TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH TẾ VÀ KINH
DOANH
QUỐC
TÉ
CHUYỂN
NGÀNH
KINH
TẾ
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
LUÂN TÓT
NGHIỆP
ĐẼ
TÀI:
ĐẠO ĐÚC
KINH
DOANH
CỦA
DOANH
NGHIỆP
VIỆT
NAM
TRONG
ẩiị
Hà
Nội,
tháng 5-2010
MỤC
LỤC
LỜI MỎ ĐÀU Ì
CHƯƠNG ì
:
TỐNG
QUAN VÈ ĐẠO ĐỨC
KINH
DOANH 4
ì.
NHÙNG
VẤN ĐÈ CHUNG VÈ ĐẠO ĐỨC
KINH
DOANH 4
1. Khái niệm
về đạo đức
kinh
doanh
4
1.1.
Khái niệm về đạo
đức
4
1.2. Khái niệm
về đạo đức
kinh
đạo đức
kinh
doanh
.7
2.
Lịch
sờ
hình thành
và
phát
triển
của
đạo đức
kinh
doanh
lo
3.
Các
khía cạnh thế
hiện
đạo đức
kinh
doanh
12
3.1
Đối
vói
nguôi
lao
động- nhân viên
với
khách hàng
ì
7
3.2.1.
Nguyên tắc cung cấp thông
tin trung
thực
về
sản
phẩm
19
3.2.2.
.
Nguyên tấc
về an
toàn sản
phẩm
20
3.2.3.
Nguyên tắc bào
mật
thông
tin
cho
khách hàng
20
3.3.
Đối
với
26
/./.
Định nghĩa
văn hóa
doanh nghiệp (VHDN)
26
1.2.
Vai
trò
cùa văn hóa
doanh nghiệp
28
1.2.1.
Trước hết
trong
quàn lý, văn hóa
có
tác động
trực tiếp
tới
quan
điềm
và
cách
nhìn
nhận
của
người
lãnh
dạo
định
chiến
lược
và
cùng đông hành phát
triển
theo
doanh
nghiệp
29
Ì
.2.5.
VHDN
tạo
nên sự
cam
kết
chung,
vì
mục
tiêu
và
giá
trị
của bản thân
doanh
nghiệp
29
2.
Mối quan hệ
1.2.
Biện
pháp,
cách
thức
kinh
doanh
31
1.3.
Động
cơ
kinh doanh
31
ỈA.
Hậu
quả, kết
quả
kinh doanh
và
lợi
nhuận kinh doanh
31
ĩ.
Các yếu
tố
khách quan
32
2.1.Sự
tác
động
NAY 34
1.
Mểt
số
biểu hiện
của
đạo đức
kinh
doanh
ó'
Mỹ 34
2.Mểt
số
biếu hiện
của đạo đức
kinh
doanh
ở
Nhật
Bản
36
CHUÔNG
li:
THỤC TRẠNG
ĐẠO
ĐÚC KINH
DOANH CỦA DOANH
NGHIỆP
VIỆT
NAM TRONG
Nam 39
/./.
Các
khái niệm
về
hội
nhập kinh
tể
quốc
tế
39
1.2.
Quá
trình
hội
nhập quốc
tế
của
Việt
Nam 41
2.
Tác
động
của
tiến
trình
hội
nhập
đối
vói vấn
44
2.3.
Thay
đôi
trong
phương pháp
kinh
doanh
và
quản
trị
nguồn nhân
lục
45
li.
THỰC
TRẠNG
XÂY
DỰNG ĐẠO ĐỨC
KINH
DOANH CỦA DOANH
NGHIỆP
VIỆT
NAM
HIỆN
NAY 46
1.
Những nhân
tố
ểnh
đạo đức
kinh
doanh của doanh
nghiệp
Việt
Nam 49
2.1.
Đối
với
người
lao
động
49
2.1.1.
Vấn đề an toàn
lao
động
49
2.1.2.
Vấn đề về chế độ bào
hiểm
và lương
thường
cho
người
lao
dộng
53
2.1.3.
Vấn đề về sa
65
3.1.
Toyota Việt
Nam 65
3.1.1.
Lịch
sử phát
triển
65
3.1.2.
Lĩnh
vực
hoạt
động
67
3.1.3.
Triết
lý
kinh
doanh
67
3.1.4.
Vấn đề xây
dựng
đạo đức
kinh
doanh
tại
công
ty
3.2.1.
Giới thiệu
chung
về công
ty
71
3.2.2.
Triết
lý
kinh
doanh
72
4. Đánh giá chung
ve
thực
trạng
đạo đức
kinh
doanh của các doanh
nghiệp
Việt
Nam 76
4.1.
Những thành
tích
đạt được
76
4.1.1
Vân đề
đạo đức
phạm đạo đức
kinh
doanh
vẫn
diễn
ra
77
4.2.2.
o
nhiễm
môi trường
sinh
thái ngày càng nghiêm
trọng
77
4.3.
Những nguyên nhân còn tồn
tại
78
4.3.1. Sự
thiếu
hoàn
thiện
trong
các văn bàn pháp
luật
của Nhà nước
78
4.3.3.
Công tác nâng cao
hoàn
thiện
khung
luật
pháp
Việt
Nam
tạo co
1
sử
pháp lý vững
chỪc
cho đạo đức
kinh
doanh
80
1.1.
Bo
sung và sửa
đối
các văn bản pháp
luật
83
1.2.
Tăng cường và minh bạch công
tác
thanh
tra
giám
sát
doanh cho doanh
nghiệp
94
1.1.
Đạo đức
kinh doanh
gắn
với
việc
xây dựng văn
hóa
doanh nghiệp và phát
triền
thương hiệu
94
1.2.
Chú
trng
vai
trò
của
trách
nhiệm xã hội
trong
xây dựng đạo đức
kinh
(loanh
97
2. Nâng cao
ý
-
Mục đích nghiên cứu của đề tài
Cùng
với
quá trình toàn cầu hóa,
Việt
Nam
cũng
đang
trong
giai
đoạn
hội
nhập
toàn cầu ngày càng sâu
sắc
và
mạnh
mẽ, đặc
biệt
là kể
từ
thọi
diêm nước
ta
đã
chính
thức
trở
thành thành viên
kinh tể thị
trưọng và
từng
bước công
nghiệp
hóa
hiện
đại
hóa đất
nước.
Và
điều
đó dẫn đến một
tất
yếu không
ai
khác, chính các
doanh
nghiệp
- những
chủ
thể
trực
tiếp
tham
gia
vào các
hoạt
động của nền
kinh tế
nghiệp
muôn tôn
tại
và phát triên
thi
không
chỉ
cần nâng cao
chất
lượng
sản phẩm
dịch
vụ cùa công
ty
mình, mà còn
cần
đặc
biệt
quan
tâm đến
rất nhiều
yếu
tố
khác. Một
trong
những
yếu
tố
hàng đầu
chính có
động nghiên cứu về
đạo đức
kinh
doanh
đã
bắt
đầu nở
rộ
ở trên thê
giới
từ những
năm
1970.
và vẫn
tiếp
tục
phát
triển
cho đến
nay.
Tuy nhiên
tại
Việt
Nam, vấn đề đạo đức
kinh
doanh
mới
chỉ
được đề cập
trong
luận
xã
hội
nói
chung,
và
giới
doanh
nghiệp
nói riêng mới
bắt
đầu
quan
tâm
tới
vấn đề này. Tuy nhiên trên
thực
tế
tại
Việt
Nam, các nghiên cứu vê đạo đức
kinh
doanh
không
nhiều,
nếu có
cũng
chỉ là
những
bài phân tích riêng
dựng
đạo
Ì
đức kinh
doanh
tại các
doanh
nghiệp
Việt
Nam mới ờ giai đoạn sơ khai và đana
dứng
trước nhiều thách
thức
đặc biệt là
trong
thời đại toàn cầu hóa hiện nay. Nhận
thức
được điều này,
người
viết
đã chọn đề tài "Đạo đức kinh doanh của doanh
nghiệp Việt Nam trong thời kì hội nhập".
Đẽ
tài được xây
dựng
với 3 mục đích chính là:
Thứ nhất, đưa ra
những
kiến
thức
quan
về
đạo đức kinh
doanh,
giúp
doanh
nghiệp có thề lựa chọn và
thực
hiện được chiến
lược đạo đức kinh
doanh
đúng dan.
Thứ hai,
cũng
là phần nội
dung
chính cùa bài
viết
là đi vào phân tích, từ đó
đánh giá
thục
trạng của vấn đê xây
dựng
đạo đức kinh
doanh
của các
doanh
nghiệp
Việt
Nam, đặc biệt nhấn mạnh phân tích một sủ vụ việc tiêu cực liên
sự
kiện
vi phạm đã xảy ra.
Thứ ba, dựa trên
những
phân tích về tính sơ khai đặc biệt là còn nhiều bất
cập của vân đê đạo đức kinh
doanh
tại các
doanh
nghiệp
Việt
Nam,
người
viết
mong
muủn đưa ra
những
giãi pháp nhằm đóng góp một phần nhỏ giúp các
doanh
nghiệp
có thể xây
dựng
đạo đúc kinh
doanh
một cách lành mạnh và hiệu quả,
trong
dó nêu
bật sự hợp tác
chặt
xã hội.
Bài khóa luận dành một phân đê nghiên cứu
thực
tiễn
xây
dựng
đạo đức kinh
doanh
tại một số
doanh
nghiệp tiêu biểu ờ
Việt
Nam và
giới
hạn ở khía
cạnh
đạo
đức kinh
doanh
đủi với khách hàng mua sản phẩm và đủi với
cộng
đồng xã hội.
2
B. Phương pháp nghiên cứu
Trong
bài khóa
luận,
người
viết
đã dùng phương pháp duy
các sô
liệu
thứ
cấp qua các
cuốn
sách cùa các tác
giả nổi tiếng,
các bài
viết
phân tích
và đánh giá trên báo và
tạp chí,
cùng các
website
có uy tín cỗa
Việt
Nam và cỗa cả
quôc
tế.
c.
Kết
cấu cỗa khóa
luận
Nội
dung
chinh
cỗa dề
tài
gồm 3 chương:
Chuông
Việt
Nam
trong
thòi kì
hội
nhập.
Tuy
đã nỗ
lực
và cố
gắng,
nhưng do hạn chế về mặt
thời
gian, kinh
nghiệm
thực
tiễn
cũng
như khá năng nghiên cứu cùa
người
viết,
nên bài khóa
luận
sẽ không
tránh
khỏi
những
khiếm
khuyết
và
Thị Lan -
Giảng
viên Chính, Chù
nhiệm
Bộ Môn Quản
Trị
Nguồn Nhân Lực,
Khoa
QTKD
đã
nhiệt
tình giúp đỡ và
hướng
dẫn
người
viết
trong
quá trình định
hướng
và
triển
khai luận
văn này. Đạt được két quá như ngày hôm
nay,
người
viết
cũng
xin
cám ơn
khoa
VÈ
ĐẠO
ĐÚC KINH
DOANH
ì. NHỮNG VẤN ĐÈ CHUNG VÈ ĐẠO ĐỨC KINH DOANH
1.
Khái
niệm
về đạo đúc
kinh
doanh
LI. Khái niệm về đạo
đức
Dạo
đức
là
một
phạm
trù đặc
trưng của
xã
hội
loài
người.
Đạo đức là một
phạm trù
rất
rộng
đề cập đến mối
quan
trong
tát
cà
các
hoạt
động
của con
người, trong giao
tiêp
xã
hội
và
trong kinh
doanh.Chính vì vậy
mà
đã có
rất
nhiều
tác
giả
đưa
ra
những
cách
hiựu
khác
nhau
giải
thích về khái
niệm
đối
với
xã
hội".
Theo
nghĩa
hẹp
thi
"dạo
đức
là
phàm chát
tót
đẹp
của con người
do
tu
dưỡng
theo
những
tiêu
chuân
nhát định
mà
c".
".
[8]
-
Theo
từ
standards
governing
the
conduct
of
a person
or
the members of a
pro/essìon;
3.
The
branch of philosophy
thát
deals
with morality. Elhics
is
concerned
wừh
distinguishing
between good
and
evil
in the
world, behveen right
and
mong human
actions,
and
between virtuous
and
hoặc
các thành viên của một
nghề
nghiệp;
3.
Là
một bộ
môn
khoa
học nghiên
cứu
về đạo
lý.
Đạo
đức đề cập
tới
sự phân
biệt
giữa
điều
tốt
và
điều
xấu trên
thế
giới,
giữa
cái đúng
và
cái
tắc
chung được dư luận xã hội thừa nhận là đúng, theo đó con
người tự
điều
chỉnh và đánh giá hành
vi
cùa mình."
Trong
tiếng
Anh, đạo đức là
ethics,
từ này bắt
nguồn
từ
tiếng
Hy Lạp là
ethiko
và
ethos
nghĩa
là
phong
tục
hoặc
tập
quán. Như
Aristoteles
đã nói khái
niệm
trên bao gồm ý
mốc đánh dấu sự ra
dời
của đạo đức
kinh
doanh.
Đạo đức
trở
nên đặc
biệt
quan
trọng trong việc
xây
dựng
và phát
triển
mối
quan
hệ
trong
các
hoạt
động
kinh
doanh
khi
phạm
vi
và tính
chất
các mối
1.2. Khái niệm ve đạo đức kinh doanh
Đạo
đức
kinh
doanh
là một khái
niệm
không cũ và
cũng
không
mới.
Với tư
cách là một khía
cạnh
luân lý
trong
hoạt
động thương
mại,
đạo đức
kinh
doanh
đã
tồn
tại
lâu đời như chính thương mại vậy. Từ
khoảng
1700 TCN, bộ
luật
Hamburami
trong
các
hoạt
động
kinh
doanh.
Tuy
nhiên
với
tư cách là một khái
niệm
mang
tính hàn lâm, đạo đức
kinh
doanh cũng
chi
là một khái
niệm
mới tôn
tại
được
khoảng
bốn
chục
năm
lại
đây,
được
đề cập đầu tiên
trong
các nhà lãnh đạo.
giợa
nhợng người
lao
động, người
tiêu
dùng
và
sau
đó
lan rộng ra
toàn
thế
giới.
Cũng
giống
như đạo
đức,
không
phải
tát cà
nhợng
nhà nghiên
cứu.
các tác
già đều có
chung quan
diêm về đạo đức
kinh
doanh. Theo
nghiệp
có
thề
đảm
bào trách
nhiệm
của
minh đối
với
các
đối
tác xã
hội
và
đối
tác
tải
chính
cũng
như
đối với
xã
hội."
Theo
giáo trình Văn hóa
kinh
doanh
của tác
giả
Dương Thị Bích
trung
thực;
tôn
trọng
con
người;
gắn
lểi
ích của
doanh
nghiệp
với
lểi
ích của khách hàng và xã
hội,
coi
trọng hiệu
quà gắn
với
trách
nhiệm
xã
hội;
bí mật và
trung
thành
với
các
trách
nhiệm
cư,
đôi
tác,
đối
thủ )
sử dụng đê phán
xét
một hành động cụ
thê là
đúng hay
sai,
hợp đạo đức hay
phi
đạo
đức''
[4, tr
18]
Đe
hiểu
đơn giàn
theo
giới
hạn của bài khóa
luận
, người
viết
xin
đưa
ra
khái
phải
tuân
theo
những
chuẩn
mực đạo đức nói
chung
đã đưểc xã
hội thừa
nhận
và
phải
phù hểp
với
những
đạo lý dân
tộc.
1.3.
Phân
biệt
đạo đức kinh doanh
với
trách
nhiệm xã hội của doanh
nghiệp,
1.3.1.
Khái
niệm
về trách
nhiệm
nghiệp.
Người
ta
nhác
tới
CSR
không
chi
là
"điều
đúng đắn cần làm
"
mà
còn
là
"điều
khôn ngoan nên làm
"
[43]
Đã
có
rát
nhiều
định
nghĩa
khác
nhau
của các
nhà
nghiên cứu trên
Sethi
năm
1975.
[43]
-
Hay
định
nghĩa
của
nhà
kinh
tế
Archie.B
Carroll
đưa
ra
vào năm
1979:
"Trách
nhiệm
xã
hội
của
doanh nghiệp
bao gôm sự
mong đợi
của xã
hội
vê
kinh
quyết
định
và
hoạt động
của nó
nhăm tạo
ra và cân
băng các
lợi
ích
khác nhau của những cá nhãn và
tô
chức
liên
quan
".
[47]
Còn
theo
định
nghĩa
cùa Nhóm phát
triển
kinh
tế
tư nhân
cùa
Ngân hàng
thế
giới,
và các
thành
viên gio đình họ,
cho
cộng đông
và
toàn
xã
hội,
theo cách
có
lợi
cho cà
doanh
nghiệp cũng như
phát triền
chung của
xã
hội"
[
12]
Ì .3.2.
Trách
nhiệm
xã hội
chính
là sự
phát
triển
cao của đạo đức
chúng.
Báo
chí thưửng xuyên đăng
tải
những
sự
việc
liên
quan
đến các
doanh
nghiệp
mà
một số
ngưửi
gọi
là
vô TNXH và
phi
đạo đức.
Trên
thực
té có
rất nhiều
ngưửi
sử
dụng
đồng
nhất
hai
khi
đạo đức
kinh
doanh
đê
cập
đèn
những
quy
tắc
ứng
xử
về mặt
tồ
chức
của
doanh
nghiệp
làm cơ sơ
cho
việc
ra
quyết
định
trong
quan
hệ
kinh
doanh;
thi
này, khi
Milton
Friedman đại
diện
cho
quan niệm
cổ
điển
cho ràng trách
nhiệm
xã
hội
duy
nhát của ban lãnh
đạo
là
tầi
đa
hoa
lợi
nhuận,
ông đưa
ra tuyên
bầ nôi
tiêng
năm
1970
răng "'có
một
và
rõ
ràng
nhất
bằng
việc
phân
tích
kinh
tê
học
vi
mô.
