1
LỜI NÓI ĐẦU
Trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới hiện nay, hội nhập kinh tế quốc
tế đang là xu thế tất yếu của tất cả các quốc gia trên thế giới hiện nay. Việt Nam đã và
đang tích cực hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, thông qua việc gia nhập Hiệp hội
các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), tham gia diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái
Bình Dương (APEC), diễn đàn hợp tác kinh tế Á-Âu (ASEM). Đặc biệt Việt Nam đã
ký Hiệp định thương mại song phương Việt-Mỹ.
Hiệp định thương mại VN - Hoa Kỳ ký ngày 13/7/2000 và chính thức có hiệu
lực từ ngày 11/12/2001 đã mở ra triển vọng thương mại mới giữa hai nước, phá bỏ
phân biệt đối xử về thuế quan tạo cơ hội cho hàng hoá VN được xuất khẩu nhiều hơn
nữa vào thị trường Hoa Kỳ.Tuy nhiên, để thực hiện được việc này thì hàng hoá của
VN phải vượt qua rất nhiều khó khăn, thách thức nhất là về khả năng cạnh tranh,
năng suất, chất lượng sản phẩm, thị trường tiêu thụ và khả năng vận dụng marketing
vào kinh doanh.
Muốn đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường này, trong điều kiện mà nền kinh tế
VN còn đang ở mức thấp, tính cạnh tranh kém hiệu quả thì cần phải nghiên cứu kỹ
thị trường này. Đánh giá được chính xác khả năng thực tế của hàng hoá VN thâm
nhập thị trường đó để đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh xuất khẩu sang thị
trường Mỹ.
-
đó tôi chọn đề tài “Ảnh Hưởng Của Hiệp Định Thương Mại Việt -
Mỹ Đến Các Công Ty Của Việt Nam Xuất Khẩu Vào Thị Trường Mỹ”
: Đề tài chỉ nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến
, định thương mại VN - Hoa Kỳ
2
thị trường Mỹ, nghiên cứu các cơ
-Sách Cẩm Nang Rào Cản Thương Mại Quốc Tế Đối Với Hàng Nông Lâm
Thủy Sản Xuất Khẩu Của VN, của GS.TS. Võ Thanh Thu xuất bản: 02/2011.
-Sách Việt Nam Với WTO Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản năm 2008.
-Sách Cẩm Nang Phòng Ngừa & Đối Phó Với Các Vụ Kiện Chống Bán Phá
Giá Đối Với Hàng Xuất Khẩu Việt Nam, của GS.TS. Võ Thanh Thu, xuất bản năm
2008.
-Sách Hỏi Đáp Về Hiệp Định Thương Mại Việt-Mỹ của TS. Lê Thành Châu,
tái bản năm 2010.
.
2.3.2.1. khảo sát điều tra thực tế:
Để đề tài có căn cứ thực tiễn, tác giả có tiến hành gởi 400 phiếu khảo sát đến
các hiệp hội: dệt may, đồ gỗ, giày dép, dầu thô, thủy sản và cà phê chuyển đến các
công ty có xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Mỹ, nhận được phúc đáp từ 112 công
ty. Sau đó đối chiếu kết quả với dự liệu sơ cấp, thứ cấp để minh chứng rằng Hiệp định
Thương mại song phương Việt - Mỹ có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu
của các công ty VN vào thị trường Mỹ.
Để hoàn thành luận văn này ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được
sự giúp đỡ của các hiệp hội: dệt may, đồ gỗ, giày dép, dầu thô, thủy sản và cà phê, các
công ty có xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Mỹ, thầy hướng dẫn Ts. Trần Anh Dũng
và các thầy từ phòng QLKH sau Đại Học, thuộc trường Đại Học Kỷ Thuật Công
Nghệ Hutech, các thầy, cô trong ban giám hiệu và hội đồng của trường đại học kỹ
thuật công nghệ TP.HCM Hutech
4
CHƯƠNG 1
- .
:
1.1.1. :
Hiệp định thương mại song phương: Để thực hiện được chính sách ngoại
kinh doanh của công ty đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Theo Luật của Hoa Kỳ, Hoa Kỳ không thể dành quy chế quan hệ thương mại
bình thường với những nước đang trong thời kỳ chuyển tiếp như Việt Nam mà không
có Hiệp định thương mại song phương gọi tắt là BTA.
