văn hóa, giá trị đạo đức kinh doanh của người Trung Quốc - Pdf 29

Giao Tiếp Trong Kinh Doanh GVHD : Ths: Nguyễn Thị Mỹ Phượng
PHẦN MỞ ĐẦU
Quốc gia có số dân đông nhất thế giới và nước có diện tích thứ 3 thế giới với số
dân đông nhất thế giới,Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa ngày nay nổi lên như một
cường quốc kinh tế thế giới. Nhưng Trung Quốc cũng được biết đến như một quốc gia
của những nghi thức và lễ giáo với việc coi trọng các giá trị dân tộc về lễ hội, văn hóa,
ẩm thực và các giá trị truyền thống tôn giáo ,là một cái nôi văn hóa của nhân loại.
Những cá tính đặc trưng riêng biệt của người Trung Hoa được hình thành trên một ý
thức đầy tự hào về lịch sử và văn hóa lâu đời của họ.
Trong thời buổi kinh tế thị trường ngày nay, nói đến một nền kinh tế vượt qua
thời kỳ khủng hoảng một cách nhanh chóng, phát triển vượt bậc và nền kinh tế được xếp
vào hàng thứ hai thế giới, vượt qua cả nền kinh tế của Nhật Bản thì hầu hết chúng ta
không ai không nghĩ ngay đến.
Trung Quốc – một đất nước và vùng lãnh thổ rộng lớn. Ngày nay Trung Quốc
đang tiến những bước dài, đồng thời cũng để lộ ra không ít vấn đề. Tất cả mọi vấn đề
đều hướng về văn hoá, song tất cả mọi vấn đề về văn hoá đều hướng vào tôn giáo.Tôn
giáo quyết định văn hoá mà văn hoá thì quyết định tính cách dân tộc, tính cách dân tộc
lại quyết định số phận dân tộc.
Bởi thế, tìm hiểu và am hiểu văn hóa Trung Quốc cũng là am hiểu giá trị con
người Trung Quốc, tạo lợi thế cho các doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận, thâm nhập
và hiểu rõ nhu cầu, thị hiếu của người dân Trung Hoa, đồng thời tạo cơ hội hợp tác kinh
doanh với họ ngày càng hiệu quả hơn, tạo mối quan hệ giao lưu hợp tác trong hòa bình
và hữu nghị.
Chính vì thế sự hiểu biết cơ bản về văn hóa, giá trị đạo đức kinh doanh của người
Trung Quốc là hết sức cần thiết đối với mọi tổ chức muốn tham gia làm ăn trong tiến
trình phát triển nhanh chóng của nền kinh tế trung quốc ngày nay. Đó cũng là lý do mà
nhóm chúng em đã chọn đề tài nghiên cứu về môi trường văn hoá Trung Quốc .
SVTH: Nhóm 2
Trang 1
Giao Tiếp Trong Kinh Doanh GVHD : Ths: Nguyễn Thị Mỹ Phượng
PHẦN NỘI DUNG

ngoài ra còn có 55 dân tộc ít người (chiếm 6% dân số cả nước và phân bổ trên 50-60%
diện tích toàn quốc).
- Tôn giáo: Có 4 tôn giáo chính là Phật giáo, Đạo giáo, Đạo Hồi, Thiên chúa giáo.
- Ngôn ngữ : Tiếng Hán là tiếng phổ thông, lấy âm Bắc Kinh làm tiêu chuẩn.
1.2 Chính trị:
- Hành chính : 31 tỉnh, thành phố gồm 22 tỉnh, 5 khu tự trị và 4 thành phố trực
thuộc trung ương. 4 cấp hành chính gồm tỉnh, địa khu, huyện, xã.
- Thể chế nhà nước : Theo hiến pháp Trung Quốc, nước CHND Trung Hoa là
một nước Xã hội chủ nghĩa của nền chuyên chính nhân dân, do giai cấp công nhân lãnh
đạo, lấy liên minh công nông làm nền tảng. Chế độ Xã hội chủ nghĩa là chế độ cơ bản
của Trung Quốc. Chuyên chính nhân dân là thể chế của nhà nước. Cơ cấu Nhà nước bao
gồm Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc (Quốc Hội), Chủ tịch nước, Quốc Vụ viện,
Hội nghị Chính trị Hiệp thương toàn quốc (gọi tắt là Chính Hiệp, tương tự Mặt trận tổ
quốc của ta), Uỷ ban Quân sự Trung ương, Đại hội Đại biểu Nhân dân và Chính phủ các
cấp ở địa phương, Toà án Nhân dân và Viện Kiểm sát Nhân dân.