Nêu
những
hành động
mang
tính trách
nhiệm
xã
hội
được
cộng
vào
chi
phí
thi
những
chi
phí đó có
thề
tinh
đến các
chi
phí
về
trách
nhiệm
xã
hội,
thì
khi
giá tăng
doanh
nghiệp
chắc chắn
sẽ mất
hết thị
trường,
doanh
sầ sẽ
giảm
và
hậu quả
là
lợi
nhuận
sẽ
giảm sút.
Ngoài
ra
hội
không
thể
chuyển những
chi phi
xã
hội
cao cho
nsười
tiêu dùng
và
hoàn toàn gánh
chịu cũng
đồng
nghĩa
với
việc
tỷ
lệ
thu hồi
vần
đầu tư sẽ
thấp.
Dần dần
những
dòng vần
đầu tư sẽ
rời
bỏ
những
thời
gian
những quan niệm
về
kinh
doanh
của
xã
hội
đã
thay
đổi.
Theo quan
điểm
cùa
trường phái
kinh
tế
xã
hội,
các
công
ty
không
phải
là
những
thực
thể tồn tại
độc
ủng
hộ
quan
điểm
kinh
tế
xã
hội
một tác
giả
đã
cho
rằng
"
tầi
đa hoa
lợi
nhuận
là ưu
tiên
thứ
hai
của công
ty
chứ không
phải
là
hàng
đầu. Điều
8
quan
tâm đèn trách
nhiệm
với
xã
hội.
Như
vậy
đê
bảo
đàm
sự
sống
còn cho công
ty,
trước
hét họ cân
phải thực hiện
nhũng nghĩa
vụ
đối với
xã
hội
và
chấp nhận những
chi
phí
cho những
điêu đó.
Cụ
trong
việc
cải tạo
xã
hội
bang
cách hoa
nhập
với
cộng
đông
và
đóng góp cho
nhữna
tổ
chức từ
thiện
Như
vậy,
thực chất,
TNXH có
nghĩa
là
doanh
nghiệp
cần
phải:
Giữ
gìn và
phát
lãnh
đạo;
vì
lợi
ích
cộng đồng.
Tóm
lại,
TNXH
tập
trung
vào
đóng
góp cùa
doanh
nghiệp
cho
sự
phát
triển
bên
vững
của
xã
hội,
và
coi
điêu
đó
cũng
chỉ
là
những
nguyên
tắc
và
chuẩn
mực
hướng
dẫn hành
vi
của
doanh
nghiệp,
và
nhiều khi
tinh
đúng
sai
của
các
nguyên tác
này còn
không
rõ
ràng.
nó
phụ
thuộc
rát nhiêu
quan
nhất
định
chua
chắc
dã
là
có
lợi
cho đôi
tượng
khác,
và
dóng
góp
tích cực cho sự phát
triển
kinh
tế
bền
vững
của
cộng
đồng
xã
hội.
Vì
thê.
có
thể
các
đối tượng
hữu
quan
khác
nhau
và đặc
biệt
là
đặt
mục
tiêu phát
triển
bên
vững
của
xã
hội
lên
hàng
dầu;
thì lúc
đó
doanh
nghiệp
đã hoàn thành
THXH
của
minh.
Chúng
2.
Lịch
sử hình thành và phát
triển
của đạo đức
kinh
doanh
Chê độ xã
hội
loài
người
đầu tiên là công xã nguyên
thủy.
Lúc này. đạo đức
con
người
thể hiện
dưới
hình
thức
tôn giáo hay
tục
lệ,
và chỉ
lấy
tinh
thần
"'cộng
đông"
đê làm nên
mức hét sức
hoang
sơ, nhưng chế độ xã
hội
này
nhấn
mạnh
tính
thuần
phác, ngây
thơ
trong
đạo đức con
người
nguyên
thủy.
Khoảng
4 nghìn năm trước Công nguyên,
kinh
tế xã
hội
đã
bắt
đầu có sự
phân công
lao
động
ra
3 ngành
nghề
kinh
doanh
ra đời.
Nhân
loại
bước
sang
một
thời
kì mới,
quan
hệ con
người
trở
nên đa
dạng
hơn
khi nhiều
chú
thể
xã
hội
mới được
sinh ra.
Chính
việc kinh
doanh
thương mại đã
buộc
nhiều
tín
điều
của tôn giáo.
Trong
thực
tiễn,
hoạt
động
kinh
doanh
đã
vi
phạm đạo đức
nghiệm
trọng
do các chù nô
coi
người
lao
động,
người
phụ
nậ là hàng hóa có
thể
trao
đôi mua bán và bóc
lột.
