Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010
106
ỨNG DỤNG THIẾT BỊ STATCOM ĐỂ NÂNG CAO
ĐỘ ỔN ĐỊNH ĐIỆN ÁP HỆ THỐNG ĐIỆN VIỆT NAM
APPLICATION STATCOM DEVICE FOR ENHANCEMENT
VOLTAGE STABILITY OF VIETNAM’S POWER SYSTEM
SVTH: Lê Đức Hiền, Trần Phương Châu, Trần Văn Dũng, Hà Đình Nguyên
Lớp 05D1B, Khoa Điện, Trường Đại học Bách Khoa
GVHD: PGS. TS. Đinh Thành Việt
Khoa Điện, Trường Đại học Bách Khoa
TÓM TẮT
Để nâng cao chất lượng điện áp và ổn định điện áp cho hệ thống điện Việt Nam đã có rất
nhiều công trình nghiên cứu về việc ứng dụng các thiết bị bù công suất phản kháng. Tuy nhiên các
thiết bị bù đó chưa đáp ứng đủ những yêu cầu về phản ứng nhanh nhạy khi hệ thống có sự thay
đổi đột ngột về nhu cầu công suất phản kháng. Các thiết bị truyền tải điện xoay chiều linh hoạt
FACTS đã đáp ứng được yêu cầu về độ phản ứng nhanh nhạy cũng như dung lượng bù tối ưu
cho hệ thống điện trong mọi chế độ làm việc. Bài báo này nghiên cứu về những vấn đề trên nhằm
đưa ra vị trí lắp đặt các thiết bị FACTS thích hợp cho hệ thống điện Việt Nam. Trong quá trình
phân tích bỏ qua yếu tố kinh tế và chỉ chú trọng vào yếu tố kỹ thuật. Quá trình nghiên cứu tính toán
sử dụng sơ đồ hệ thống điện Việt Nam tháng 12 năm 2010 và việc tính toán bù công suất phản
kháng tập trung chủ yếu vào các khu vực có mật độ tải dày đặc và có thể gia tăng đột biến trong
các chế độ làm việc khác nhau. Các kết quả tính toán trào lưu công suất hệ thống, phân tích đặc
tính P-V, Q-V được khảo sát qua phần mềm PSS/E-30.
ABSTRACT
In order to improve the voltage quality and voltage stability in VietNam’s power
system, lots of research into the application of reactive voltage compensator have been conducted.
However, they have not met the requirements for fast reactions when an abrupt change of reactive
power demand takes place in the system. The FACTS devices can satisfy these requirements as
well as the optimal compensating capacity for a power system in any working condition mode. The
thiết bị bù ngang, nó điều chỉnh điện áp tại vị trí
nó lắp đặt đến giá trị cài đặt (V
ref
) thông qua việc
điều chỉnh biên độ và góc pha của điện áp rơi giữa
STATCOM và hệ thống. Bằng cách điều khiển
điện áp của STATCOM cùng pha với điện áp hệ
thống nhưng có biên độ lớn hơn khiến dòng công
suất phản kháng chạy từ STATCOM vào hệ thống
qua đó nâng cao điện áp hệ thống lên. Ngược lại,
nếu điều khiển điện áp của STATCOM thấp hơn điện áp của hệ thống, thì dòng công suất
chảy từ hệ thống vào STATCOM do vậy hạn chế quá điện áp trên lưới điện.
3. Ứng dụng STATCOM vào hệ thống lưới điện 500KV và 220KV Việt Nam
Hình 2: Đặc tính P-V tại các nút 500kV Ô Môn, Nhà Bè, Phú Lâm, Sông Mây, Đăk Nông, Di Linh và Tân
Định trong chế độ làm việc bình thường và sự cố N-1 (phần mềm PSS/E)
Filter
-+
C
Vi,
I,
Vref
V,
Hình 1. Mô hình STATCOM
Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010
108
Hệ thống lưới điện 500kV và 220kV Việt Nam (số liệu: 12/2010) được đưa vào
khảo sát ở bài báo này. Việc khảo sát tập trung chủ yếu tại các khu vực có mật độ tải lớn,
dày đặc và có khả năng tăng tải bất thường từ đó tính toán lắp đặt STATCOM. Phương
pháp nghiên cứu là xây dựng đường cong P-V, Q-V và phân tích trào lưu công suất của hệ
Hình 5: Đặc tính Q-V của nút 220kV Châu Đốc tương ứng với các chế độlàm việc của hệ thống
(phần mềm PSS/E)
Chế độ bình thường:
Các nút 500kV: Ô Môn, Phú Lâm.
Các nút 220kV: Châu Đốc, Kiên Lương và Cao Lãnh.
Chế độ sự cố N-1:
Các nút 500kV: Ô Môn, Phú Lâm, Di Linh, HT-NQ1, ĐN-HT2.
Các nút 220kV: Châu Đốc, Kiên Lương, Thốt Nốt, Cao Lãnh và Trà Vinh
Từ kết quả trên ta đưa ra 3 phương án lựa chọn vị trí đặt STATCOM là:
Phương án 1:
Các nút 500kV: Ô Môn, Phú Lâm, Di Linh, Nho Quan
Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010
110
Các nút 220kV: Châu Đốc
Phương án 2:
Các nút 500kV: Nhà Bè, Tân Định, Di Linh, Hà Tĩnh
Các nút 220kV: Kiên Lương
Phương án 3:
Các nút 500kV: Ô Môn, Nhà Bè, Đà Nẵng, Sơn La
Các nút 220kV: Nho Quan
Sau khi đặt STATCOM tại từng vị trí theo 3 phương án trên ta lựa chọn được
phương án tối ưu nhất:
Tại các nút 500kV: Ô Môn, Phú Lâm, Di Linh, Nho Quan.
Tại các nút 220kV: Châu Đốc.
Phân tích dòng công suất huy động cho thấy công suất truyền tải sẽ rất lớn từ
PleiKu-Đăk Nông-Phú Lâm (572.8 MW) và PleiKu-Tân Định-Phú Lâm (649.6 MW),
trong trường hợp sự cố bất kì một đường dây thì đường dây còn lại sẽ tải lượng công suất
134% so với bình thường và đường dây sẽ làm việc trong tình trạng quá tải. Như vậy giới
hạn công suất truyền tải trên đường dây sẽ là 568.75 MW. Với giới hạn công suất này ta
xác định được giới hạn bù của các STATCOM đặt tại các nút trên như bảng 1: