của ngân hàng, thể hiện thông qua các chỉ tiêu tài chính
doanh nghiệp như khả năng thanh toán, khả năng sinh lời, hệ số nợ, hệ số khả
năng chi trả…Để đạt được mục tiêu của mình, các doanh nghiệp luôn mong
muốn vay được vốn và tìm mọi cách để có được nguồn vốn từ ngân hàng. Tuy
nhiên, trái ngược với các doanh nghiệp vận dụng các hình thức tích cực như tăng
23

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
khả năng tiết kiệm chi phí và đưa ra các mức lãi suất cạnh tranh cũng như các
tiện ích mới phục vụ khách hàng. Nhận thức vào đạo đức của cán bộ tín dụng
đóng vai trò quan trọng nhất trong số các nhân tố tác động tới hiệu quả cho vay
từ phía ngân hàng. Như đã nói ở trên nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ tìm mọi
cách để có được nguồn vốn, họ có thể tiếp xúc, móc nối với các cán bộ tín dụng
để đạt được mục đích. Chính vì vậy để giữ được sự trung thành của các nhân
viên, ngân hàng phải có được một chính sách đãi ngộ hợp lý, thường xuyên giáo
dục nhắc nhở các nhân viên về nhận thức, đạo đức nghề nghiệp cũng như ý thức
trách nhiệm của mình.
25

Trích đoạn Thành tựu đạt được Những hạn chế Nâng cao hiệu quả công tác thẩm định Thiết lập chính sách khách hàng hợp lý trên cơ sở thoả mãn nhu cầu Nâng cao trình độ cán bộ tín dụng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status