Mục đích của Hiệp định này là đảm bảo cho những luật lệ thương mại được rõ
ràng, kích thích và làm gia tăng thương mại, giúp Việt Nam hội nhập kinh tế kể cả gia
nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Chắc chắn là không, Hoa Kỳ mong muốn
thiết lập mối quan hệ thương mại với Việt Nam trên nền tảng giống như Hoa Kỳ đã có
với các nước khác, trong đó các nền kinh tế đang phát triển như: Bungary, Mông Cổ
Những mối quan hệ này dựa trên cơ sở các chuẩn mực quốc tế, gồm các tiêu chuẩn
của WTO. Hơn nữa Hoa Kỳ cũng nhận thấy Việt Nam cần có các giai đoạn chuyển
tiếp để đáp ứng các tiêu chuẩn này.
( 4 năm) từ tháng 09/1996 đến
tháng 07/2000,
.
u
6
.
.
, chi tiết bảng 1.1, phụ lục 4.
Hiệp định thương mại song phương sẽ có lợi cho Việt Nam:
Tăng trưởng kinh tế: các ngành công nghiệp mới sẽ phát triển nhảy vọt để đáp ứng
nhu cầu của thị trường khổng lồ của Hoa Kỳ, các dự báo được trình lên Ngân hàng thế
giới cho rằng Việt Nam có thể tăng số lượng hàng xuất sang Hoa Kỳ lên đến con số
vài chục tỷ USD. Ngoài ra còn có tác động tích cực khác đối với nền kinh tế Việt
Nam. Bằng cách cạnh tranh và cải cách trong nước kèm theo, Hiệp định sẽ giảm chi
phí và khuyến khích hiện đại hóa.
Việc làm:
: “K Công ty XK VN và
điện sinh hoạt đem lại lợi ích cho nhân dân.
Thương mại thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: thương mại là chìa khóa mở ra con
đường đi đến thịnh vượng. Các nhà kinh tế đã từ lâu hiểu rằng thương mại làm tăng
của cải. Trên thực tế, thương mại tạo ra của cải ngay trong các quốc gia và giữa các
quốc gia với nhau. Đó là vì thương mại khuyến khích các địa phương, tỉnh và quốc
gia chuyên sâu vào những hàng hóa họ có thể sản xuất khá hiệu quả, những mặt hàng
có lợi thế so sánh. Lợi thế so sánh của một quốc gia nằm trong lực lượng lao động, tài
nguyên thiên nhiên, văn hóa và kiến thức của người dân quốc gia đó. Những nước có
nguồn công nhân rẻ có xu hướng tập trung vào các ngành nghề sử dụng nhiều nhân
công.
8
Thương mại hai chiều: làm giảm giá thành, mở rộng sản xuất, tăng tuyển dụng nhân
công, tăng thu nhập và phúc lợi xã hội của hai nước. Thương mại không bao giờ đem
lại lợi ích cho quốc gia này còn quốc gia kia bị thiệt. Với một số người, khó có thể tin
rằng thương mại tự do thực sự làm tăng thu nhập của cải của tất cả các quốc gia,
nhưng lịch sử đã chứng minh điều này. Thực tế thì tất cả các quốc gia giàu có trên thế
giới đều dành được vị trí chủ yếu nhờ một yếu tố, họ là những quốc gia có nền thương
mại lớn. Không một quốc gia nào đạt mức tăng trưởng kinh tế bền vững mà không hạ
thấp hàng rào thương mại nước mình. Nếu một nước đóng cửa thị trường, nước đó sẽ
buộc người lao động làm việc vất vả hơn và thu nhập ít hơn. Rốt cuộc các ngành công
nghiệp nước đó phải chịu lỗ và suy thoái.
:
Việt Nam đã có quan hệ thương mại với trên 230 quốc gia trên thế giới và đã
ký trên 200 hiệp định thương mại song phương và đa phương. Chỉ riêng sự kiện Việt
Nam là thành viên chính thức của WTO tháng 01/2007 mặc nhiên chúng ta phải chấp
nhận thực hiện gần 60 hiệp định đa phương của tổ chức này.
Để tăng trưởng kinh tế, các quốc gia phải mở cửa thị trường với nhau. Nhận
thức được thực tế cơ bản này những nước ASEAN đồng ý mở cửa thị trường khu vực
của họ, giống như thị trường khu vực rộng lớn đã mở cửa ở châu Âu và châu Mỹ. Thu
:
: “ V
”.
: “
”
10
-
.
&
- .
(
,
.
Từ những năm 90, với đà phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và sự
bùng nổ của công nghệ thông tin, lực lượng sản xuất đã có bước phát triển vượt bậc
trên phạm vi toàn cầu. Các công ty xuyên quốc gia với tiềm lực tài chính to lớn và khả
năng công nghệ dồi giàu gia tăng hoạt động.
