Một số giải pháp xây dựng rào cản đối với hàng nhập khẩu qua thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014-2020 - Pdf 29

1

LỜI MỞ ĐẦU
1. GIỚI THIỆU
Đặt vấn đề
Kể từ ngày nước ta thực hiện chính sách mở cửa kinh tế, trong nước nhiều thành
phần kinh tế được thành lập, bên cạnh đó, làn sóng các nhà đầu tư nước ngoài vào đầu
tư vào Việt Nam cũng tăng nhanh. Trong giai đoạn đầu, hầu hết các nhà đầu tư đều đầu
tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, máy móc, nhà xưởng để hoạt động sản xuất nhằm tạo
ra sản phẩm. Nhà nước khuyến khích với nhà đầu tư trong nước sản xuất sản phẩm đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng, sử dụng trong nước; khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài
sản xuất sản phẩm phục vụ xuất khẩu. Trên thực tế, phần lớn các doanh nghiệp, kể cả
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều hướng vào thay thế nhập khẩu hơn là
hướng vào xuất khẩu, chạy đua lợi nhuận trước mắt hơn là có chiến lược lâu dài dẫn
đến chất lượng, mẫu mã, màu sắc hàng hóa kém cạnh tranh so với hàng ngoại nhập.
Trong những năm gần đây, bạn bè quốc tế đã bắt đầu chú ý tới hình ảnh một Việt
Nam mới mẻ, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế toàn cầu. Một trong những cột
mốc đáng nhớ trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, đó là ngày
11/01/2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới
(WTO). Chính điều này đã buộc Việt Nam mở cửa hơn nữa kinh tế và tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam, nó như là một xu thế khách quan, một
nhu cầu tất yếu với những lợi ích không thể phủ nhận. Tuy nhiên, nó cũng mang lại
không ít khó khăn, đặc biệt là đối với những nền kinh tế còn non trẻ, sức cạnh tranh
của các nền sản xuất trong nước còn kém. Vì vậy, hàng hóa của nước ngoài thâm nhập
vào thị trường Việt Nam ngày càng nhiều, đa dạng về chủng loại, chất lượng, giá cả,
trong đó không thiếu những hàng hóa làm mất niềm tin và ảnh hưởng đến nhà sản xuất,
người tiêu dùng Việt Nam. Đặc biệt, khi tình hình kinh tế, chính trị thế giới bất ổn,
nguy cơ chiến tranh xảy ra tại nhiều nước thì Việt Nam được xem là điểm đến lý tưởng
để đầu tư. Bên cạnh những nhà đầu tư có uy tín, có trách nhiệm, tha thiết đầu tư tại
2


là 137 dự án). Tuy nhiên, một số doanh nghiệp FDI có dấu hiệu chuyển giá để trốn
thuế thể hiện qua việc báo lỗ như: Cty TNHH Freetrend Industriala Việt Nam với mức
lỗ trên 2 năm là 222 tỷ đồng, Metro 11 năm chưa có lãi, Cô ca cô la liên tục lỗ… là
tình trạng đáng báo động.
Khuyến khích các nhà đầu tư trong nước phát triển sản xuất, ủng hộ các nhà đầu
tư nước ngoài phục vụ phát triển đất nước là một nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết trên cơ
sở tôn trọng luật pháp quốc tế, những điều cam kết WTO, đòi hỏi phải có một chính
sách hợp lý, đúng đắn, và linh hoạt. Một trong những chính sách đó là công khai minh
bạch, cụ thể hóa thủ tục hành chính, thủ tục cấp phép … và xây dựng rào cản trong
hoạt động nhập khẩu. Vấn đề khó khăn đối với các nhà hoạch định chính sách là làm
thế nào để có thể thực hiện tốt các rào cản đối với hàng nhập khẩu mà không vi phạm
các cam kết về tự do hoá thương mại của WTO.
Chính vì lý do trên nên tác giả chọn tên luận văn là “Một số giải pháp xây dựng
rào cản đối với hàng nhập khẩu qua thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn
2014-2020” để thực hiện luận văn tốt nghiệp cao học.
2. MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu của luận văn
Trên cơ sở trình bày thực trạng hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp trên địa
bàn TP.HCM, tìm hiểu về những rào cản Việt Nam hiện đang áp dụng đối với họat
động nhập khẩu và đề xuất một số giải pháp về việc xây dựng rào cản đối với hoạt
động nhập khẩu trong bối cảnh Việt Nam phải thực hiện các cam kết quốc tế đối với
hàng nhập khẩu.
Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu trên cần giải quyết các vấn đề sau:
- Trình bày một số rào cản trong hoạt động nhập khẩu tại Việt Nam.
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị xây dựng rào cản đối với hàng nhập khẩu.
4