Trong
thời
kì
hạng
thấp
nhất
vì nó có vân đè vê đạo
đức,
do nhà
kinh
doanh
thường buôn
gian
bán
lận.
Nhậng tư
lường
đạo đức
kinh
doanh
vẫn được
thế hiện trong
các
triết
lý của tôn giáo và hành
vi
đạo đức
kinh
doanh
được
điều
chỉnh
thông qua các
hình thái
kinh
tê,
thay
dôi tùy
theo
từng
vùng dân cư lãnh thô.
từng
đặc
điểm
địa
phương. Lân
theo
sự phát
triển
lịch
sử của phạm trù đạo đức
kinh
doanh cũng
chinh
là
việc
nhìn
lại
những
khái
niệm
đạo đức
theo
đậng mật mức
tiền
công
tối thiều,
mức
thu
nhập
đù đế đảm bảo cho
việc
tái sản
xuất
sức
lao
đậng.
Tới những
năm
1950,
vấn đề
vê đạo đức
kinh
doanh
tiếp
tục
được
quan
tâm hơn
khi
trách
nhiệm
về môi trường
xứng
đáng,
điều
kiện lao
đậng
hợp
lý.
Nhiều
nhà lý
luận
tiêu
biểu
đã
nhấn
mạnh
các vấn đề đạo đức
trong
hoạt
đậng
kinh
doanh,
khích
lậ
mọi
người
tiêt
kiệm,
chăm chí và nỗ
lực.
Những
ra
môi trường
sống,
tông
thông Mỹ đưa
ra
"Consumers' BUI of
Rights"
(Tuyên bô vê Quyên của
người
tiêu
dùng).
Sau đó
phong
trào
người
tiêu dùng nở
rậ
với việc
mật
loạt
điều
luật
bảo vệ
người
tiêu dùng được thông qua như "Đạo
luật
về
thực
phàm tươi
bắt
đầu
trờ
thành mật
lĩnh
vực
khoa
học
mới.
Từ
đó,
các trường
đại
học
bắt
đầu
viết
sách và
giảng
dạy
những
vấn
đề liên
quan
đến trách
nhiệm
xã
hậi
của
doanh
kinh
doanh cũng
trờ
11
thành chù đê được
quan
tâm thường xuyên ở
nhiều
công ty lớn như OE, GM,
Caterpillar,
Năm 1986,
mười
tám chủ
thầu
trong
lĩnh
vực
quốc
phòng đã cùng
nhau
biên
soạn
'~Defence Industry
ôn
Business Ethics
and Conduct" (Sáng
kiến
về
hành
vi
nhất
là
những
vấn đề đạo đức
trong kinh
doanh
được nghiên cứu
từ
nhiều
góc độ khác
nhau
từ
pháp
lý,
triết
hặc,
đến các lý
luận
về
khoa
hặc xã
hội,
quàn
lý
Việc
nghiên cứu
vê đạo đức
kinh
doanh
không
hành đạo đức
trong kinh
doanh
có xu
thế
hướng
tới
xây
dựng
bản sắc văn hóa và sự đồng
thuận
trong
tổ
chức.
Nhiều
tổ
chức
đêu
nhận ra
răng các chương trình dạo đức
kinh
doanh
sẽ góp phân
quan
trặng
vào
sự
thành công của công
việc kinh
doanh.
kinh
doanh
dưới
góc độ
của
nhà
quản
lý
doanh
nghiệp
trong
mối
quan
hệ
với
các
đối
tượng
hữu
quan
Đối
tượng
hữu
quan
là các định chế
tồn
tại
ờ môi trường bên ngoài
doanh
nghiệp,
mình,
những
nhóm
đối
tượng
này có
thề
gây
áp
lực trờ
lại
doanh
nghiệp.
Nói một cách khác hặ là
những người
có mối
quan
tâm
hoặc
có
thể
bị ảnh
hường,
trực
tiếp
hoặc
gián
tiếp,
bời
một
và
phương pháp
hoạt
động của
doanh
nghiệp.
Ví
dụ,
có
thể
kể ra
những
nhóm dối
lượng
có ảnh hường đến
quyết
định và
hoạt
động của công ty SPC
(Shepparton
Preservation
Company) đó là
những
người
trồng
rau quả.
nhân viên của công
ty,
các
công
quan
hệ
với
doanh
nghiệp,
đây là
tt
cả
những
đối
tượng bao gồm cả bên
trong
lẫn
bên ngoài
doanh
nghiệp, tát
cả đều có ảnh hường đến cách
thức
và phương pháp
hoạt
động cùa
doanh
nghiệp.