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và sự gia tăng hoạt động của các
công ty xuyên quốc gia là hai yếu tố tác động đến bức tranh kinh tế thế giới trong thời
đại ngày nay. Hai yếu tố này, một mặt đặt ra nhu cầu, mặt khác tạo ra khả năng tổ
chức lại thị trường trên phạm vi toàn cầu. Nói cách khác, hai yếu tố này thúc đẩy toàn
cầu hóa kinh tế. Sự mở rộng thị trường gắn với sự phát triển lực lượng sản xuất và
tính chất của quá trình này đã được C.Marx chỉ ra trong tuyên ngôn Đảng cộng sản.
Trong nền kinh tế toàn cầu hóa, các yếu tố của quá trình tái sản xuất hàng hóa và dịch
vụ được dịch chuyển tự do hơn từ nước này sang nước khác, thông qua các cam kết
mở rộng thị trường. Các cam kết này có thể là giữa hai nước theo Hiệp định mậu dịch
Thực hiện đường lối của Đảng, chúng ta đã phát triển mạnh quan hệ toàn diện
mở cửa buôn bán với Trung Quốc, gia nhập Hiệp hội các nước ASEAN, tham gia
Hiệp định mậu dịch tự do ASEAN, diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình
Dương (APEC), là sáng lập viên Diễn đàn hợp tác Á-Âu (ASEM). Cùng với các nước
ASEAN ký Hiệp định thành lập khu mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc; ASEAN-
Hàn Quốc; ASEAN-Ấn Độ; ASEAN-Úc và New Zealand. Cuối cùng là Hiệp định
12
thương mại song phương Việt-Mỹ được ký kết ngày 13-7-2000 và có hiệu lực từ ngày
11-12-2001. Đã mở ra triển vọng thương mại cho hai nước.
- ( 2001
-
:
t -
.
-
01/ 2007.
. D , vai
.
- . Chi tiết
2.7, phụ lục 4 ).
Sau 12 năm - , năm 2012
24,3
17
2001.
13
Sau khi được ký kết vào ngày 13/07/2000 và chính thức có hiệu lực ngày
11/12/2001, Hiệp định thương mại Việt-
Mỹ đã mở ra một tương lai tươi sáng cho
cho các doanh nghiệp thuộc các khu vực kinh tế phát triển.
Ngoài ra, Mỹ là nước có nền kinh tế và thương mại lớn nhất thế giới: Mỹ
chiếm gần 50% sản lượng công nghiệp, trên 20% trị giá xuất nhập khẩu của thế giới.
Năm 2008 Mỹ
, nhập khẩu
(www.wto.org). (số liệu của
WTO công bố năm 2010) cho nên ký hiệp định với Mỹ mở ra thị trường thuận lợi có
dung lượng lớn cho hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam.
Nước Mỹ có vai trò nòng cốt, chi phối hoạt động của các định chế tài chánh và
thương mại quốc tế như : IMF, WTO, WB, ADB cho nên ký hiệp định thương mại
với Mỹ tạo ra khả năng tăng cường sự ảnh hưởng thuận lợi của các tổ chức trên với
nền kinh tế của VN và giúp đẩy nhanh tiến trình hội nhập của nước ta với khu vực và
thế giới.
Các nguyên tắc đàm phán và ký kết Hiệp định thương mại Việt-Mỹ :
Theo tinh thần chỉ thị của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, xây dựng
quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Mỹ thể hiện trong Hiệp ước dựa trên 5 nguyên
tắc cơ bản :
- Tôn trọng độc lập chủ quyền quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ
của mỗi nước, bình đẳng cùng có lợi.
- Việc Hoa Kỳ và Việt Nam dành cho nhau Quy chế bình thường hóa quan hệ
thương mại vĩnh viễn (PNTR) không phải chỉ đem lại lợi ích cho phía Việt Nam mà
cho cả phía Hoa Kỳ, cho các công ty của Hoa Kỳ.
- Việt Nam tôn trọng các luật lệ và tập quán quốc tế sẽ từng bước điều chỉnh,
bổ sung các luật lệ, cơ chế của mình theo hướng đó, phù hợp với mức độ phát triển
của nền kinh tế, hoàn cảnh, điều kiện của Việt Nam.
- Việt Nam chấp nhận tuân thủ các quy định của Hiệp định về thương mại thuế
quan của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), nhưng sẽ thực hiện từng bước phù hợp
15
với phát triển nền kinh tế có tận dụng những ngoại lệ giành cho một nước đang phát
07/1995 hai bên tuyê
( MFN ).
-
.
-
.
) 17
: ”.
,
0 -
. Trong
15 - 16%/
trên 20%/
.
.