- Thực trạng hoạt động nhập khẩu của các doanh nghiệp trên địa bàn TP.HCM.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

1.1.1.1. Nhập khẩu
- Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước
ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải
quan riêng theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, nhà nhập khẩu phải chuyển ngoại
tệ ra nước ngoài để thanh toán cho nhà xuất khẩu.
- Quyền nhập khẩu là quyền được nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài vào Việt
Nam để bán cho thương nhân có quyền phân phối hàng hoá đó tại Việt Nam; bao gồm
quyền đứng tên trên tờ khai hàng hoá nhập khẩu để thực hiện và chịu trách nhiệm về
các thủ tục liên quan đến nhập khẩu. Quyền nhập khẩu không bao gồm quyền tổ chức
hoặc tham gia hệ thống phân phối hàng hoá tại Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật
Việt Nam hoặc Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên có quy định khác.
- Doanh nghiệp FDI hoạt động nhập khẩu được xem như là việc nhà đầu tư nước
ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt
động nhập khẩu các hàng hóa được pháp luật Việt Nam cho phép.
- Qui trình hoạt động nhập khẩu: Phù hợp với phạm vi hoạt động quyền nhập
khẩu quy định tại Điều 3.4 Nghị định 23/2007/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 12/02/2007
và Điểm 3.1 Thông tư số 05/2008/TT-BCT của Bộ Công Thương ngày 14/04/2008.
Quy trình thực hiện thủ tục nhập khẩu hàng hóa như sau:
Trước khi hàng về đến Việt Nam, dù bằng đường không hay đường biển cũng sẽ
có giấy báo (Arrival Notice) thông báo cho nhà nhập khẩu biết về chi tiết lô hàng, thời
gian, địa điểm mà hàng sẽ về đến Việt Nam kèm theo việc yêu cầu đến nhận hàng. Nhà
6

nhập khẩu sẽ thực hiện các yêu cầu và chuẩn bị hồ sơ như nội dung yêu cầu trong Giấy
báo hàng đến để nhận lệnh giao hàng và thanh toán các chi phí (nếu có)
Các chứng từ cần thiết để nhận hàng là lệnh giao hàng (D/O : Delivery Order)
cũng được ghi chú rõ trong giấy báo (tàu) đến. Khi nhận được D/O, nhà nhập khẩu
mang nó cùng một số chứng từ khác như hợp đồng (Contract), Hóa đơn thương mại
(commercial Invoice), Bảng kê chi tiết hàng hóa (Packing List), Giấy Chứng nhận xuất