- Đảng cầm quyền: Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập ngày 1-7-1921, hiện có
70,8 triệu Đảng viên. Bộ Chính trị có 25 người, trong đó có 9 Uỷ viên thường vụ Bộ
Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng có 8 người.
Ngoài Đảng Cộng sản Trung Quốc, còn có 8 Đảng phái khác, đều thừa nhận sự
lãnh đạo của ĐCS trong khuôn khổ "hợp tác đa Đảng dưới sự lãnh đạo của ĐCS", bao
gồm: Hội Cách mạng dân chủ, Liên minh dân chủ, Hội Kiến quốc dân chủ, Hội Xúc tiến
dân chủ, Đảng Dân chủ nông công, Đảng Chí công, Cửu tam học xã và Đồng minh tự trị
dân chủ Đài Loan.
- Lãnh đạo chủ chốt :
Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch
nước CHND Trung Hoa, Chủ tịch Uỷ ban Quân sự Trung ương ĐCS Trung Quốc, Chủ
tịch Uỷ ban Quân sự Trung ương Nhà nước Trung Quốc: Hồ Cẩm Đào
Thủ ướng Quốc Vụ viện CHND Trung Hoa: Ôn Gia Bảo Chủ tịch Quốc Hội (Uỷ
viên trưởng Uỷ ban thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc nước CHND Trung
SVTH: Nhóm 2

CHƯƠNG 2
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI TRUNG QUỐC
Các giá trị truyền thống của Trung Quốc đa phần bắt nguồn từ các tư tưởng chính
thống của Nho giáo/chủ nghĩa bảo thủ, những tư tưởng này đã từng là nội dung giảng
dạy chính trong trường học và được đưa vào một phần trong các kỳ thi tuyển quan chức
cho chế độ phong kiến. Tuy nhiên, thuật ngữ Nho giáo hơi có vấn đề ở chỗ hệ tư tưởng
đã từng đạt đến đỉnh cao vào thời Trung Quốc phong kiến nhà Thanh, thực ra là kết quả
của nhiều khuynh hướng tư tưởng khác nhau, trong đó có Pháp gia, mà dưới nhiều khía
cạnh bắt nguồn từ tư tưởng chính thống ban đầu của Nho gia;
Thực tế là khi chế độ phong kiến Trung Quốc đạt tới đỉnh cao thì những vấn đề
như ý thức quyền lợi cá nhân, góp ý với chính quyền, và đòi hỏi những thay đổi cho
cuộc sống càng bị những triết gia "chính thống" tìm cách ngăn cản, cho rằng Nho giáo là
đồng nghĩa với sự quy phục và ổn định chính trị. Hiện nay, có những nhà Nho đương
đại lại phản đối kiểu diễn giải đó và cho rằng những lý tưởng dân chủ và quyền con
người hoàn toàn phù hợp với những "giá trị châu Á" Nho giáo cổ truyền.
Những nhà lãnh đạo đã cố gắng thay đổi xã hội Trung Hoa sau khi Cộng hòa nhân
dân Trung Hoa được thành lập vào năm 1949 đều là những người được đào tạo dưới xã
hội cũ cùng với những dấu ấn giá trị của nó. Mặc dù đều là những người có ý thức cách
mạng, họ không có ý định biến đổi hoàn toàn nền văn hóa Trung Hoa.
Là những nhà quản lý thực dụng, lãnh đạo của CHNDTH tìm cách thay đổi một
số khía cạnh truyền thống như vấn đề sở hữu đất canh tác và vấn đề giáo dục, tuy vậy
vẫn giữ những giá trị cũ như cơ cấu gia đình. Thực ra, nhiều người cho rằng thời kỳ
cộng sản sau năm 1949 thực ra chỉ là sự nối tiếp lịch sử Trung Quốc truyền thống, chứ
không phải là những gì thực sự cách mạng–quần chúng vẫn chấp nhận quan điểm phục
tùng giai cấp lãnh đạo như xưa mà không hề phản đối. Chính quyền mới được coi như
nắm giữ Thiên mệnh, giành quyền từ chế độ cũ và thiết lập triều đại mới. Cũng giống
như thời phong kiến, người cai trị (Mao Trạch Đông) được tôn sùng và coi như không
bao giờ mắc lỗi. Do vậy, thay đổi trong xã hội Trung Quốc không phải là toàn diện và
nhất quán theo như phát ngôn chính thức.