Hình
1.
Các
đối
tượng có liên
quan
đến
Nhà em? cáp Ị
Hiệp
liội
kiiili
Đòi
thù
Các nhõm
hoạt
doanh
và
Ii£3iih
cạnh
ti.inh
đông xa
hội
Tniyêii thòm Còng đoàn
Hình 2: Các nhóm
đối
tượng hữu
quan
[37]
3. /
Đôi
với
người
lao
động- nhân
viên
Đôi
với
ta
sẽ
xem xét dạo đức
kinh
doanh
dược thê
hiện
như thê nào
trong việc
bảo đảm
quyền
lợi
một cách bình đẳng và
xứng
dáng
đối với
người
lao
động.
3.1.1.
Sổ cân thiêt của
việc
bảo đảm quyên dãi ngộ
binh
dăng và
xứng
đáng
trong
bổ
nhiệm,
nhau.
Sổ
phân
biệt
xảy
ra
có
thể là
vì
chủng
tộc, giới
tính.
tôn
giáo,
địa
phương, vùng văn hóa.
tuồi
tác hay
thể chất.
Trên
thế
giới,
vấn đề đãi ngộ bình đẳng cho
người
lao
động đã được
thể
chế
hóa thành
luật
sử
dụng,
14
đãi
ngộ,
thăng
tiến,
và sa
thải
người
lao
động
-
thì
phải
thực
hiện hết
sức công
bằng
và bình đăng dựa vào
những
yếu
tố
như năng
lực,
kỹ năng.
kinh
nghiệm
và
những
tố
chức.
Tuy
nhiên,
luật
cũng
ngăn
chặn
việc
doanh
nghiệp
đối
xử
với
người
lao
động một cách
bất
hợp lý và
thiếu
công
bằng.
Tất
cả các
doanh
nghiệp
phải
biết
quan
tâm đến
sức sử
dụng
chất
xám cùa nhân viên nhưng
không đãi ngộ
xứng
đáng
với
công sức đóng góp cùa họ
hoặc
không có
giải
pháp
giúp họ tái
tạo
sức
lao
động của mình là
điều
hoàn toàn đi ngược
lại với
đạo đức
kinh
doanh,
với
trách
nhiệm
xã
hội
cùa
ra.
doanh
nghiệp
không được phân
biệt
đối xứ, từ chối
hoặc
trà lương
tháp
giữa
người
bình thường và
người
bị khiêm khuyêt vê mặt cơ thê
hoặc
quá khứ
của họ.
Những quyên cơ bản của
người
lao
động cân được bảo vệ là quyên được
sông và làm
việc,
và quyên có cơ
hội lao
động như
nhau.
Việc
sa
thải
và sử
dụng
người
lao
dộng
là
phải
tôn
trọng
quyền
riêng tư cá nhân của
họ.
Việc
nắm thông
tin
về
nhân viên của công
ty
về cơ bản là nham xác
minh
điều
kiện
về năng
lực
và
trạng
thái
thể
chất
của
chức
công
ty
tiến
hành xác
minh,
điều
tra.
xét
nghiệm;
có
thể
thông qua các phương
tiện
kỹ thuật hiện đại
đề giám
sát.
theo
dõi hàng ngày. Tuy nhiên,
việc
thường xuyên
giám sát có
thể
gây áp
lực
tâm lý
bất lợi
cho
người
lao
dụng
thông
tin
về các
cá
nhân càng khó
có
thể chấp nhận
được
vê
mặt đạo đức nêu
những
thông
tin
thu
thập
được không
phục
vụ
cho công
việc
hoặc thậm
chí có
thể
bị lạm
dụng
vào các
mục
đích không liên
quan.
thu
thập
thông
tin
và mục
đích sử
dụng
thông
tin
thu
thập
được cỉa
người
quàn
lý.
Công
ty
cần
phải
đảm
bảo
tính an toàn cho
người
lao
động,
vì đây không
chỉ
là một yêu cầu pháp lý
mà
còn là
trường hợp
các
công
việc
nguy hiếm
được
nhận
thức
đầy
đỉ và
được
người lao
động tự
nguyện chấp nhận,
luật
pháp
cũng buộc
các
tố chức,
công
ty
phải
đảm
bảo
trả
mức
lương tương
xứng
với
mức độ
dược ấn hành vào tháng
7
năm 2007
thay
thế
cho
OHSAS
18001:1999,
và
được
áp
dụng
để
chú
trọng
đến
an
toàn sức
khỏe nghề
nghiệp
hơn
là
an
toàn sản phàm.