chi phí bảo hiểm… Chi phí kinh doanh của ta còn cao, do đó tỷ suất lợi nhuận hạn chế,
lợi nhuận thấp, doanh nghiệp không có động lực để phát triển đòi hỏi doanh nghiệp
phải có kế hoạch, định hướng và nhạy bén trong kinh doanh.
- Nhập khẩu hàng tiêu dùng để phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng: nhu cầu
tiêu dùng trong nước luôn ở mức cao với các mặt hàng trong nước chưa sản xuất
được (hoặc sản xuất chưa đáp ứng được nhu cầu chất lượng, mẫu mã, giá cả …) như:
xăng dầu, phân bón, máy móc thiết bị, xe cộ nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng tiêu
dùng này còn xuất phát xu hướng chuộng hàng ngoại hơn hàng nội.
- Nhập khẩu hàng hoá để phục vụ triển lãm, hội chợ: hàng hóa nhập vào để tham
gia các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm quảng bá, quảng cáo và khuếch trương
sản phẩm đến với người tiêu dùng.
- Nhập khẩu hàng hóa, máy móc, thiết bị từ nước ngoài để thực hiện các dự án
trong nước: Nhiều dự án tại Việt Nam đòi hỏi trình độ máy móc, phương tiện kỹ
thuật cao hoặc đồng bộ hệ thống nên phải nhập hàng hóa ở nước ngoài về, phần đông
các dự án này do các đối tác nước ngoài như Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Nga…
trúng thầu đã nhập khẩu một lượng lớn máy móc, thiết bị từ các nước này vào Việt
Nam để thực hiện dự án.
- Nhập khẩu hàng hóa để gia công (tạm nhập tái xuất): là việc các doanh nghiệp
8

nhập khẩu các hàng hóa từ nước ngoài vào Việt Nam để hoàn thành các công đoạn
nào đó theo hợp đồng sau đó xuất khẩu hàng hóa đó ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.
1.1.2. Những hoạt động liên quan đến nhập khẩu
1.1.2.1. Nguyên nhân thúc đẩy hoạt động nhập khẩu
Xuất phát từ nhu cầu, lợi ích con người trong sản xuất, tiêu dùng, vui chơi, giải
trí nhằm tìm kiếm những nguồn nguyên liệu, hàng hóa, trang thiết bị, máy móc phục
vụ sản xuất, giao thương, tiêu dùng mà các nhà đầu tư tham gia vào hoạt động nhập
khẩu. Thông thường các nhà đầu tư nhập khẩu những thứ mà họ chưa có, hoặc nhập
khẩu những thứ mà bên ngoài ưu việt hơn thứ mà họ có về giá cả, chất lượng, màu
sắc, …Trong những năm gần đây, hoạt động nhập khẩu diễn ra mạnh mẽ do những

chịu trách nhiệm nếu hoạt động đó thua lỗ. Khi nhập khẩu tự doanh thì doanh nghiệp
được trích kim ngạch nhập khẩu, khi tiêu thụ hàng nhập khẩu doanh nghiệp phải chịu
thuế doanh thu, thuế lợi tức. Nhập khẩu trực tiếp, doanh nghiệp chỉ cần lập một hợp
đồng nhập khẩu với nước ngoài, sau khi hàng về nước sẽ lập hợp đồng tiêu thụ hàng
hoá trong nước.
- Nhập khẩu uỷ thác: là hoạt động nhập khẩu hình thành giữa một doanh nghiệp
hoạt động trong nước có ngành hàng kinh doanh một số mặt hàng nhập khẩu nhưng
không đủ điều kiện về khả năng tài chính, về đối tác kinh doanh nên đã uỷ thác cho
doanh nghiệp có chức năng trực tiếp giao dịch ngoại thương tiến hành nhập khẩu hàng
hoá theo yêu cầu của mình. Bên nhận uỷ thác phải tiến hành đàm phán với nước ngoài
để làm thủ tục nhập khẩu theo yêu cầu của bên uỷ thác và được hưởng một hoa hồng
gọi là phí uỷ thác. Quan hệ giữa doanh nghiệp uỷ thác và doanh nghiệp nhận uỷ thác
được quy định đầy đủ trong hợp đồng uỷ thác. Nhập khẩu uỷ thác, doanh nghiệp Xuất
nhập khẩu (nhận uỷ thác) không phải bỏ vốn, không phải xin hạn ngạch (nếu có),
không phải nghiên cứu thị trường tiêu thụ vì không phải tiêu thụ hàng nhập mà chỉ
đứng ra đại diện cho bên uỷ thác để giao dịch với bạn hàng nước ngoài, ký hợp đồng
và làm thủ tục nhập hàng cũng như thay mặt cho bên uỷ thác khiếu nại đòi bồi thường
10