SVTH: Nhóm 2

bên vạt áo xẻ, dùng khổ đơn, ôm sát thân, tay áo có thể liền
hoặc rời thân
SVTH: Nhóm 2
Trang 6
Hình 2.1: Áo Xường xám Truyền
thống
Hình 2.2: Áo xường xám
Giao Tiếp Trong Kinh Doanh GVHD : Ths: Nguyễn Thị Mỹ Phượng
Chiếc áo xường xám ngày nay đã thoát ra khỏi bóng dáng của chiếc áo thời Mãn.
Giá trị của chúng không chỉ ở bản thân kiểu dáng trang phục mà còn dung hòa tương trợ
giữa quan điểm mĩ học hiện hành phương Tây, và lối thiết kế dân tộc truyền thống
Trung Hoa. Nó thể hiện sự thống nhất hoàn mĩ giữa tính dân tộc và thế giới. Hơn nữa
còn ý nghĩa nhất định đối với việc khai thác và tìm hiểu văn hoá truyền thống dân tộc cổ
kim này.
2.2 Nghệ thuật kinh kịch
Kinh kịch hay còn gọi là “Kinh hí” phát triển mạnh dưới
thời vua Càn Long đời nhà Thanh. Kinh kịch là một loại hình
nghệ thuật diễn tuồng trên sân khấu xuất hiện từ rất sớm trong
đời sống tinh thần của người Trung Hoa và từ thời nhà Đường
trở về trước thường được gọi là “Hí kịch”.
Trong các tiết mục Kinh kịch thường có các màn biểu
diễn xiếc, múa hát và đặc biệt là có những màn biểu diễn võ thuật cực kỳ công phu.
Ngày nay, tuy giới trẻ Trung Quốc không còn dành nhiều sự quan tâm cho Kinh kịch
nữa tuy nhiên Kinh kịch vẫn còn ảnh hưởng rất nhiều trong đời sống tinh thần của người
Trung Hoa và những buổi biểu diễn văn hóa của Trung Quốc không khi nào thiếu những
tác phẩm Kinh kịch.
2.3 Văn hóa ẩm thực Trung Hoa
Văn hóa ẩm thực Trung Hoa đặc sắc và độc đáo bởi sự toàn vẹn trong suy nghĩ,
sự kết hợp tinh tế giữa hương, sắc, vị và cả trong cách bày biện.
Trung Hoa cũng như đa phần các nước phương Đông khác, là một đất nước thiên

Giang Tô, Chiết Giang, Quảng Đông, Phúc Kiến, Hồ Nam, và An Huy. Người Trung
Quốc đã hình tượng hóa các trường phái ẩm thực của mình một cách nghệ thuật, ví
trường phái ẩm thực Giang Tô và Chiết Giang như một người đẹp phương Nam; ẩm
thực Sơn Đông và An Huy giống một chàng trai khoẻ mạnh, kiệm lời; ẩm thực Quảng
Đông và Phúc Kiến là một thanh niên lãng mạn; ẩm thực Tứ Xuyên và Hồ Nam lại là
nhà bác học, nhà bách khoa thư.
Ẩm thực Sơn Đông: bao gồm hai loại món ăn của
Tế Nam và Dao Đông. Các món ăn mang vị nồng đậm,
nặng mùi hành tỏi, nhất là những món hải sản, có sở
trường làm món canh và nội tạng động vật. Món ăn nổi
tiếng của Sơn Đông là ốc kho, cá chép chua ngọt.
SVTH: Nhóm 2
Trang 8
Hình 2.5:Món ăn Sơn
Đông
Giao Tiếp Trong Kinh Doanh GVHD : Ths: Nguyễn Thị Mỹ Phượng
Ẩm thực Tứ Xuyên: bao gồm hai trường phái Thành Đô và Trùng Khánh. Các
món ăn Tứ Xuyên nhiều mùi vị và có độ nồng đậm, cay. Nổi tiếng với món Vây cá kho
khô, cua xào thơm cay.