OHSAS
cung
cấp khuôn khổ
đế
quản
lý
sự an toàn vê sức
khỏe
và
sinh
mạng
cỉa
người lao
động,
vấn đề an toàn
lao
động thường được sử
dụng
đề chì các hoàn
cảnh,
tình
trạng
nguy hiểm
hay có
hại đối với
sức
khỏe
cùa
người lao
động
mà
hậu
quả
cỉa chúng thường
xuất
hiện
theo
ý
muốn cỉa mình.
Trong
khi
đó, năng
lực
thích
nghi
cùa mỗi
người
lại
không
giống
nhau
và có
hạn.
Hậu quả có
thể
là
những
tai
nạn
bất
ngờ
hoặc
16
là
những
ảnh hường
động hợp
lý.
Doanh
nghiệp
cần
phải
nhận
thức
đúng đắn về tam
quan
trọng phải
có được một môi trường an toàn và
sạch
sẽ.
Chố
khi
được đàm bảo an toàn về mặt
thể
chất
và
tinh
thần
thì
người
lao
động mới
phát huy
tối
đa năng
lực
tập
huân vê an toàn
lao
động và các vấn đề liên
quan.
Hiện
nay,
hâu
hết
các
doanh
nghiệp
đều có nhà xưởng được
trang
bị hệ
thống
thoát
khi,
ánh sáng
đảm
bảo,
nhà
tắm,
phòng
thay
quần
áo
tiện
nghi
nhiều
đến sức
khỏe
người
lao
động. Doanh
nghiệp
cần phải
cung
cấp các thông
tin
liên
quan,
hạn chế các
biện
pháp ép
buộc
những
người
lao
động có đặc
điểm
cá
biệt
về
thể
chất
hay tâm
sinh
lý (ví dụ
thể lực, chiều
gia
đinh nôn ít có
thời
gian
dành cho học
tập.
nàng cao trình độ
chuyên môn,
nghiệp
vụ.
Bên
cạnh
đó, việc
ô
nhiễm
môi trường
bởi bụi
khói,
tiếng
ồn,
hơi khí
độc,
bệnh
nghề
nghiệp
cũng
ảnh hường
rất lớn
đến sức
khỏe
tin
mới
liên
quan
đến
những
tai
nạn, rủi
ro
nghề
nghiệp
để thông báo và
phối
hợp
với
người
lao
động
trong việc
phòng
ngừa.
UJ
Q $$2Ậ__
3.2.
Đối
với
khách hàng 1 ỈUƠÌỮ '
Khách hàng là một
trong
những
thể hiện
nhu
17
câu,
làm phát
sinh
nhu
cầu.
họ
cũng
là
người
đánh giá
chất
lượng
sàn phàm hay
dịch
vụ,
là nguôn tái
tạo
và phát
triển
khả năng tài chính cho
doanh
nghiệp.
Do
vậy,
có
thê khăng định mọi
hoạt
người
viết
sẽ dưa
ra
một số
những
biểu hiện
chính
thể hiện
đạo đức
kinh
doanh
của
doanh
nghiệp đối
với
khách hàng.
3.2.1.
Nguyên tác
cung
cấp thông
tin
trung thực
về sàn phẩm
Có
thể thấy
sự
bất
cân
xứng
thức
hạn hẹp về sản phẩm. Họ
rất
dễ phải
là
người
chịu
thiệt
thòi
trong
việc
mua hàng và thường bị các công cụ
marketing chi phối trong
các
quyết
định mua
hàns.
Thông
tin
bất
cân
xứng
là
việc
các bên
tham
gia giao
dịch
cố tình che đậy thông
tin.
hình ảnh
tinh vi.
Việc
dán nhãn mác
cũng
có
thể
gây
ra
những
vấn đề đạo đức khó
nhận
biết.
Những thông
tin
trên nhãn mác đôi
khi
không giúp ích khách hàng
trong
việc
lựa
chọn
hay sử
dụng,
hoặc
không đánh giá
nội
dung
bên
trong
cho các hành
vi lừa gạt
do khách
hàng có sự
nhận
biết
sai lệch
hoặc
thiếu
thông
tin.
Chính thông
tin
không chính xác
có
thể
làm mất đi sự
tin
cậy
của
người
tiêu dùng
đối với tố
chức.
Ngoài
ra
sự
lừa gạt
hay gian dối trong kinh
doanh
lượng
tốt
và
loại
chất
lượng
kém. Cũng
giả
định giá thành một xe
Trung
Quốc
chất
lượng
tốt
là 700
đô
la,
trong khi
xe
chất
lượng
kém
chỉ
có 300 đô
la.
Thực
tế,
người
bán
biết