với nước ngoài khi có tổn thất. Khi tiến hành nhập khẩu uỷ thác thì đại diện của các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu chỉ được tính kim ngạch xuất nhập khẩu chứ không được
tính doanh số, không chịu thuế doanh thu. Khi nhận uỷ thác, các doanh nghiệp xuất
nhập khẩu này (nhận uỷ thác) phải lập hai hợp đồng: Một hợp đồng mua bán hàng hoá
với nước ngoài và một hợp đồng nhận uỷ thác với bên uỷ thác.
- Nhập khẩu liên doanh: Đây là một hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên
kết kỹ thuật một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp (trong đó có ít nhất một doanh
nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp) nhằm phối hợp kỹ năng, kỹ thuật để cùng giao dịch và
đề ra các chủ trương biện pháp có liên quan đến hoạt động nhập khẩu, thúc đẩy hoạt
động này phát triển theo hướng có lợi nhất cho cả hai bên, cùng chia lãi nếu lỗ thì cùng
phải chịu. Nhập khẩu liên doanh thì các doanh nghiệp nhập khẩu liên doanh ít chịu rủi

với cách thức có thể gây ra phân biệt đối xử một cách tùy tiện hoặc không thể biện
minh được giữa các nước, trong các điều kiện giống nhau, hoặc tạo ra các hạn chế trá
hình đối với thương mại quốc tế, hay nói cách khác phải phù hợp với các quy định của
Hiệp định này”.
Trong thực tế, các nhà khoa học có rất nhiều định nghĩa khác nhau về rào cản
thương mại. Song, nhìn chung, rào cản thương mại theo cách hiểu chung nhất là bất kỳ
biện pháp hay hành động nào gây cản trở đối với thương mại quốc tế, là những quy
định thuế quan, ngoài thuế quan, hay một chính sách phân biệt nào đó mà một nước
hay một vùng lãnh thổ áp dụng, với mục đích hạn chế hoặc ngăn cản thương mại quốc
tế. Nó gồm áp đặt thuế suất nhập khẩu cao đối với một số mặt hàng nhập khẩu, hay áp
dụng nâng cao một số tiêu chuẩn thuộc các lĩnh vực như chất lượng, vệ sinh, an toàn,
lao động, môi trường, xuất xứ, v.v bao gồm tất cả các biện pháp được thực hiện ở biên
giới, nhằm hạn chế việc hàng hóa nước khác thâm nhập vào thị trường và các thủ tục
này tạo thuận lợi cho hàng hóa trong nước như một hình thức bảo hộ.
12

1.2.2. Rào cản đối với hàng hóa nhập khẩu
Hiện nay hàng hóa nhập khẩu của doanh nghiệp trong nước lẫn doanh nghiệp FDI
nhìn chung đều chịu những rào cản thương mại như nhau, tuy nhiên mức độ và tính
chất khác nhau. Rào cản thương mại bao gồm hai nhóm rào cản lớn đó là: rào cản thuế
quan và rào cản phi thuế quan:
1.2.2.1. Hàng rào thuế quan (Tariff Barriers)
Thuế quan được áp dụng trước hết là nhằm mục đích tăng thu ngân sách cho
chính phủ, sau đó là vì những mục đích khác như ngăn chặn hàng nhập khẩu và bảo vệ
hàng trong nước, trả đũa một quốc gia khác, bảo vệ một ngành sản xuất quan trọng hay
còn non trẻ của nước mình. Như vậy, thuế quan là một trong những rào cản thương mại
phổ biến nhất trong thương mại quốc tế nên trong hầu hết các vòng đàm phán thương
mại đa biên và song phương đều nổi lên chủ đề về cắt giảm thuế quan để đẩy nhanh
quá trình tự do hóa thương mại. Các quy định của WTO không đề cập một cách cụ thể
rằng các nước phải ràng buộc loại thuế nào vì trong thực tiễn thương mại quốc tế có rất