Ẩm thực Giang Tô: bao gồm món ăn của Dương Châu, Tô Châu và Nam Kinh.
Giang Tô nổi tiếng về các món hầm, ninh, tần, đặc biệt các món canh bảo đảm nguyên
chất, nguyên vị. Món ăn có tiếng như: món thịt và thịt cua hấp.
Ẩm thực Chiết Giang: Bao gồm các món ăn của Hàng Châu, Ninh Ba, Thiệu
Hưng. Chủ yếu là của Hàng Châu. Món ăn Chiết Giang thường tươi mềm, thanh đạm,
không ngấy. Nổi tiếng với món tôm nõn Long Tỉnh, cá chép Tây Hồ.
Ẩm thực Quảng Đông: hình thành từ 3 truyền thống nấu bếp là Quảng Châu,
Triều Châu, và Đông Giang, phong phú về thành phần, cách chế biến tinh tế và phức
tạp. Quảng Châu nổi tiếng hơn cả về các món chiên, rán, hầm với khẩu vị thơm giòn và
tươi. Nổi tiếng với món Tam xà long hổ phượng, lợn quay.
Ẩm thực Phúc Kiến: gồm các món ăn Phúc Châu, Tuyền Châu và Hạ Môn, chủ

nổi tiếng về hoàng tửu.
Ngũ cốc làm rượu không giống nhau: miền Nam dùng gạo nếp; miền Bắc dùng
lúa mì, đại mạch, cao lương hoặc hỗn hợp ngũ cốc. Ngoài ra, còn dùng nho, lê, cam, trái
vải, sơn tra, mía v.v... Nước rất quan trọng vì nó góp phần vào sự lên men. Men rượu
SVTH: Nhóm 2
Hình 2.9: Món ăn Hồ Nam
Trang 10
Giao Tiếp Trong Kinh Doanh GVHD : Ths: Nguyễn Thị Mỹ Phượng
gọi là khúc bính hay tửu dược. Hương vị riêng của rượu còn tùy thuộc độ axit của nước.
Người ta dùng thêm một số thảo dược để tạo màu và hương vị đặc trưng. Loại rượu thảo
dược có thể dùng làm gia vị nấu ăn.
Nổi tiếng nhất Trung Quốc là rượu Mao Đài (tỉnh Quý Châu), được tôn là quốc
tửu. Ngoài ra, còn có thể kể đến rượu Phần và rượu Trúc Diệp Thanh (tỉnh Sơn Tây);
rượu Ngũ Lương Dịch, rượu Kiếm Nam Xuân, rượu Đại Khúc, rượu Đặc Khúc, rượu
Lô Châu Lão Diếu (tỉnh Tứ Xuyên); rượu Cổ Tỉnh (tỉnh An Huy); rượu Dương Hà Đại
Khúc (tỉnh Giang Tô); rượu Đồng (tỉnh Quý Châu); rượu Mỹ Vị Tư (tỉnh Sơn Đông);
rượu nho đỏ Bắc Kinh, rượu nho trắng Sa Thành (tỉnh Hà Bắc); rượu nho trắng Dân
Quyền (tỉnh Hà Nam); rượu nếp Thiệu Hưng (tỉnh Chiết Giang) v.v... Người Trung
Quốc còn chế loại rượu thuốc hay rượu bổ như rượu nhân sâm, rượu cao hổ cốt, rượu
lộc nhung, rượu rắn, rượu tráng dương bổ thận v.v... Các thầy thuốc thường pha dược
liệu vào rượu vì rượu dẫn thuốc rất tốt.
2.4.2 Người Trung Quốc nói về rượu
Rượu có thể ích lợi cho người mà cũng có thể gây hại cho người. (Tửu năng ích
nhân diệc năng tổn nhân).
Trà khiến người ta sảng khoái, rượu khiến người ta mờ mịt. (Trà lịnh nhân thanh,
tửu lịnh nhân hôn).
Tào Tháo (155—220) nói: «Để giải ưu sầu chỉ có Đỗ Khang.» (Hà dĩ giải ưu,
duy hữu Đỗ Khang). Tào Tháo ám chỉ rượu là Đỗ Khang (Đỗ Khang thường được xem
là ông tổ nghề rượu).
Dùng rượu để tiêu sầu gọi là «phá thành sầu». Nhưng chắc gì rượu làm tan lòng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status