-
:
18
đơn phương duy trì hàng rào thuế quan hoặc trả đũa những hoạt động buôn bán bất
bình đẳng, luật chống phá giá ( AD), điều khoản 337 về quyền sở hữu trí tuệ ) khi cần
thiết để chống lại những hoạt động buôn bán không trung thực như bán phá giá, trợ
cấp xuất khẩu đối với hàng hoá xuất khẩu qua Mỹ.
Cần viện trợ với việc mở rộng hoạt động kinh tế và thành lập các quỹ tài trợ
cho xuất khẩu chứ không chỉ là các khoản viện trợ đơn thuần dành cho các nước kém
phát triển.
Bên cạnh đó, thông qua các cơ quan hỗ trợ xuất khẩu và đầu tư như:
Tổ chức phát triển Quốc tế (USAID) và ngân hàng EXIMBANK, Quỹ đầu tư
tư nhân hải ngoại (OPIC) để lập các quỹ với lãi suất thấp tài trợ cho các hoạt động
xuất nhập khẩu và đầu tư của Mỹ tại các “thị trường nóng” như thị trường hàng hoá,
thông tin liên lạc, giao thông, năng lượng thiết bị xây dựng ở các nước Châu Á như
Indonesia, Philippines, Thái Lan và Pakistan, nơi Nhật Bản và các nước Tây Âu đã và
đang sử dụng kết hợp các khoản tín dụng ưu đãi để trợ giúp các nhà xuất khẩu của họ.
Ủng hộ việc mở rộng quyền điều hành kinh tế đối ngoại cho các bang. Còn
chính quyền liên bang chỉ giải quyết những vấn đề mang tính chiến lược gắn với việc
bảo vệ lợi ích quốc gia, duy trì và phát triển tiềm năng khoa học kỹ thuật của các tổ
hợp công nghiệp Mỹ, bảo vệ lợi ích của các công ty, các ngành và nhóm xã hội khỏi
sự cạnh tranh không chính đáng của nước ngoài.
20
ASEAN có tiềm năng phát triển thành một thị trường lớn, năng động trong khu
vực. Theo dự báo, khu vực này đến năm 2010 sẽ bao gồm 686 triệu dân, t
USD và thu nhập từ các dự án hạ tầng cơ sở bao gồm cả các
nước ASEAN lên
. Chính vì vậy việc duy trì và tăng cường các quan
hệ kinh tế ngày càng có hiệu quả với ASEAN là một định hướng ưu tiên trong chính
sách của Mỹ ở trên, trong giai đoạn hiện nay. Mỹ đã mở rộng danh sách“các thị
trường mới nổi” sang cả các nước thành viên khối ASEAN. Danh sách này đã thể
hiện sự đánh giá lại của Mỹ đối với các thị trường bên ngoài và xem đây là điều kiện
nhân khiến cho nền kinh tế trì trệ, kém hiệu quả, kém linh hoạt và kém năng động.
Tuy nhiên trong những năm gần đây Chính phủ đã thay đổi cơ chế quản lý cùng với
xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng, sự ra đời của các liên minh
kinh tế, các khu vực mậu dịch tự do (NAFTA, AFTA). V
Nam cũng đang dần đổi
mới để phù hợp với xu thế của thời đại bằng chính sách mở cửa nền kinh tế thu hút sự
đầu tư nước ngoài và với chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu, hàng hoá của VN đã
có mặt trên nhiều thị trường nước ngoài. Ví dụ như : EU, Nhật Bản, Hàn Quốc,
ASEAN, NICS .
Mỹ: là một quốc gia
.
Với dân số gần 310 triệu dân, nước có dân số đông hàng thứ 3 trên thế giới, với
thu nhập bình quân đầu người (GDP), chi tiết bảng 1.2, phụ lục 1.
.Đây là một thị trường cung cấp các sản phẩm máy móc, công
nghệ phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở VN. Do đó việc ký kết và thông qua
Hiệp định thương mại giữa hai nước là điều kiện cần thiết cho cả VN và Mỹ thúc đẩy
mở rộng quan hệ kinh tế, thương mại song phương.
Việc ký kết Hiệp định thương mại VN - Hoa Kỳ là một quá trình dài mà ở đó
cả hai bên đã cùng nhẫn nại xích lại gần nhau để tìm ra tiếng nói chung. Quá trình này
bắt đầu từ tháng 10 năm 1995 khi Phó thủ tướng kiêm bộ trưởng bộ ngoại giao VN
22
và đại diện thương mại Mỹ thoả thuận, tập trung thúc đẩy quan hệ kinh tế - thương
mại và chuẩn bị đàm phán qua các vòng :
- Vòng 1 : từ 2/9/1996 tại Hà Nội.