Thông qua các vòng đàm phán, WTO luôn hướng mục tiêu cắt giảm thuế quan.
Các nước thành viên không được phép tăng thuế lên trên mức trần đã cam kết trong
biểu. Qua tám vòng đàm phán trong khuôn khổ GATT trước đây, đặc biệt là sau vòng
Uruguay, thuế công nghiệp bình quân của các nước phát triển được giảm xuống 3,8%,
các nước này cũng đồng ý cắt giảm 36% mức thuế công nghiệp. Riêng các nước đang
phát triển đồng ý cắt giảm 24% thuế nông nghiệp.
+ Thuế đối kháng hay còn gọi là thuế chống trợ cấp xuất khẩu: đây là một
khoản thuế đặc biệt đánh vào các sản phẩm nhập khẩu để bù lại việc nhà sản xuất và
xuất khẩu sản phẩm đó được Chính phủ nước xuất khẩu trợ cấp.
+ Thuế chống bán phá giá: là một loại thuế quan đặc biệt được áp dụng để
ngăn chặn và đối phó với hàng nhập khẩu được bán phá giá vào thị trường nội địa tạo
ra sự cạnh tranh không lành mạnh.
14

. Điều 6 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT (hay còn gọi là
Hiệp định chống bán phá giá – ADP) định nghĩa: “Phá giá nghĩa là sản phẩm được đưa
ra bán ở một nước thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm ấy và ở sản phẩm được
xem là bán phá giá nếu giá xuất của sản phẩm ấy thấp hơn giá của sản phẩm tương tự
như thế được tiêu thụ ở thị trường nội địa trong điều kiện buôn bán thông thường”.
. Bán phá giá được xác định dựa vào 2 yếu tố cơ bản là: biên độ phá giá từ 2%
trở lên; số lượng, giá trị hàng hóa bán phá giá từ một nước vượt quá 3% tổng khối
lượng hàng nhập khẩu.
. Hành động phá giá sẽ bị coi là không hợp pháp nếu nó gây ra hay đe dọa gây
ra thiệt hại vật chất đối với một ngành kinh tế nội địa đã được kiến lập vững chắc, hay
ngăn cản một cách đáng kể việc thành lập một ngành kinh tế nội địa.
. Để bù đắp thiệt hại, các quốc gia có quyền đặt ra thuế chống phá giá đối với
bất kì sản phẩm bị bán phá giá nào. Mức thuế này không được lớn hơn biên độ phá giá
của sản phẩm tương ứng. Tuy vậy, trước khi áp dụng thuế chống phá giá, thành viên
muốn sử dụng biện pháp này phải tiến hành điều tra thiệt hại do hành động bán phá giá
gây ra đối với ngành kinh tế trong nước theo những quy định và thủ tục rất chặt chẽ.

khẩu từ các nước đang phát triển được các nước công nghiệp phát triển cho hưởng
GSP. Mức thuế này thấp hơn mức thuế tối huệ quốc.
- Thuế áp dụng đối với các khu vực thương mại tự do: đây là loại thuế có mức
thuế suất thấp nhất hoặc có thể bằng không đối với nhiều mặt hàng. Hiện tại có rất
nhiều khu vực tự do đã được hình thành và trong các hiệp định này là thuế suất rất thấp
hoặc bằng không (tức là ưu đãi về thuế rất cao).
- Các loại thuế quan ưu đãi khác: một số nước tham gia ký kết các hiệp định
chuyên ngành như hiệp định thương mại máy bay dân dụng, hiệp định thương mại các
sản phẩm dược, sản phẩm ô tô… cũng dành cho nhau các ưu đãi thuế quan đặc biệt đối
với các sản phẩm này.
16

Theo Hiệp định Nông nghiệp, các nước thành viên không được áp dụng các biện
pháp phi thuế quan đối với nông sản. Tất cả các biện pháp phi thuế quan cần phải được
thuế hóa. Thông thường với mức thuế hóa tại vòng đàm phán Uruguay thì mức nhập
khẩu nông sản hầu như không đáng kể.
1.2.2.2. Các hàng rào phi thuế quan (Non-Tariff Barriers)
Những rào cản thuế quan phải được thực hiện theo cam kết WTO, do đó chúng ta
tập trung nghiên cứu những rào cản phi thuế quan. Những rào cản phi thuế quan này đã
ảnh hưởng rất lớn đến nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam trong những năm gần đây.
Chính vì rào cản này mà sản lượng hàng hóa nhập khẩu vào được hạn chế, các doanh
nghiệp thì nản lòng trước hệ thống rào cản phức tạp, dẫn đến phải từ bỏ một thị trường
tiềm năng.
Các hàng rào này bao gồm: biện pháp cấm (cấm vận, cấm nhập khẩu, cấm xuất
khẩu), hạn ngạch, cấp phép, định giá hải quan, quy định về xuất xứ, quy định về kỹ
thuật, vệ sinh, nhãn mác, trợ cấp, chống bán phá giá, sở hữu trí tuệ, kiểm tra hàng hoá
trước khi xuống tàu, Trong đó, các biện pháp đang được sử dụng rộng rãi là:
- Biện pháp cấm: trong số các biện pháp cấm được sử dụng trong thực tiễn
thương mại quốc tế có các biện pháp như: cấm vận toàn diện, cấm vận từng phần, cấm
xuất khẩu hoặc nhập khẩu đối với một số hàng hóa nào đó, cấm phần lớn các doanh

hàng xuất khẩu và bị cấm sử dụng:
(1) Chương trình cung ứng tiền liên quan đến thưởng xuất khẩu, hoặc cung cấp
đầu vào với những điều kiện ưu đãi;
(2) Miễn thuế trực thu hoặc giảm thuế gián thu đối với sản phẩm xuất khẩu
vượt quá mức thuế đánh vào sản phẩm tương tự bán trong nước, hoặc hoàn lại thuế
nhập khẩu đối với những nguyên liệu đầu vào sản xuất hàng xuất khẩu quá mức;
(3) Chương trình bảo hiểm xuất khẩu với phí bảo hiểm không đủ trang trải chi
phí dài hạn của chương trình bảo hiểm;
18

(4) Tín dụng xuất khẩu thấp hơn đi vay của Chính phủ cũng coi như Nhà nước
trợ cấp cho xuất khẩu với lãi suất thấp.
+ Trợ cấp đèn vàng: là các loại trợ cấp được phép sử dụng, song cũng có thể bị
kiện hoặc áp dụng biện pháp đối kháng, đây là loại trợ cấp mang tính đặc thù, không
phổ biến, đối tượng nhận trợ cấp được giới hạn trong phạm vi: một doanh nghiệp hoặc
nhóm doanh nghiệp; một lĩnh vực công nghiệp hay một nhóm ngành công nghiệp; một
khu vực địa lý được định rõ nằm trong phạm vi quyền hạn của cơ quan thẩm quyền cấp
phép. Trợ cấp này được thực hiện nhưng chỉ dừng ở mức không gây tác động bất lợi
cho các thành viên, tác động bất lợi được nêu rõ trong Hiệp định gồm: ảnh hưởng
nghiêm trọng tới ngành sản xuất trong nước; làm vô hiệu hóa và suy yếu các ưu đãi
thuế quan đã đạt được trong đàm phán thương mại; làm tổn thất tới quyền lợi của nước
khác.
+ Trợ cấp đèn xanh: là loại trợ cấp được thực hiện mà không bị khiếu kiện, bao
gồm các loại sau:
(1) Hỗ trợ cho những hoạt động nghiên cứu phát triển (R&D) do công ty tiến
hành;
(2) Trợ cấp nhằm điều chỉnh những phương tiện sản xuất thích nghi với những
đòi hỏi về môi trường, miễn trợ cấp một lần, không lặp lại và giới hạn ở mức 20% chi
phí cho việc thích nghi đó;
(3) Hỗ trợ những ngành sản xuất nằm trong các vùng khó khăn. Vùng khó