- Vòng 2 : từ 9/12/1996 tại Hà Nội.
- Vòng 3 : từ 12/4/1997 đến 17/4/1997 trao cho VN “văn bản dự thảo Hiệp
định” đề cập đến các vấn đề như:
1. Quy định về giá và điều tiết giá.
Qua các vòng đàm phán, hai bên đều thể hiện sự thúc đẩy nhanh quá trình
đàm phán ký kết Hiệp định thương mại. Không chỉ là lợi ích trước mắt mà còn vì lợi
ích lâu dài của cả hai bên.Vào tháng 9/2001 Hiệp định thương mại Việt - Mỹ đã được
Hạ viện Mỹ thông qua và Thượng viện thông qua.Hiệp định dài gần 120 trang, gồm 7
chương, 72 điều và 9 phụ lục, đề cập đến 4 nội dung chủ yếu: thương mại hàng hóa,
thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ và quan hệ đầu tư. Đồng thời quan hệ thương mại ở
đây được hiểu theo nghĩa rộng là tiêu chuẩn của WTO và có tính đến đặc điểm kinh tế
của mỗi nước để quy định khác nhau về khung thời gian thực hiện các điều khoản của
Hiệp định. Do VN là nước đang phát triển ở trình độ thấp và đang chuyển đổi từ nền
kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường nên kèm theo bản Hiệp
định là 9 bản phụ lục có quy định lộ trình thực hiện thích hợp cho VN .
Hiệp định được xây dựng trên hai khái niệm quan trọng. Khái niệm Tối huệ
quốc (đồng nghĩa với quan hệ thương mại bình thường) mang ý nghĩa hai bên đối xử
hàng hoá, dịch vụ, đầu tư của nước kia không kém phần thuận lợi hơn so với cách đối
xử với hàng hoá, dịch vụ, đầu tư của nước thứ ba (đương nhiên không kể đến các
24
nước nằm trong Liên minh thuế quan hoặc Khu vực mậu dịch tự do mà hai bên tham
gia, ví dụ Mỹ sẽ không được hưởng những ưu đãi của ta dành cho các nước tham gia
khu vực mậu dịch ASEAN (AFTA) và ta cũng không được hưởng những ưu đãi mà
Mỹ dành cho các nước trong Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA). Còn khái
niệm Đối xử quốc gia thì nâng mức này lên như đối xử với công ty trong nước. Hai
khái niệm này quan trọng vì chúng được đề cập đến hầu hết ở các chương của bản
hiệp định. Ngoài ra, các phụ lục được dùng để liệt kê các trường hợp loại trừ, chưa
hoặc vĩnh viễn không áp dụng các khái niệm trên.
- :
việc thực thi Hiệp Định Thương Mại sẽ mang lại những lợi ích to lớn sau đây:
HĐTM được k kết đã cho phép dành quy chế Tối huệ quốc cho nhau mà
quan trọng hơn là hàng hoá VN sẽ dễ dàng thâm nhập vào thị trường Mỹ nhiều hơn,
khai thác tối đa hoạt động dịch vụ ở VN, một lĩnh vực được xem là yếu trong cơ cấu
kinh tế. Trong khi đó ở Mỹ, dịch vụ chiếm đến 60-70 % GDP và phát triển rất mạnh
nhờ đó mà người dân VN sẽ được hưởng các dịch vụ tốt hơn cho các nhà đầu tư Mỹ
cung cấp.
Để có một lượng hàng lớn xuất khẩu vào thị trường Mỹ, nhất là những mặt
hàng sử dụng nhiều lao động cũng như các nhà đầu tư Mỹ sẽ vào VN nhiều hơn tất cả
sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm hơn một khi Hiệp định thương mại có hiệu lực, góp
phần giải quyết vấn đề dân số và việc làm ở VN.
HĐTM mở ra một cơ hội cộng đồng ViệtKiều đang làm ăn sinh sống ở Mỹ,
phát huy những lợi thế và tiềm năng của họ để xây dựng quê hương.
HĐTM có hiệu lực, mối quan hệ Việt - Mỹ theo đó sẽ có những bước phát
triển toàn diện về mọi mặt: Người Mỹ sẽ đến VN nhiều hơn nhờ đó mà ngành du lịch
sẽ phát triển. Trái lại, người VN cũng sẽ đến Mỹ nhiều hơn để quan sát, học tập, tiếp
thu những tiến bộ khoa học mà Mỹ đạt được Tất cả sẽ làm cho mối quan hệ Việt -
Mỹ phát triển lên một tầm cao mới.