có dự trữ tiền tệ quá ít, được áp dụng để đạt được một mức tăng hợp lý dự trữ tiền tệ.
+ Khi sử dụng hạn ngạch, các quốc gia thành viên phải thực hiện các yêu cầu
kèm theo:
. Thực hiện biện pháp này phải kèm theo việc hạn chế sản xuất hay tiêu
dùng trong nước.
20

. Cam kết không làm ảnh hưởng tới lợi ích của các nước thành viên
khác, đồng thời phải dần dần nới lỏng biện pháp này khi kinh tế đã hồi phục.
. Do tính pháp lý không cao và thời gian thông thường chỉ 1 năm trở lại,
nên khi tiến hành áp dụng biện pháp này, các quốc gia phải công bố thời gian cụ thể và
những thay đổi nếu có.
- Tự vệ trong thương mại: Trong thương mại quốc tế, biện pháp tự vệ là việc tạm
thời hạn chế nhập khẩu đối với một hoặc một số loại hàng hoá khi việc nhập khẩu
chúng tăng nhanh gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất
trong nước trong thời gian ngắn (thời hạn 4 năm, có thể gia hạn thêm 01 lần không quá
5 năm), tạo điều kiện cho ngành sản xuất đó nâng cao khả năng cạnh tranh. Các biện
pháp thường được áp dụng là: yêu cầu đối tác tự hạn chế xuất khẩu, tăng mức thuế
nhập khẩu, áp dụng hạn mức nhập khẩu, hoặc dùng các biện pháp phân biệt đối xử
khác.
Tuy nhiên, theo điều 2 Hiệp định Tự vệ của WTO, các thành viên có thể áp dụng
các biện pháp tự vệ đối với một sản phẩm không phân biệt xuất xứ khi thành viên này
đã xác định theo những quy định chặt chẽ rằng số lượng nhập khẩu đang tăng lên một
cách tuyệt đối hoặc tương đối của sản phẩm này đang gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt
hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước sản xuất những sản phẩm tương tự
hoặc cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm nhập khẩu đó. Sau đó các biện pháp tạm thời
hạn chế nhập khẩu giảm dần theo các năm. Mặt khác, các quốc gia áp dụng biện pháp
tự vệ phải bồi thường thiệt hại cho các thành viên khác do biện pháp tự vệ gây nên nếu
họ chứng minh được thiệt hại và yêu cầu bồi thường. Trong trường hợp không thỏa
thuận được mức bồi thường thì sau 03 năm các thành viên này có thể dùng biện pháp

điều kiện gì đối với người làm đơn xin giấy phép. Chế độ cấp giấy phép này chỉ mang
tính chất quản lý để điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu chứ không nhằm cản trở hoạt
động thương mại.
22

+ Thủ tục cấp giấy phép không tự động (có điều kiện). Giấy phép không tự
động là một loại văn bản cho phép được thực hiện khi người nhập khẩu đáp ứng được
một số điều kiện nhất định. Thực chất đây là một loại giấy phép được sử dụng cho mục
đích hạn chế nhập khẩu của Chính phủ, do vậy nó chủ yếu được áp dụng cho các hàng
hóa quản lý bằng hạn ngạch. Sử dụng các biện pháp cấp phép không tự động cũng dẫn
tới rào cản thương mại về thủ tục hành chính và chi phí tăng.
- Rào cản về Định giá hải quan: Định giá hải quan để tính thuế cũng có thể trở
thành một rào cản lớn với hoạt động thương mại. Ví dụ như quy định về áp giá tối
thiểu để tính thuế nhập khẩu. Chính vì vậy, Hiệp định về định giá hải quan của WTO
đã quy định các nguyên tắc cụ thể trong việc xác định giá trị tính thuế của hàng hoá,
bắt buộc các thành viên phải thực thi đúng và minh bạch.
- Rào cản về các quy định về kỹ thuật, vệ sinh, nhãn mác
Cùng với những nỗ lực giảm thuế và điều chỉnh các biện pháp phi thuế truyền
thống trong WTO, ngày càng xuất hiện nhiều hình thức rào cản thương mại mang tính
kỹ thuật như các quy định về vệ sinh, kỹ thuật, môi trường, nhãn mác sản phẩm. Đây là
phạm vi chứa đựng nhiều quy định khá phức tạp và hết sức chặt chẽ. Có một số hệ
thống áp dụng như:
+ Hiệp định về áp dụng các biện pháp Vệ sinh Kiểm dịch động thực vật SPS
của (WTO), gọi tắt là Hiệp định Vệ sinh Kiểm dịch động thực vật hay Hiệp định SPS,
được ban hành và có hiệu lực cùng với sự ra đời của Tổ chức WTO vào ngày
01/01/1995. Hiệp định liên quan đến sự áp dụng các quy định về an toàn vệ sinh thực
phẩm, thú y và bảo vệ thực vật.
. Mục đích cơ bản của Hiệp định SPS là duy trì quyền lợi tối cao của tất cả các
nước thành viên, đó là xây dựng mức bảo vệ sức khỏe và cuộc sống của con người,
động thực vật thích hợp, nhưng phải đảm bảo rằng các quyền lợi này không bị lạm

24

trường EU dễ dàng hơn nhiều so với hàng hóa của các doanh nghiệp không có giấy
chứng nhận này.
+ Hệ thống quản trị chất lượng ISO 9001:2000
Hệ thống này đã được trên 140 quốc gia áp dụng. ISO 9001:2000 đề cập chủ yếu
đến các lĩnh vực về chất lượng. Theo Tổ chức Phát triển công nghiệp của Liên hợp
quốc (UNIDO) các doanh nghiệp áp dụng hệ thống này sẽ:
. Đáp ứng được yêu cầu của khách hàng trong và ngoài nước.
. Nâng cao tinh thần làm việc và đoàn kết của nhân viên trong doanh nghiệp.
. Vượt qua rào cản trong thương mại quốc tế.
. Gia tăng thị phần, diện tích, lợi nhuận và phát triển bền vững.
Trong thực tế, sản phẩm của doanh nghiệp nào được cấp giấy chứng nhận phù
hợp với ISO 9001:2000 sẽ dễ dàng thâm nhập thị trường các nước phát triển.
+ Hệ thống quản trị môi trường ISO 14000
Được xây dựng nhằm thiết lập hệ thống quản lý môi trường và cung cấp các công
cụ hỗ trợ có liên quan cho các tổ chức hoặc doanh nghiệp để quản lý sự tác động của
các hoạt động, sản phẩm hoặc dịch vụ của họ đối với môi trường, ngăn ngừa ô nhiễm
và liên tục cải thiện môi trường. Bộ ISO 14000 đề cập các vấn đề sau:
(1) Hệ thống quản lý môi trường (Environmental Management System - EMS);
(2) Kiểm tra đánh giá môi trường (Environmental Auditing - EA);
(3) Đánh giá kết quả hoạt động môi trường (Environmental Performance
Evalution – EPE);
(4) Ghi nhãn môi trường (Environmental Labelling – EL);
(5) Đánh giá chu trình sống của sản phẩm (Life Cycle Asessment – LCA);
(6) Các khía cạnh môi trường trong tiêu chuẩn sản phẩm (Environmental
Aspect in Production Standard – EAPS).
Trong các tiêu chuẩn nêu trên, tiêu chuẩn ISO 14001 về hệ thống của Bộ tiêu
chuẩn ISO 14000 đối với các tổ chức, doanh nghiệp về vấn đề môi trường. Các tiêu
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status